Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

CHƯƠNG 28: NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN

Bức ngọc điêu được chọn lựa từ những điển cố, vận sự của các bậc tiên hiền thánh nhân thuở thượng cổ do nhiều vị cung đình họa sư chia nhau phác họa thành mẫu hình, sau đó giao lại cho Tượng Tác giám. Tại đây, các công tượng của giám cùng với gần một ngàn thợ thủ công được vời từ dân gian đã dốc sức điêu khắc chế tác. Chỉ riêng khâu điêu khắc thôi cũng đã tiêu tốn đến hai năm ròng, dù xuất phát từ ý nguyện biểu dương quốc uy, song cho dù chưa tính đến nhân lực và vật lực tiêu tốn trong quá trình vận chuyển khối cự thạch nặng vạn cân này từ cực Bắc về kinh thành, thì công trình này cũng ắt có thể được xem là hao tổn sức dân, tốn kém tiền của.

Thánh ý đã định, mọi bản tấu thỉnh can gián của Ngự sử và Ngôn quan đều bị giữ lại không phát. Đối với Thuần Hữu đế, một vị quân vương từ khi lên ngôi tới nay đã nổi tiếng là luôn biết lắng nghe lời can gián, thì việc độc đoán chuyên quyền này quả là hiếm thấy. May mắn thay, triều Tấn sau hơn hai trăm năm khai quốc, các đời quân chủ hầu hết đều đề cao tính cần kiệm, lại không gây nạn binh đao, nên quốc khố vẫn còn dư dả. Dù cho Thuần Hữu đế có muốn hồ đồ một phen thì xét đại cục cũng chẳng hề gì, vậy nên các thần tử vốn quen thẳng thắn can gián cũng đành nhắm mắt làm ngơ, tạm thời nhẫn nhịn mà thôi.

Bức ngọc điêu được định sẽ đặt tại Tẩm Viên ấy, vẫn còn chưa hoàn thành. Đêm Trung thu, dẫu màn đêm thăm thẳm, nhưng ánh sáng lạnh từ vầng trăng tròn vành vạnh trên trời cao vẫn rải rác chan hòa, bốn góc chậu hoa cây cảnh cũng được đèn đuốc rực rỡ dưới đất soi rọi sáng tỏ, lâu lâu lại có các nội thị và cung tì luân phiên đến thêm dầu thắp sáng. Như thế, bức ngọc điêu trắng sáng được đặt trên bệ đồng cũng hiện lên thật rõ nét. Cây cổ thụ cành lá xum xuê, thân già gân guốc, rồi vách núi cao vời, và cả ngôi nhà cỏ lụp xụp, cho đến những người dân thường áo vải đang lao động hăng say với dung mạo và y phục khác nhau, dẫu dài ngắn chỉ bằng tấc, thì tất cả cũng hiện lên rõ ràng và sánh rỡ như ban ngày, không hề thấy chút tù mù hỗn loạn hay dư thừa. Chim muông, thú vật, cùng thần sắc của các nhân vật trên bức ngọc điêu cũng được khắc họa tinh xảo và sinh động như thật. Quan sát tỉ mỉ cả bốn mặt, người ta mới hay bức ngọc điêu này đang nói về điển cố Đại Vũ trị thủy.

Những người vây quanh chiêm ngưỡng bức ngọc điêu không ngớt lời khen ngợi, trầm trồ tán thưởng. Đợi khi đã ấp ủ xong vần thơ và tìm được mỹ từ xứng đáng, họ liền bước đến án thư, vuốt râu trầm ngâm, cầm bút chấm mực. Cứ thế, bỗng chốc, họ lại lẩm nhẩm vài câu rồi kêu lên "Chưa hay, chưa hay!", rồi cau mày bỏ giấy, viết lại một tờ khác.

Viết xong, họ giao hết thi từ văn phú cho nội thị, đợi sau yến tiệc Hoàng đế sẽ đích thân ngự lãm, bình phẩm hơn kém, rồi ban thưởng với nhiều ít khác nhau.

Hành cung Tẩm Viên đã được xây dựng xong hơn nửa, chỉ còn vài chi tiết nhỏ cần phải hoàn thiện cẩn thận, việc thiết yến đãi tiệc cơ bản không hề có trở ngại gì.

