Ly luan 1
CHƯG IV
NHÀ NƯỚC CHỦ NÔ VÀ NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
I. NHÀ NƯỚC CHỦ NÔ
Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đời
trên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ. Là hình thức tổ chức và thực
hiện quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô.
1. Bản chất của nhà nước chủ nô
Xem xét bản chất của nhà nước chủ nô phải xuất phát từ cơ sở kinh tế và cơ
sở xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ. Cơ sở kinh tế của nhà nước chủ nô là quan hệ
sản xuất chiếm hữu nô lệ. Quan hệ này dựa trên cơ sở của sự chiếm hữu tư nhân của
chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người lao động là nô lệ.
Cơ sở xã hội của xã hội chiếm hữu nô lệ do chính cơ sở kinh tế quy định. Vì
thế, kết cấu giai cấp của xã hội gồm có hai giai cấp chính là giai cấp chủ nô và giai
cấp nô lệ. Giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị mặc dù chỉ là thiểu số trong xã hội
nhưng nắm hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội và cả bản thân người lao động là nô
lệ. Giai cấp nô lệ mặc dù chiếm đại đa số trong xã hội nhưng do không có tư liệu sản
xuất trong tay và không làm chủ ngay cả chính bản thân mình nên họ hoàn toàn phụ
thuộc vào giai cấp chủ nô cả về thể xác và tinh thần. Nô lệ không được coi là người
mà chỉ là “công cụ biết nói” của chủ nô, chủ nô có toàn quyền đối với nô lệ với vai trò
là một chủ sở hữu đích thực, họ có thể bán nô lệ, cho, tặng nô lệ... nô lệ thực chất chỉ
là một thứ tài sản của chủ nô. Bên cạnh hai giai cấp chính là chủ nô và nô lệ, xã hội
chiếm hữu nô lệ còn những giai cấp và tầng lớp xã hội khác như: nông dân tư hữu,
những người thợ thủ công, những người buôn bán...Những người này về thân phận địa
vị của họ trong xã hội không thấp kém như nô lệ nhưng so với giai cấp chủ nô họ có
địa vị rất thấp và cũng chịu sự chi phối của giai cấp chủ nô.
Cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp xã hội đã quy định bản chất của nhà nước
chủ nô. Dưới góc độ bản chất giai cấp, nhà nước chủ nô là công cụ bạo lực để thực
hiện nền chuyên chính của giai cấp chủ nô, duy trì sự thống trị mọi mặt của giai cấp
chủ nô đối với nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội, duy trì tình trạng
bất bình đẳng giữa chủ nô với nô lệ với các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Nghiên cứu chế độ nô lệ trên thế giới, C.Mác và Ph. Ăngghen đã căn cứ vào
những đặc điểm cụ thể để phân biệt chế độ nô lệ cổ điển và chế độ nô lệ phương
đông cổ đại.
Chế độ nô lệ cổ điển (hay còn gọi là chế độ nô lệ Hy - La) được đặc trưng
bởi tính điển hình của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ. Trong loại hình xã hội
này nô lệ chiếm số lượng đông đảo trong xã hội và là lực lượng lao động chủ yếu của
xã hội, mà thực chất là cho chủ nô. Sự bóc lột của chủ nô đối với nô lệ là phổ biến và
điển hình.
Chế độ nô lệ phương Đông cổ đại hay còn gọi là chế độ nô lệ gia trưởng là
loại hình xã hội còn duy trì nhiều tàn dư của chế độ công xã thị tộc. Trong chế độ này,
nô lệ không phải là lực lượng lao động chính, sản xuất ra của cải, hàng hoá cho chủ
nô mà hầu hết làm công việc trong nhà. Lực lượng lao động chính của xã hội là các
thành viên công xã nông thôn (nông nô), về địa vị xã hội, họ tự do hơn so với nô lệ, tuy
nhiên họ vẫn chịu sự áp bức, bóc lột của chủ nô.
