Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

ly luan 7

CHƯƠNG XIV 

BN CHẤT, VAI TRÒ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA 

PHÁP LUT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 

I. BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Sau khi giành thắng lợi cách mạng, giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự

lãnh đạo của Đảng cộng sản đã nhanh chóng xây dựng nhà nước của mình. Cùng với

việc xây dựng nhà nước, giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhanh chóng xây

dựng hệ thống pháp luật của giai cấp mình để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong

điều kiện mới, ổn định trật tự xã hội, xây dựng xã hội mới.

Xét ở góc độ chung, cũng như các kiểu pháp luật khác, pháp luật xã hội chủ

nghĩa vừa mang tính giai cấp vừa thể hiện tính xã hội. Tuy nhiên, do những điều kiện,

kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, hệ tư tưởng trong chủ nghĩa xã hội nên pháp luật xã

hội chủ nghĩa có những đặc thù riêng, điều này làm cho bản chất của pháp luật xã hội

chủ nghĩa khác hẳn với bản chất của các kiểu pháp luật trước đó.

Bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở những đặc điểm cơ

bản sau:

1.Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội

tại cao. Pháp luật là một hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc

thừa nhận. Nói đến pháp luật là nói đến tính hệ thống. Tính hệ thống của pháp luật

nói lên sự đa dạng của các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận

để điều chỉnh các quan hệ xã hội tương ứng trên các lĩnh vực xã hội. Tuy nhiên, pháp

luật là một hệ thống bao gồm nhiều quy phạm pháp luật khác nhau, nhưng các quy

phạm pháp luật đều thống nhất với nhau, bởi vì các quy phạm pháp luật này đều có

chung một bản chất.

Tính chất này của pháp luật xã hội chủ nghĩa cao hơn bất kỳ một kiểu pháp

luật nào khác, bởi lẽ pháp luật xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở các quan hệ

pháp luật - kinh tế xã hội chủ nghĩa mang tính thống nhất cao. Chính điều này quyết

định tính thống nhất và xu hướng phát triển của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2. Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông

đảo nhân dân lao động. Đây là nét khác biệt căn bản giữa pháp luật xã hội chủ nghĩa

với các kiểu pháp luật trước đó. Nếu các kiểu pháp luật trước đó đều có chung bản

chất là thể hiện ý chí của thiểu số giai cấp bóc lột trong xã hội, là công cụ bảo vệ lợi

ích của thiểu số ấy, thì trái lại pháp luật xã hội chủ nghĩa lại thể hiện ý chí của tuyệt

đại đa số dân cư trong xã hội, đó là ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa “là pháp luật thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do,

dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”1  .

3.Pháp luật xã hội chủ nghĩa do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo

đảm thực hiện.

Cũng giống như các kiểu pháp luật khác, pháp luật xã hội chủ nghĩa do nhà

nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện, vì vậy pháp luật xã hội chủ

nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, được bảo đảm thực hiện

bằng sức mạnh cưỡng chế của quyền lực nhà nước. Đặc điểm này phản ánh tính đặc

thù của pháp luật, pháp luật bao giờ cũng thể hiện ý chí của nhà nước, hình thành

bằng con đường nhà nước. Mọi quy tắc xử sự nếu không phải do nhà nước ban hành

1  Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, NXB Pháp lý, Hà nội 1985, tr 18.

hoặc thừa nhận thì đó không phải là pháp luật. Trong xã hội để điều chỉnh các quan hệ

xã hội có nhiều loại quy phạm xã hội, nhưng chiếm ưu thế nhất trong số các loại quy

phạm xã hội là pháp luật. Vì pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nên nó

có phạm vi tác động rộng nhất, tới tất cả mọi người trong xã hội. Pháp luật được nhà

nước bảo đảm thực hiện, vì vậy đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tuỳ theo mức

độ vi phạm nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để pháp luật

được thực thi nghiêm minh.

4. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội

chủ nghĩa. Trong mối quan hệ này, chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp

luật. Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Mọi sự thay đổi lớn hay nhỏ của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa  đều dẫn đến sự

thay đổi tương ứng của pháp luật. Mặt khác, pháp luật với những thuộc tính của mình

sẽ có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Sự tác động này được thể hiện: nếu pháp luật xã hội chủ nghĩa  phù hợp với chế độ

kinh tế xã hội chủ nghĩa, phản ánh đúng các điều kiện tồn tại của chế độ kinh tế xã

hội chủ nghĩa nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ

nghĩa, ngược lại nếu pháp luật phản ánh không đúng các quan hệ kinh tế đang tồn tại

của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa nó sẽ kìm hãm sự phát triển của chế độ kinh tế

xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc xác định đúng tính chất, đặc điểm, trình độ phát triển

của nền kinh tế, dự báo đúng hướng phát triển của các quan hệ kinh tế để xây dựng

một hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp là vấn đề có ý nghĩa quan trọng.

5. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương

chính sách của đảng cộng sản.

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản giữ vai trò lãnh đạo đối với nhà

nước và xã hội. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo đảng sử dụng phương pháp chủ

yếu là đề ra đường lối, chủ trương, chính sách chỉ đạo cho phương hướng xây dựng

pháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo việc tổ chức thực hiện và áp dụng

pháp luật. Pháp luật luôn phản ánh đường lối, chính sách của đảng, là sự thể chế hoá

đường lối, chính sách của đảng thành các quy định chung thống nhất trên quy mô toàn

xã hội. Mặt khác, thông qua pháp luật đảng kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn hợp lý

trong đường lối, chủ trương, chính sách mà đảng  đã ban hành, từ đó rút kinh nghiệm,

sửa đổi, bổ sung ban hành kịp thời những chủ trương, chính sách phù hợp bới thực tế

xã hội.

6. Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội

khác trong chủ nghĩa xã hội.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm thể hện bản chất như đã nêu ở

trên, luôn có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác như quy phạm đạo đức,

tập quán, quy tắc xử sự của các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng... Trong thực

tiễn có nhiều quy phạm pháp luật có nội dung là quy phạm đạo đức, tập quán, những

phong tục, truyền thống tốt đẹp của xã hội được phản ánh vào trong pháp luật, ảnh

hưởng nhất định tới việc xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật. Để phát huy vai trò

của pháp luật thì cần thiết phải xem xét mối quan hệ giữa pháp luật với các quy phạm

xã hội khác, phát huy tính tích cực của các quy phạm xã hội và loại bỏ dần những quy

phạm xã hội tiêu cực, có nội dung trái với bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ những phân tích trên có thể đi đến một định nghĩa về pháp luật xã hội chủ

nghĩa: Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của

giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản do nhà nước xã hội chủ

nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là

nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

II. VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trong đời sống xã hội, pháp luật xã hội chủ nghĩa giữ vai trò rất quan trọng,

xét dưới góc độ chung nhất, pháp luật là phương tiện để thể chế hoá đường lối, chính

sách của đảng, đảm bảo cho sự lãnh đạo của đảng được thực hiện trên quy mô toàn

xã hội; là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt xã hội; là phương tiện để nhân

dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hiện quyền và nghĩa vu.

Pháp luật là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, nó luôn tác động và ảnh

hưởng mạnh mẽ tới các quan hệ xã hội nói chung cũng như các yếu tố thuộc thượng

tầng chính trị pháp lý nói riêng. Tuy nhiên, tuỳ từng lĩnh vực quan hệ xã hội cụ thể quy

định mức độ và phạm vi điều chỉnh của pháp luật.

Những điểm nói trên mới chỉ phản ánh vai trò của pháp luật ở bình diện chung,

để thấy rõ vai trò của pháp luật cần phải xem xét ở góc độ cụ thể gắn với chức năng

của nhà nước xã hội chủ nghĩa và nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã

hội. Trong mối quan hệ này có thể nhận thấy vai trò của pháp luật xã hội chủ nghĩa

thể hiện trên những mặt sau:

1. Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước xã hội chủ

nghĩa.

Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận, để bộ

máy hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách

nhiệm của mỗi loại cơ quan, xác lập mối quan hệ đúng đắn và hợp lý giữa các cơ

quan; phải có phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành

một cơ chế đồng bộ thực hiện quyền lực nhà nước. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật.

Thực tiễn của Việt Nam cho thấy khi chưa có một hệ thống các quy phạm

pháp luật đầy đủ, đồng bộ, phù hợp, chính xác làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn

thiện bộ máy nhà nước, điều này dễ dẫn đến tình trạng bộ máy nhà nước trùng lặp,

chồng chéo, cồng kềnh và kém hiệu lực. Nhận định điều này Nghị quyết đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ 8 và Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá 8 nhấn mạnh: ”ưu tiên xây dựng các luật về ...điều chỉnh công cuộc cải

cách bộ máy nhà nước ”.

2. Pháp luật bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả chức năng tổ chức và

quản lý kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội.

Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa là chức

năng kinh tế. Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế có phạm vi rộng và phức tạp bao

gồm nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà nhà nước cần phải xác lập và giải quyết

như: hoạch định các chính sách kinh tế, xác định chỉ tiêu kế hoạch, quy định chế độ tài

chính giá cả ... Toàn bộ quá trình tổ chức và quản lý từ hoạch định chính sách, đề ra kế

hoạch cho tới tổ chức thực hiện trên thực tế, kiểm tra, giám sát, tổng kết và đánh giá

kết quả... đều đòi hỏi sự hoạt động tích cực của nhà nước để tạo ra một cơ chế đồng

bộ, thúc đẩy quá trình phát triển đúng hướng của nền kinh tế và mang lại hiệu quả

cao. Do chức năng tổ chức và quản lý kinh tế có tính chất phức tạp và phạm vi rộng,

nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế cụ thể mà chỉ thực

hiện việc quản lý hành chính- kinh tế. Quá trình này chỉ được thực hiện trên cơ sở

pháp luật.

Thực tiễn Việt Nam trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế những năm qua

đã khẳng định vai trò của pháp luật trong lĩnh vực này. Tình trạng thiếu hệ thống quy

phạm pháp luật kinh tế đồng bộ, phản ánh các quy luật khách quan của nền kinh tế thị

trường đã làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước, kìm hãm sự phát triển của nền

kinh tế. Nhận định vai trò của pháp luật đối với chức năng quản lý kinh tế của nhà

nước Đảng ta đã chỉ rõ: “hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế... hình thành khuôn

khổ pháp lý đồng bộ cần thiết cho các hoạt động kinh tế”1.

3. Pháp luật bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền

lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội.

Dân chủ là thuộc tính của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Việc tăng cường hiệu

lực và phát huy vai trò của nhà nước trong quản lý mọi mặtcủa đời sống xã hội luôn

gắn liền với quá trình thực hiện và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy

quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằg xã hội. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, việc

thiết lập và thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện trước hết ở sự

củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Để củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị cần thiết phải xác định rõ cơ cấu

tổ chức, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi thiết chế trong hệ thống chính trị;

xác định đúng đắn mối quan hệ qua lại của tất cả các bộ phận của toàn hệ thống, từ

đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển đồng bộ của hệ thống chính trị. Pháp luật

xã hội chủ nghĩa với bản chất dân chủ, thể hiện ý chí và những lợi ích cơ bản của tất

cả các tầng lớp nhân dân lao động sẽ tạo điều kiện để phát huy dân chủ, củng cố và

hoàn thiện hệ thống chính trị.