Trên cao đài, Giáo Phường ty cùng Chung Cổ ty đang cùng nhau diễn một vở kịch 'đánh lúa'. Các vũ nữ và nội thị hóa trang thành nông phu, nông phụ và quan lại thu tô thuế, diễn tả cảnh khẩu chiến cãi vã khi thu hoạch mùa màng. Đây là truyền thống được tổ tiên khai triều truyền lại tới giờ, cốt để nhắc nhở các đời quân chủ phải luôn khắc ghi nỗi vất vả của bách tính trăm họ.

Yến tiệc kết thúc, Hoàng đế bãi giá hồi cung, quần thần cũng có chỗ ở tạm trong hành cung rộng lớn. Ngày mai là ngày Hưu Mộc, mọi người cũng không vội vã quay trở lại kinh thành.

Chẳng bao lâu sau, Đường Từ, người cũng dự yến này, đã được Hoàng đế triệu kiến.

Thuần Hữu đế ngồi trên ngự tháp nơi cao, khoác áo bào viên lĩnh màu vàng thêu hai con kim long tương phùng, chân đi giày nhung bó nẹp.

"Bài phú văn này là do khanh làm?" Hoàng đế vừa nói, Tổng quản ngự tiền Lý Thuận Đức liền bưng khay gỗ có tờ giấy đặt bên trên đến, dâng lên Đường Từ.

Đường Từ mở giấy xem sơ qua, đáp: "Đúng là do thần làm."

Hoàng đế gật đầu, truyền lệnh ban tọa.

Lát sau, vẻ mặt Hoàng đế lại hỏi, vẻ mặt âm u bất định: "Khanh dùng thư pháp Nhị Vương?"

Lý Thuận Đức đang dâng trà cho Đường Từ, nghe vậy, động tác khẽ khựng lại, suýt chút nữa run tay đổ trà.

Đường Từ mỉm nụ cười nhạt: "Kê Khang thích đàn, Đào Tiềm thích rượu, bất luận cầm sắt hay hương rượu thì cũng đều là vật ngoài thân, miễn sao vui thú có tiết chế thì tuyệt nhiên chẳng có ảnh hưởng gì tới đại nghiệp lưu danh sử sách hay đại nghĩa xả thân báo quốc, chẳng qua chỉ là cái thú tiêu khiển nơi nhân thế của kẻ phàm nhân mà thôi. Thuở nhỏ thần thích viết chữ thể Nhan, sau lại chuyên tâm luyện theo thể Liễu, gần đây lại có hứng thú với thư pháp Nhị Vương. Thời gian luyện tập không nhiều, xét nét hình xét thần thái đều chưa đạt, thần khiến Bệ hạ chê cười rồi."

Hoàng đế vuốt râu, trầm ngâm một lát, chỉ vào tờ giấy bên tay Đường Từ, giọng nói vang vang: "Thư pháp Nhị Vương cường kiện mạnh mẽ mà không mất đi sự bình hòa tự nhiên. Khanh còn trẻ, tâm tư khó tránh khỏi còn vội vàng lơ đãng, đôi chỗ nét bút còn thô cứng, lực mạnh nhẹ kiểm soát chưa thoả đáng, cần phải luyện tập thêm trong những ngày nhàn rỗi. " Hắn ngừng một chút, lại tiếp lời, "Dù vậy, bài văn này lập ý chắc chắn, nội hàm sâu sắc, từ ngữ tuy hoa mỹ nhưng vẫn giữ được sự thân cận, tự nhiên mà không gượng ép, quả là một tác phẩm hay."

Đường Từ gật đầu vâng dạ: "Thần xin ghi trong lòng, mỗi ngày nhất định sẽ dành thời gian luyện chữ. Tác phẩm thô thiển vụng về này của thần may mắn được Bệ hạ thưởng thức, nhưng thiết nghĩ, vẫn còn chênh một trời một vực so với chư vị Hồng nho đại thần uyên thâm ở trong triều."