Tuy nhiên, bên cạnh tính giai cấp, trong một chừng mực nhất định nhà nước
chủ nô cũng có một vai trò xã hội nhất định, các nhà nước chủ nô ở các mức độ khác
nhau đã tiến hành những hoạt động mang tính xã hội như: hoạt động làm thuỷ lợi ở
các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương đông, xây dựng và bảo vệ các công trình công
cộng, hay hoạt động phát triển kinh tế, thương mại ở Hy lạp...
Các đặc trưng của mỗi loại hình chế độ chiếm hữu nô lệ trên được phản ánh
trong chức năng, bộ máy, hình thức của các nhà nước chủ nô tương ứng. Tuy có những
nét riêng biệt khác nhau, nhưng ở góc độ chung nhất các nhà nước chiếm hữu nô lệ
đều là công cụ chuyên chính của giai cấp chủ nô, bảo đảm sự thống trị của giai cấp
chủ nô, đồng thời nó còn là tổ chức để tự vệ, tổ chức các công trình công cộng.
2. Chức năng của nhà nước chủ nô
Bản chất của nhà nước chủ nô trước hết được thể hiện ở các chức năng đối
nội và đối ngoại cơ bản của nó.
Các chức năng đối nội cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a. Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản
xuất và nô lệ
Đây là một trong những chức năng đặc trưng, cơ bản nhất của nhà nước chủ
nô, thể hiện rõ nét bản chất giai cấp của nhà nước chủ nô. Nhà nước chủ nô bằng
pháp luật không chỉ quy định giai cấp chủ nô có toàn quyền sở hữu về tư liệu sản
xuất, mà đối với người nô lệ giai cấp chủ nô cũng toàn quyền sở hữu. Thông qua pháp
luật nhà nước chủ nô hợp pháp hoá quyền lực vô hạn của chủ nô đối với nô lệ, cho
pháp chủ nô công khai bóc lột, cưỡng bức lao động tàn nhẫn đối với nô lệ, đồng thời
quy định những biện pháp trừng trị nghiêm khắc đối với các hành vi xâm hại đến
quyền sở hữu của chủ nô.
b. Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các
tầng lớp nhân dân lao động khác
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, không chỉ giai cấp nô lệ chịu sự áp bức, bóc lột
tàn nhẫn của giai cấp chủ nô mà các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng chịu sự áp
bức và bóc lột không kém phần tàn bạo từ phía giai cấp chủ nô. Ở đâu có áp bức, ở đó
có đấu tranh, vì thế, lịch sử tồn tại và phát triển của nhà nước chủ nô gắn liền với các
cuộc khởi nghĩa liên tiếp của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Để bảo vệ
địa vị thống trị cùng với các đặc quyền, đặc lợi của giai cấp chủ nô, nhà nước chủ nô
đã ra sức đàn áp các cuộc khởi nghĩa bằng bạo lực quân sự. Đây cũng là một chức
năng được nhà nước chủ nô hết sức chú trọng.
c. Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng
Bên cạnh việc sử dụng bạo lực quân sự để đàn áp giai cấp nô lệ và các tầng
lớp nhân dân lao động khác, nhà nước chủ nô còn thực hiện sự nô dịch về mặt tư
tưởng đối với nô lệ và nhân dân lao động. Các nhà nước chủ nô đều sử dụng tôn giáo
như một công cụ hữu hiệu cho sự nô dịch về mặt tư tư tưởng. Bởi lẽ tôn giáo đã
giải thích được đặc quyền cũng như địa vị xã hội của giai cấp thống trị. Các hành vi xâm hại tới tôn giáo cũng được nhà nước chủ nghiêm khắc . nô thông qua pháp luật trừng phạt
Các chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a. Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
Đây là một trong những chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước chủ nô.
Điều kiện cho sự tồn tại của nhà nước chủ nô gắn liền với chế độ nô lệ, vì thế các
nhà nước chủ nô hết sức coi trọng hoạt động tiến hành chiến tranh xâm lược để mở
rộng lãnh thổ và tăng cường số nô lệ của quốc gia. Chế độ nô lệ càng phát triển thì
chiến tranh càng tàn khốc. Sau khi dành được thắng lợi các nhà nước chủ nô thường
tiến hành các hoạt động xây dựnh thành luỹ, bố trí quân đội ở các nước bại trận và thi
hành chính sách bóc lột hà khắc với nhân dân các nước thất bại. Lịch sử nhà nước chủ
nô đã có những đế quốc hùng mạnh nhờ việc thi hành chính sách mở rộng chiến tranh
xâm lược mà tiêu biểu là đế quốc La mã.
b. Chức năng phòng thủ chống xâm lược
Cùng với việc thực hiện hoạt động xâm lược, các nhà nước chủ nô cũng hết
sức coi trọng hoạt động phòng thủ chống xâm lược. Thực tế cho thấy rằng bất kỳ nhà
nước chủ nô nào cũng đứng trước nguy cơ bị nước khác xâm lược. Để thực hiện chức
năng này nhà nước chủ nô tiến hành các hoạt động như: tổ chức lực lượng quân đội,
xây dựng các thành luỹ, pháo đài, chuẩn bị cơ sở vật chất..., tiến hành hoạt động quân
sự khi cần thiết.
Ngoài các chức năng đã nêu ở trên, nhà nước chủ nô trong một chừng mực nhất
định, tuỳ vào thời điểm cụ thể đã tiến hành những cong việc chung bắt nguồn từ sự
tồn tại của xã hội như: xây dựng các công trình công cộng, đường sá, tổ chức đắp đê
chống lụt ..., hoặc các hoạt động bang giao hoà bình, tiến hành buôn bán với các nước
khác.
3. Bộ máy nhà nước chủ nô
Chủ thể tiến hành các chức năng của nhà nước chủ nô chính là bộ máy của nhà
nước chủ nô, vì thế bộ máy nhà nước chủ nô được xây dựng phù hợp cho việc thực
hiện các chức năng của nhà nước. Ở các nhà nước chủ nô khác nhau do hình thức
chính thể khác nhau, chức năng cụ thể của nhà nước cũng có những biểu hiện khác
nhau, do đó bộ máy nhà nước trong từng quốc gia chiếm hữu nô lệ cũng có những
điểm khác biệt. Tuy nhiên, việc thiết lập bộ máy nhà nước chủ nô tựu chung lại đều
để thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại cơ bản của nhà nước, duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của chủ nô, duy trì trật tự xã hội trên cơ sở của chế độ chiếm hữu nô lệ.
Ở giai đoạn đầu, bộ máy nhà nước chủ nô còn đơn giản và mang đậm dấu ấn
của của hệ thống cơ quan quản lý xã hội thị tộc - bộ lạc. Giữa các cơ quan chưa có sự
phân định rõ về chức năng.
Chuyển sang giai đoạn sau, cùng với sự phát triển đa dạng của các chức năng
nhà nước nên bộ máy nhà nước chủ nô càng trở nên cồng kềnh, quan liêu. Nhìn chung
bộ máy nhà nước chủ nô đều có các cơ quan: quân đội, cảnh sát, toà án phát triển.
Quân đội là lực lượng được các nhà nước chủ nô quan tâm xây dựng. Trong các
nhà nước quân đội chiếm lực lượng đông đảo. Trong nhiều quốc gia mọi người dân
đều có nghĩa vụ phải phục vụ quân đội (Nhà nước Spác). Quân đội làm nhiệm vụ chủ
yếu là chinh phạt và bảo vệ tổ quốc. Ở những quốc gia chưa có lực lượng cảnh sát
quân đội còn đảm nhận thêm nhiệm vụ bảo đảm trật tự xã hội, hỗ trợ toà án trong
việc điều tra.
Lực lượng cảnh sát là bộ phận được chú ý thứ hai trong nhà nước chủ nô.
Ngoài nhiệm vụ chủ yếu là gìn giữ trật tự xã hội, cảnh sát còn đảm nhận nhiệm vụ
hỗ trợ toà án trong việc điều tra, thậm chí cảnh sát còn đảm nhiệm chức năng xét xử
(ở La mã), hoặc bảo vệ các công trình công cộng, các công trình tôn giáo như : (bảo vệ
nhà thờ, các công trình thuỷ lợi ở các nhà nước phương Đông cổ đại).