Lý Thuận Đức đứng bên cạnh nghe mà thầm ngây ra liên tục, he hé mắt nhìn Đường Từ từ trên xuống dưới đến bốn năm lượt, thầm nhủ trong lòng: Ôi chao, người ta thường nói 'kẻ sĩ xa cách ba ngày đã phải nhìn nhau bằng con mắt khác', đây sao chỉ cách vài ngày mà cứ ngỡ như đã xa cách mấy chục xuân thu thế này? Người đang đứng trước mặt này có còn là Đường Từ lạnh lùng cao ngạo kia nữa chăng?

Hoàng đế đã uống không ít rượu trong yến tiệc, giờ đã có chút chếnh choáng, không đủ tỉnh táo để suy ngẫm hay phân tích sự thay đổi của Đường Từ, chỉ giơ tay ra hiệu cho Lý Thuận Đức đưa chiếc hộp gấm chạm khắc hoa văn trên án thư cho nàng mà thôi.

Ngập ngừng một lúc lâu, hắn mới hỏi, giọng khô khốc: "Túi hương ngày ấy trẫm dặn khanh đưa cho Tĩnh Từ ở chùa Bích Vân, khanh đã đưa chưa? Nàng có nói gì không? Nàng có thích không?"

Giọng nói của Hoàng đế mang theo sự thận trọng không phù hợp với thân phận cửu ngũ chí tôn, từng lời như bị một sức mạnh vô hình cưỡng ép lôi ra khỏi cổ họng, và cũng chính cái ngữ điệu ấy khiến cho Đường Từ thấy quặn lên trong lồng ngực, buồn nôn trong dạ dày.

Khóe môi nàng vẫn thoáng hiện ý cười như thường lệ: "Tĩnh Từ sư phụ đã nhận túi hương, ngày đêm đeo bên mình, rất lấy làm ưa thích. Những ngày đau đầu khó ngủ cũng đã vơi bớt nhiều, Bệ hạ."

"Tốt lắm, tốt lắm." Hoàng đế khẽ lẩm bẩm vài tiếng như trút được gánh nặng, đoạn, chỉ vào hộp gấm: "Bên trong ấy là bức tranh vẽ ngọc điêu quân thần mới cùng chiêm ngưỡng ở yến Trung thu, do họa sư phác thảo. Khanh về kinh rồi chọn một ngày thích hợp, hãy mang qua cho nàng xem."

Trong bức tranh, ngoài ngọc điêu, trăng tròn và sao thưa, công hầu khanh tướng, quan lại quyền quý, dĩ nhiên không thể thiếu được Thiên tử chí tôn vô thượng đang ngự ở trước mặt đây. Đường Từ nghĩ đến việc phải đích thân mang bức tranh này đến cho Tĩnh Từ, đã cảm thấy tức ngực khó thở ngay lập tức. Thế rồi, chợt nghĩ, trong tranh hẳn cũng không thể thiếu mình, dù đoán chừng mình chỉ bằng hạt đậu vàng không rõ mặt mũi, song có còn hơn không, vậy là liền cắn răng vâng dạ.

"Theo trẫm thấy, cứ để khanh ở Hàn Lâm viện mãi thì e là quá thiệt thòi." Hoàng đế nhìn Đường Từ, thấy nàng nghe những lời lẽ có ý vị rõ ràng này mà vẫn ngồi thẳng lưng, không biến sắc, mới gật đầu: "Vừa hay Đông cung Chiêm Sự phủ đang thiếu người, bổ nhiệm khanh làm Chiêm Sự thừa, được chứ?"

Đường Từ dứt khoát vén quan bào, phủ phục mà quỳ lạy: "Tạ ân điển Bệ hạ!"

Cũng ở lúc đó, Trương Cát, đệ tử của Phó quản sự Ngự tiền Trương Bảo, chạy nhanh vào điện, quỳ rạp xuống đất, dâng sách chép lên Hoàng đế, miệng cười toe toét: "Nghe nói gần đây Vạn tuế gia đêm đến ngủ không ngon, Nghi Dương điện hạ ngày đêm tâm tâm niệm niệm lo lắng nên tự tay chép mấy quyển kinh Phật thờ trong Phật đường. Vừa rồi còn sai người mang quyển kinh Phật này dâng lên Bệ hạ, nói là, đọc trước khi ngủ cũng có thể an thần ạ."