Toà án cũng được hết sức chú trọng trong nhà nước chủ nô. Tuy nhiên cách tổ
chức toà án ở các nhà nước khác nhau là khác nhau. Ở các quốc gia Phương Đông,
qyền xét xử tối cao thuộc về người đứng đầu nhà nước (vua), quyền này có thể
được uỷ quyền lại cho một tổ chức phụ thuộc trực tiếp vào vua. Ở các quốc gia
Phương Tây cổ đại, hệ thống cơ quan xét xử đã được thiết lập để xét xử những công
việc khác nhau, đồng thời đảm nhiệm chức năng quản lý (Aten), hoặc có những cơ
quan thường trực đảm trách hoạt động xét xử với các thẩm phán được bầu trong một
khoảng thời gian nhất định (La Mã thời kỳ cộng hoà).
4. Hình thức nhà nước chủ nô
Mặc dù các nhà nước chủ nô đều có những chức năng cơ bản giống nhau,
nhưng do điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia là khác nhau nên trong nhà nước
chủ nô có nhiều hình thức chính thể khác nhau. Lịch sử phát triển của nhà nước chủ
nô gắn với các hình thức chính thể: quân chủ, cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc.
Chính thể quân chủ chuyên chế phổ biến trọng các nhà nước phương đông cổ
đại. Đặc trưng của hình thức này là quyền lực nhà nước tập trung toàn bộ vào trong
tay người đứng đầu nhà nước (hoàng đế, vua) với một bộ máy quân sự, quan liêu khá
phức tạp (Ai Cập, Babilon, Trung Quốc, Ấn Độ...). Người đứng đầu nhà nước có toàn
quyền quyết định vận mệnh quốc gia, cũng như vận mệnh của từng thành viên trong
quốc gia đó, chức vụ này được truyền lại theo nguyên tắc cha truyền con nối.
Chính thể cộng hoà dân chủ tồn tại ở nhà nước chủ nô Aten vào thế kỷ thứ V -
IV trước công nguyên. Ở Aten mọi nam công dân trưởng thành đều được tham gia Hội
nghị nhân dân. Hội nghị sẽ bầu ra các cơ quan nhà nước và các cá nhân thực thi quyền
lực nhà nước theo những nhiệm kỳ nhất định. Nô lệ, kiều dân, phụ nữ, nô lệ đã được
giải phóng không được tham gia bầu cử, thực chất của hình thức dân chủ này là dân
chủ chủ nô.
Chính thể cộng hoà quý tộc chủ nô tồn tại ở nhà nước Spác và La Mã. Quyền
lực nhà nước (chủ yếu quyền lập pháp) nằm trong tay một hội đồng mà thành viên
được bầu ra t]f
các quý tộc giàu có nhất và họ nắm giữ chức vụ suốt đời. Bên cạnh
đó có các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp cũng được hình thành
thông qua con đường bầu cử. Đại hội nhân dân vẫn tồn tại nhưng không chiếm vị trí
quan trọng. Đại hội nhân dân chỉ tiến hành bầu những người tham gia vào các chức vụ
trong bộ máy nhà nước, thông qua về mặt hình thức các dự luật do Hội đồng trưởng
lão đưa ra.
Về hình thức cấu trúc nhà nước, tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc
nhà nước đơn nhất.
Về chế độ chính trị, ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tài
chuyên chế. Ở các nước phương Tây, chế độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên
về bản chất đó chỉ là chế độ dân chủ chủ nô. Về cơ bả, nền dân chủ được thiết lập ở
những quốc gia này vẫn là chế độ quân phiệt, độc tài với đại đa số nhân dân lao động.
II. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
Nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở của sự sụp đổ của xã hội chiếm hữu nô
lệ, ở một số quốc gia nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước đầu tiên, ví dụ như Việt
Nam, Triều Tiên...
1. Bản chất của nhà nước phong kiến
Vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ, quan hệ sản xuất dựa trên lao
động của nô lệ bắt đầu kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, mâu
thuẫn giữa giai cấp nô lệ với giai cấp chủ nô ngày càng trở nên gay gắt. Các cuộc khởi
nghĩa của nô lệ đã liên tiếp nổ ra. Trong xã hội dần dần hình thành một bộ phận giai
cấp mới - giai cấp lệ nông. Chế độ lệ nông phát triển và hình thái kinh tế xã hội phong
kiến đã thay thế cho hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ.
Nhà nước phong kiến - kiểu nhà nước tương ứng với hình thái kinh tế xã hội
phong kiến - là kiểu nhà nước tiến bộ hơn so với nhà nước chiếm hữu nô lệ.
Nhà nước phong kiến được xây dựng trên cơ sở của phương thức sản xuất
phong kiến mà nền tảng là nền kinh tế dựa trên sở hữu của giai cấp địa chủ phong
kiến đối với ruộng đất cũng như một số tư liệu sản xuất khác, và sở hữu cá thể của
của nông dân trong sự lệ thuộc vào giai cấp địa chủ.
Ở những nhà nước phong kiến hình thành trên nền tảng công xã nông thôn thì
sở hữu đất đai có những đặc thù riêng. Bằng các chính sách phong kiến, đặc biệt là các
chính sách thuế ruộng các chính quyền phong kiến bắt đầu xác lập quyền sở hữu trên
danh nghĩa của nhà nước đối với ruộng đất của công xã, nhưng chấp nhận và tôn
trọng quyền sở hữu ruộng đất trên thực tế của công xã.
Xã hội phong kiến có kết cấu giai cấp khá phức tạp. Trong xã hội có hai giai
cấp chính là nông dân và địa chủ. Đặc trưng của chế độ phong kiến là kết cấu thứ bậc
trong giai cấp địa chủ. Ở các nước phong kiến phương Tây, các đẳng cấp như: công,
hầu, bá, tử, nam đều gắn với những đặc quyền, đặc lợi về sở hữu ruộng đất. Trong
hệ thống thứ bậc phong kiến, đứng ở vị trí cao nhất là vua, sau kế đến là các tước
hiệu quý tộc từ cao đến thấp, ví dụ như ở nước ta, tầng lớp thống trị có các “thổ hào”,
“hào trưởng”, “cự
tộc’, “lệnh tộc” - là tầng lớp giàu có và quyền thế ở
các địa
phương. Điều này được minh chứng qua câu nói của Trần Khánh Dư, một tướng soái
của nhà Trần: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt, lấy vịt nuôi chim ưng thì có gì là
lạ”1. Giai cấp nông dân sống trên các lãnh địa của phong kiến, lao động trên ruộng đất
của phong kiến, về địa vị xã hội họ được tự do hơn nô lệ, địa chủ không có quyền
giết nông dân, họ có kinh tế cá thể, có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất nhỏ và tư liệu sinh hoạt. Tuy nhiên, họ vẫn phải chịu cảnh bóc lột lao động nặng nề bởi chế độ sưu cao, thuế nặng dưới các hình thức thu tô của phong kiến .
Ngoài hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân, xã hội phong kiến còn có
những tầng lớp khác nhau: tăng lữ, thợ thủ công, thương nhân, nô tỳ.
Tầng lớp nô tỳ chủ yếu phục vụ trong gia đình, không có vị trí đáng kể trong
sản xuất.