Hoàng đế nhận lấy sách chép, mở ra xem, ánh mắt tràn đầy sủng ái cưng chiều, cười lớn: "Đứa bé này, chữ viết đúng là tốt hơn trước nhiều rồi, quả nhiên đổi một thị giảng chính nó vừa lòng là cho kết quả khác hẳn." Hắn lại quay sang dặn Trương Cát: "Ngươi hãy đích thân đến chỗ con bé để dặn dò vài câu, bảo nhớ nghỉ ngơi cho sớm. Ngày xưa chạy ngược chạy xuôi, thực chất vốn dĩ thể trạng nó yếu đuối không khoẻ, đừng vì chép mấy quyển kinh Phật mà bỏ gốc lấy ngọn, tổn hại thân thể."

Trương Cát dạ vâng liên tục, cùng Đường Từ cáo lui, bước ra khỏi cửa.

"Chúc mừng Đường đại nhân! Hồi trước, bài từ chúc thọ ngài viết cho An Ninh Trưởng công chúa được Bệ hạ ngự lãm, xem xong là khen ngợi không ngớt đấy."

Trương Cát còn muốn nịnh hót vài câu, cốt là để mở đầu câu chuyện mình thường nói tốt cho Đường Từ trước mặt Hoàng đế, khoe công sao cho khéo léo không bị thô thiển và đường đột. Nào ngờ, chưa nói được mấy câu, mới rẽ qua một đoạn hành lang thì đã thấy một nữ tử dung nhan thanh lệ, mày ngài mắt phượng, đang đứng chờ ở khúc quanh, bờ vai khoác đầy ánh trăng bàng bạc, quanh thân tỏa sắc nước trong lành.

"Nhu Kha quận chúa." Trương Cát dừng bước, hành lễ với Nhu Kha.

Đường Từ cũng chắp tay vái chào, thần sắc lạnh lùng mang theo dấu vết của sự kính trọng nhưng xa cách.

Nhu Kha nhìn thẳng vào Đường Từ, cái nhìn trực diện đối diện với ánh mắt xa lạ và lãnh đạm như nhìn người dưng. Dẫu thế, Nhu Kha không hề lùi bước. Thậm chí, nàng còn tiến lên một bước, mỉm cười: "Phụ vương vốn yêu thi phú, hôm nay vì bạo bệnh nên phải ở nhà tịnh dưỡng nên mới bỏ lỡ dịp bình thi luận đạo trong vườn sáng, bàn chuyện thế thái dưới trăng khuya, càng nghĩ càng lấy làm nuối tiếc. Nghe nói Đường đại nhân bút pháp cao siêu, không biết liệu có thể đặc biệt chép lại một hai bài cho ta được chăng?Về tới nhà, phận làm con dù sao cũng có thể phần nào giải được nỗi khổ tâm tiếc nuối trong lòng đấng sinh thành."

Đường Từ không khẳng định cũng chẳng phủ định, trong lòng thực sự là muốn từ chối, nhưng lại ngại có Trương Cát ở đây nên không tiện cự tuyệt mà phải tội phạm thượng, song cũng thực không thể nào nói ra lời vui vẻ đồng ý. Nàng đành ghim chặt đôi mắt đen láy trầm trầm của mình vào Trương Cát, mong thái giám vốn giỏi nhìn mặt đoán ý này có thể tâm linh tương thông với mình, giải vây giúp mình.

Đồng thời, Nhu Kha cũng nhìn về phía Trương Cát. Đáng sợ thay cho hắn, đôi mắt vốn luôn dịu dàng và thanh nhu, giờ là lần đầu tiên toát ra băng sương uy áp, như một lời đe doạ đến những kẻ có ý định xen ngang can thiệp, ý tứ đã quá rõ ràng.

Trương Cát bị kẹp giữa hai người, không khỏi rùng mình một cái. Hắn cảm thấy mình sắp bị ánh mắt của hai người kia đâm cho thủng lỗ chỗ thành một cái sàng, mà lại là cái sàng chi chít những lỗ bé tẹo dùng để sàng gạo.