Cơ sở kinh tế và kết cấu giai cấp phức tạp trong xã hội phong kiến đã quy định
bản chất của nhà nước phong kiến. Nhà nước phong kiến duy trì địa vị kinh tế của
giai cấp địa chủ phong kiến và thực hiện sự thống trị đối với toàn xã hội. Đó là “một
bộ máy để tập hợp và thu phục rất đông người, bắt họ phải tuân theo những luật pháp
và quy chế nhất định; về căn bản tất cả các luật pháp đó chung quy chỉ có một mục
đích duy nhất: duy trì quyền của chúa phong kiến với nông nô”1
2. Chức năng của nhà nước phong kiến
Bản chất của nhà nước phong kiến được quy định bởi các chức năng đối nội
và đối ngoại của nó
1 Lịch sử Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr. 226.
1 V.I. Lênin. Toàn tập. Tập 39. NXB Tiến bộ. Matxcơva, 1979. Tr87
Nhà nước phong kiến có các chức năng đối nội cơ bản sau:
a. Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột
của phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
Trong phương thức sản xuất phong kiến nông nghiệp là cơ sở tồn tại cho cả
xã hội vì thế ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng và là chủ yếu. Chính vì thế các
nhà nước phong kiến ra sức củng cố và bảo vệ sở hữu phong kiến về ruộng đất.
Bằng nhiều hình thức khác nhau, nhà nước phong kiến bảo vệ sự độc quyền chiếm
hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, phong kiến. Ở phương Tây, nhà nước quy định
chặt chẽ quyền sở hữu tư nhân của các lãnh chúa phong kiến về ruộng đất thông qua
chế độ đẳng cấp. Ở phương Đông, sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc về nhà nước,
nhưng thực chất quyền sở hữu ruộng đất nằm trong tay giai cấp phong kiến mà đứng
đầu là nhà vua.
Các nhà nước phong kiến đều sử dụng pháp luật để củng cố và bảo vệ quyền
sở hữu về ruộng đất của giai cấp phong kiến. Thông qua pháp luật, nhà nước phong
kiến trói chặt người nông dân vào ruộng đất của địa chủ, phong kiến. Nông dân ở các
nước đều phải chịu cảnh lao dịch nặng nề qua các hình thức tô thuế do giai cấp
phong kiến đặt ra (tô tiền, tô hiện vật, tô lao dịch).
b. Chức năng đàn áp sự chống đối của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao
động khác.
Do sự áp bức, bóc lột hà khắc của giai cấp địa chủ phong kiến đối với nông
dân và các tầng lớp nhân dân lao động, vì thế trong chế độ phong kiến thường xuyên
nổ ra các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động chống lại ách áp bức của
giai cấp phong kiến. Để duy trì địa vị thống trị của mình, nhà nước phong kiến đều
đàn áp dã man các cuộc khởi nghĩa của nông dân và nhân dân lao động bằng bạo lực
quân sự. Trong giai đoạn đầu của chế độ phong kiến ( giai đoạn nhà nước phong kiến
phân quyền cát cứ), các lãnh chúa có quân đội riêng thực hiện chức năng cảnh sát và
xét xử. Các lãnh chúa có quyền đánh đập, tra tấn nông dân trong lãnh địa của mình
trong trường hợp họ chống đối. Trong trường hợp cần thiết, nhà nước phong kiến và
các lãnh chúa cùng phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong việc đàn áp sự phản kháng của
nông dân.
Chuyển sang thời kỳ nhà nước phong kiến trung ương tập quyền bộ máy đàn
áp của nhà nước phong kiến càng trở nên phát triển, chức năng này càng được nhà
nước phong kiến thực hiện triệt để hơn, ví dụ các cuộc khởi nghĩa của nông dân như:
khởi nghĩa Xắc xông ở Pháp, khởi nghĩa Sơn Thành, Hoàng Sào ở Trung Quốc, khởi
nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu ở Việt Nam đều bị nhà nước phong kiến ở các nước đó
đàn áp dã man.
c. Chức năng đàn áp tư tưởng.
Cùng với việc thực hiện các hoạt động bạo lực vật chất để duy trì địa vị thống
trị của mình, nhà nước phong kiến còn đàn áp và nô dịch nông dân và nhân dân lao
động về mặt tư tưởng, áp đặt hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến cho toàn xã hội.
Các nhà nước phong kiến dù phương Đông hay phương Tây, nhìn chung đều sử dụng
hệ tư tưởng tôn giáo và tổ chức tôn giáo phục vụ cho mục đích nô dịch tư tưởng.
Ở châu Âu thời kỳ trung cổ, giáo hội và nững quy tắc của nó đã chi phối toàn
bộ đời sống chính trị, tinh thần của xã hội. Nhà nước phong kiến đã kết hợp với giáo
hội, lợi dụng tôn giáo sáp nhập quyền lực tôn giáo với quyền lực nhà nước để nô dịch
nhân dân lao động. Nhà nước phong kiến cho phép toà án giáo hội can thiệp vào cả
những lĩnh vực không thuộc phạm vi tôn giáo, sử dụng sức mạnh bạo lực để đàn áp,
bức hại những người có tư tưởng tiến bộ.
Ở phương Đông, các nước như Trung Quốc, Việt Nam ... có thời kỳ Phật giáo
được coi là quốc giáo. Ở những thời kỳ này tầng lớp tăng lữ được coi là tầng lớp trí
thức, được tham gia vào công việc chính trị, có những người nắm các trọng trách trong
bộ máy nhà nước, như nhà sư Từ Đạo Hạnh và sư Thảo Đường thời Lý.
Nhìn chung, nhà nước phong kiến đã kết hợp giữa thần quyền và thế quyền để
nô dịch nhân dân lao động về mặt tư tưởng, tuyên truyền và áp đặt cho nông dân và
các tầng lớp nhân dân lao động khác hệ tư tưởng duy tâm mang đậm màu sắc tôn giáo.
Ngoài ra, nhà nước phong kiến còn tiến hành những hoạt động công cộng
nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội như: ban hành chính sách quản lý đất đai,
chính sách tiền tệ, làm đường, làm thuỷ lợi... Tuy nhiên, hoạt động này chưa thường
xuyên và rộng khắp trong các nhà nước phong kiến mà chỉ xuất hiện ở từng quốc gia
cụ thể vào từng thời kỳ cụ thể.
Nhà nước phong kiến có các chức năng đối ngoại sau:
a. Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược.
Chiến tranh được nhà nước phong kiến sử dụng với tính chất là phương tiện
phổ biến để giải quyết các mâu thuẫn, mở rộng lãnh thổ, tăng cường phạm vi ảnh
hưởng của nhà nước mình ra bên ngoài. Trong thời kỳ cát cứ, mỗi lãnh chúa phong
kiến có quân đội riêng, có quyền tuyên chiến với các lãnh chúa phong kiến khác ở
trong và ngoài nước (trừ tuyên chiến với vua hoặc quốc vương của mình). Khi vua
hoặc quốc vương của mình tiến hành chiến tranh, lãnh chúa phong kiến có nghĩa vụ
phải mang quân đến chi viện.
Tới thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, chức năng này được các
nhà nước phong kiến tiến hành thường xuyên hơn nhằm phục vụ cho lợi ích quốc gia,
điều này dẫn đến tình trạng các nhà nước phong kiến thường xuyên ở trong tình trạng
chiến tranh.
b.Chức năng phòng thủ chống xâm lược.
Các nhà nước phong kiến dù lớn hay nhỏ đều luôn đứng trước nguy cơ bị các
nhà nước khác xâm lược. Vì thế, cùng với việc tiến hành chiến tranh xâm lược, các
nhà nước phong kiến đều thực hiện các công việc liên quan đến bảo vệ đất nước
như: xây dựng pháo đài, thành luỹ, xây dựng quân đội thường trực... để phòng thủ đất
nước.
Để bảo vệ quyền, lợi ích của quốc gia, nhà nước phong kiến còn thực hiện
nhiều hình thức và chính sách ngoại giao với các quốc gia láng giềng như chính sách
thương mại, đối ngoại hoà bình...
3. Bộ máy nhà nước phong kiến
So với bộ máy nhà nước chủ nô, bộ máy nhà nước phong kiến đã phát triển
hơn một bước, đặc biệt là ở giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền.