Hắn cúi đầu, khom lưng, liếc nhìn Đường Từ, rồi lại liếc nhìn Nhu Kha, sau khi cân nhắc trong lòng thân phận và địa vị của hai người, cuối cùng cười xoà chắp tay với Đường Từ: "Vừa nãy nô tài nói tới đâu ấy nhỉ? À, đúng rồi, Đường đại nhân thăng quan tiến chức không gì cản nổi! Từ chiếc ghế lạnh ở Hàn Lâm viện, một bước đã nhảy vọt lên Chiêm Sự phủ! Tuy xét phẩm giai thì chỉ lên nửa bậc, nhưng chức vụ ấy rốt cuộc là trực tiếp phò tá cho Thái tử điện hạ, biết bao người ở dưới đang ngưỡng mộ không thôi cơ chứ! Xem ra mắt xanh của Dự Vương gia cũng có đại nhân đấy ạ, tương lai ngài tất sẽ dệt gấm thêu hoa, rạng rỡ muôn dặm! Nhưng mà giờ nô tài vừa mới lĩnh thánh chỉ, phải đi truyền chỉ đến Nghi Dương điện hạ trước đã, nô tài xin phép lui trước."

Lời vừa nói xong thì Trương Cát cũng nhấc chân bước từng bước nhỏ mà nhanh chóng biến mất, chỉ để lại sau lưng ánh mắt ngùn ngụt hận thù của Đường Từ nhìn theo, trong lòng nàng cũng là mười phần oán hận!

Suốt một đường đi không ai nói với ai câu nào, hai người cùng rảo bước đi đến nơi nghỉ của Nhu Kha. Tất cả nội thị và cung nga đều đã được cho lui ra hết tự bao giờ, ngay cả Tiêu Thanh là thiếp thân thị nữ mà giờ đây cũng không thấy bóng dáng đâu.

Đóng cửa phòng lại, Nhu Kha bước đến bàn tròn, mở hộp bát giác men sứ xanh ra, tám phần bánh ngọt nom rất tinh xảo với màu sắc và hình dạng khác nhau được bày ra trước mắt. Nàng lại lấy ra một đôi đũa bạc và một chiếc đĩa nhỏ, rót một chén trà thanh: "Thức ăn Quang Lộc tự dâng lên trong yến tiệc tối nay món nào cũng ngấy mỡ và nhiều thịt. Từ nhỏ ngươi đã không ăn được nhiều thịt nhiều dầu, không ăn được nhưng lại tham ăn, hồi bé cũng đã không ít lần vì thế mà đau bụng. Lúc dự tiệc ta ngồi xa ngươi nên cũng không biết ngươi có ăn được không, đã ăn no chưa? Ta đành tự ý sai người mang một ít thức ăn đến, nếu khi nãy ngươi ăn không ngon miệng, bây giờ còn đói thì hãy nếm thử vài miếng đi. Còn nếu như không đói... vậy thì hãy ở lại đây bầu bạn với ta một lát, để ta có thể nhìn ngươi thêm vài lần, được không?"

Đợi lâu mà không thấy động tĩnh gì đáp lại mình, Nhu Kha quay người lại, đối diện với Đường Từ đang đứng sững tại chỗ như bị lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Nàng tiến lên một bước, lại gần với người kia, có đôi phần bất đắc dĩ, thốt lên đầy xúc động: "Vĩnh Gia..."

Đường Từ nghiêng mặt sang một bên, giọng trầm xuống: "Hôm đó thần đã nói với Quận chúa rồi, thần họ Đường, tên Từ, nhân sĩ Vân Châu, không phải 'Vĩnh Gia' trong lời của Quận chúa. Thần cũng không biết 'Vĩnh Gia' là nhân vật nào, là nam hay nữ, chẳng lẽ còn có khuôn mặt giống thần, giống đến mức đáng để Quận chúa phải trân trọng và săn sóc đến mức này hay sao."

Dưới ánh nến chập chờn, khóe mắt nàng lấp lánh long lanh, dẫu cho đẹp mà lại không thể phân rõ cảm xúc. Giọng nói ấy trầm thấp êm tai nhưng cũng chắc nịch, không còn lanh lảnh cao vút như khi còn nhỏ nữa. Mà khuôn mặt này, thì ra lớn lên lại trở nên xuất chúng như vậy, góc cạnh sắc sảo mà vẫn âm nhu ôn hoà, đã mất đi hết những cái lanh lợi đáng yêu của thuở thơ ấu rồi. Nếu không phải đang khoác trên mình bộ quan phục được cắt may vừa vặn cùng với chiếc mũ ô sa đội trên đầu này khiến cho ngũ quan và đầu mày của người thêm phần cương nghị và chí dương một chút - thì có lẽ nàng đã có thể nhận ra từ sớm rồi chăng?

"Được, ngươi nói ngươi không biết 'Vĩnh Gia' là ai, vậy thì ta sẽ nói cho ngươi biết." Cứ mỗi khi nói một câu Nhu Kha lại tiến lên một bước. Nàng nói, "Hiếu Tông hoàng đế và Ý Từ hoàng hậu hạ sinh đích trưởng nữ vào năm Khang Lạc thứ hai, trời sinh thông minh, sớm biết nói chuyện. Khi đầy tháng, Tiên đế định danh cho nàng là 'Hàm Nguyệt'. Khi tròn tuổi, Tiên đế ban phong hiệu cho nàng là 'Vĩnh Gia'. Dưới nàng còn có vài người đệ muội, song lại hữu duyên tương đắc, ý hợp tâm đầu nhất với duy nhất một người, là Nhu Kha quận chúa, đích trưởng nữ của Dự Vương, hai người từ bé đến lớn thường xuyên ngủ chung một giường. Bi kịch thay, năm Khang Lạc thứ Chín, Dự Vương vì tồn vong hưng thịnh của gia tộc nên đã nối giáo cho giặc, mở toang cổng thành, khiến quân phản loạn tràn thẳng vào nội cung mà không tốn binh đao, không đổ máu xương, sau đó còn phò trợ Tân đế đăng cơ. Nhu Kha nhu nhược vô năng, thuận theo Phụ vương, mấy tháng trời khư khư giữ mình, không bước chân ra khỏi phủ, nghiễm nhiên an hưởng thành quả. Cho đến năm sau đó mới xuất môn, khi bước chân ra khỏi phủ đệ thì bấy giờ mới hay nhân gian đã kinh qua một cuộc bể dâu, thương hải tang điền như cách biệt cả đời."

Khi bắt đầu nói, khoảng cách giữa hai người ước chừng là mười bước, mà không đợi Nhu Kha nói dứt lời thì chính nàng đã dồn Đường Từ vào góc tường, và gương mặt hai người giờ đây cách nhau chỉ còn khoảng một tờ giấy. Sự đau đớn và xót xa, giằng xé và giãy giụa, cả nỗi không đành và bất cam trong đôi mắt Đường Từ, sao Nhu Kha có thể không thấy? Nhưng dẫu Nhu Kha nàng có là một người đầy tự chủ với tính cách bình tĩnh và khả năng kìm chế đến đâu đi chăng nữa thì sau mười hai năm ròng mong mỏi, mười hai ròng chờ đợi, mười hai năm ròng nhẫn nhịn và mười hai năm ròng dằn vặt - giờ đây nàng đã hoàn toàn không còn cách nào có thể kìm hãm được sự tự trách và nỗi hối hận, cũng như không thể chế ngự được thương yêu và nhung nhớ đang ngày một bùng cháy dữ dội ở trong lòng.

Nhu Kha ôm chặt lấy Đường Từ, ôm siết người trong vòng tay, lần nữa cất lời đã là gần như nghẹn ngào: "A Nguyệt, tỷ tỷ xin lỗi. Chỉ hận không thể quay ngược thời gian, nếu như có thể, ta nhất định sẽ mãi ở bên ngươi, bất kể sống chết."

——— Hết chương 28 ———



200 năm trước khi cc phẩm Nhan Y ra đi, chúng ta có cc phẩm Nhu Kha. Một cc phẩm khác là Lục Ngộ, giọng văn của Lục Ngộ không bao gi có thể làm nhanh được. Viết cổ ngẫu không thiếu người viết hay nhưng viết cổ ngẫu mà dùng lối viết của cổ nhân để kể chuyện cổ nhân và ra khí khái cổ nhân thì Lục Ngộ chính là một ví dụ. 🙏

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com