Trong giai đoạn nhà nước phong kiến phân quyền cát cứ, chính quyền trung
ương của nhà nước phong kiến yếu, quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa
phong kiến. Các lãnh chúa có quân đội riêng và toà án riêng, toàn quyền trong lãnh địa
của mình.
Tới giai đoạn nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, bộ máy nhà nước
phong kiến được tổ chức tương đối chặt chẽ từ trung ương xuống đến địa phương. Ở
trung ương, đứng đầu triều đình là vua (hoặc quốc vương), giúp việc cho vua có các
cơ quan với các chức vụ quan lại khác nhau giúp vua thực hiện sự cai trị. Ở địa
phương, cách tổ chức các cơ quan nhà nước còn đơn giản, hầu như chưa có sự phân
biệt giữa chức năng hành pháp và tư pháp, đội ngũ quan lại địa phương cũng do vua bổ
nhiệm.
Trong nhà nước phong kiến, các cơ quan: quân đội, cảnh sát, toà án vẫn là bộ
phận chủ đạo trong bộ máy nhà nước.
4. Hình thức nhà nước phong kiến
Hình thức chính thể phổ biến trong nhà nước phong kiến là quân chủ, lịch sử
tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến cho thấy sự tồn tại và phát triển của chính
thể quân chủ với những biểu hiện cụ thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trung
ương tập quyền, quân chủ đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến.
Trong hình thức nhà nước quân chủ phân quyền cát cứ thì quyền lực nhà nước
bị phân tán, vua hoặc quốc vương không có toàn quyền, chỉ là “đấng thiêng liêng”,
quyền lực thực sự nằm trong tay các lãnh chúa phong kiến.
Trong hình thức quân chủ đại diện đẳng cấp, quyền lực nhà nước trung ương
được tăng cường trên cơ sở của sự ủng hộ của các lãnh chúa phong kiến vừa và nhỏ,
cũng như tầng lớp cư dân thành thị. Ở hình thức này, bên cạnh vua hoặc quốc vương
còn có cơ quan đại diện đẳng cấp, ví dụ như: Nghị viện ở Anh, Hội nghị quốc dân ở
Nga, Hội nghị tam cấp ở Pháp. Cơ quan đại diện này có thẩm quyền hạn chế
trong lĩnh vực thuế và tài chính. Sự hiện diện của cơ quan này cũng làm hạn chế quyền lực
của nhà vua, vì thế khi quyền lực của vua được tăng cường mạnh lên thì vua thường
không tham dự hội nghị của cơ quan đại diện đẳng cấp nữa và tìm cách loại bỏ nó.
Chính thể quân chủ trung ương tập quyền có đặc điểm là quyền lực nhà nước
tập trung vào tay vua hoặc quốc vương. Vua nắm toàn quyền nhưng trong hoạt động
điều hành vua dựa vào triều đình và bộ máy quan lại giúp việc từ trung ương xuống
đến địa phương. Toàn bộ bộ máy nhà nước từ trung ương xuống đến địa phương tạo
thành một thể thống nhất.
Hình thức cộng hoà phong kiến tồn tại ở 1 số tp châu âu (Phơlôrenxơ của Italia, Nốpgôrớt và Psơcốp của Nga...) sau khi giành được sự tự quản
bằng các con đường khác nhau như: bỏ tiền ra mua sự tự trị từ nhà nước phong kiến,
đấu tranh vũ trang...Quyền lực ở các thành phố đó tập trung trong tay giới quý tộc
thành thị tập hợp trong Hội đồng thành phố được lập trên nguyên tắc bầu ra, chịu trách
nhiệm điều hành các công việc và quan hệ của thành phố. Chính ở các thành phố này
đã sớm hình thành các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Ở các nước châu Âu , tồn tại cả 4 hình thức chính thể trên. Ở các nước
phương Đông như Việt Nam. Trung Quốc chỉ tồn tại hình thức chính thể quân chủ
phân quyền cát cứ và quân chủ trung ương tập quyền. Đặc biệt ở Việt Nam, dưới sự
tác động của nhu cầu trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm, nhà nước trung ương tập
quyền đã hình thành rất sớm.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com