Những năm vừa qua Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương mở rộng và thực

hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên do chưa có hệ thống pháp luật đồng bộ để tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nên việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị còn có những hạn chế nhất định, vì

vậy Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8, đặc biệt là Nghị quyết Ban chấp

hành Trung ương Đảng lần 3 (khoá 8) đã nhấn mạnh: “mở rộng dân chủ phải đi đôi

với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ; dân chủ

phải được thể chế hoá thành pháp luật, dân chủ trong khuôn khổ pháp luật; khắc phục

tình trạng vô kỷ luật, dân chủ cực đoan” 1.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện trong việc xác lập và điều chỉnh mối

quan hệ giữa nhà nước và công dân. Những quyền tự do dân chủ của công dân phải

được quy định cụ thể trong pháp luật. Nhà nước phải bảo đảm cho công dân thực hiện

các  quyền  đó  trong  khuôn  khổ

luật  định.  Đồng  thời  pháp  luật  cũng  phải  quy  định

những nghĩa vụ tương ứng mà công dân phải thực hiện để bảo đảm trật tự kỷ cương

xã hội.

4. Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Pháp luật xã hội chủ nghĩa với những đặc thù riêng có của mình là phương tiện

quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Điều này được

thể hiện: bên cạnh hệ thống quy phạm pháp luật được đặt ra để điều chỉnh quan hệ

1  Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 8, tr 100-101

1  Nghị quyết hội nghị lần 3, Ban chấp hành TƯ Đảng khoá 8, NXB Chính trị Quốc gía, Hà nội 1997, Tr43

xã hội, hướng các hành vi xử sự của chủ thể, thiết lập nên một trật tự pháp luật, pháp

luật còn chứa đựng các quy phạm pháp luật cấm mọi hành vi gây mất ổn định chính trị

và trật tự an toàn xã hội, xâm hại tới lợi ích của xã hội, của nhà nước, của tập thể và

của công dân. Những biện pháp cưỡng chế mà pháp luật đặt ra để áp dụng đối với

những trường hợp có vi phạm pháp luật thể hiện sức mạnh của quyền lực nhà nước,

quyền lực nhân dân một cách công khai, Vì vậy, trong lĩnh vực này pháp luật là công

cụ sắc bén nhất thể hiện sức mạnh của nhà nước trong việc giữ vững an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội.

5. Pháp luật có vai trò giáo dục mạnh mẽ.

Pháp luật là công cụ, phương tiện quan trọng để giáo dục mọi đối tượng trong

xã hội. Những quy phạm pháp luật được đặt ra luôn xác định rõ quyền và nghĩa vụ

của các chủ thể, là khuôn mẫu cho hành vi xử sự của mỗi chủ thể khi gặp những tình

huống đã dự kiến.

Sự tồn tại của hệ thống quy phạm pháp luật tự bản thân nó đã có ý nghĩa giáo

dục, nó tác động tới sự nhận thức và tư tưởng của mỗi thành viên trong xã hội, giáo

dục ý thức cho mọi người thói quen sống và làm việc theo pháp luật.

6. Pháp luật xã hội chủ nghĩa góp phần tạo dựng những quan hệ mới.

Bên cạnh chức năng phản ánh, mô hình hoá các nhu cầu khách quan của xã hội,

pháp luật xã hội chủ nghĩa còn có khả năng “định hướng” cho sự phát triển của các

quan hệ xã hội, góp phần tạo dựng những quan hệ mới.

Mặc dù quan hệ xã hội luôn luôn vận động và phát triển, tuy nhiên sự vận

động của các quan hệ xã hội tuân theo một quy luật nhất định mà con người có thể

nhận thức được. Dựa trên những kết quả và dự báo khoa học, người ta có thể dự kiến

được những thay đổi của các quan hệ xã hội điển hình cần tới sự điều chỉnh bằng

pháp luật, từ đó pháp luật được đặt ra để tạo cơ sở cho việc xác lập những quan hệ

mới, đồng thời thiết kế những mô hình tổ chức tương ứng, chủ động và kịp thời tác

động, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển của xã hội.

7. Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ hợp

tác và phát triển.

Sự hợp tác quốc tế chỉ có thể phát triển trong môi trường chính trị, kinh tế, xã

hội ổn định và có đủ độ tin cậy lẫn nhau. Pháp luật là phương tiện quan trọng trong

việc tạo lập môi trường ổn định đó. Bởi vì, nhờ những thuộc tính riêng của mình, pháp

luật có khả năng thiết lập một trật tự mà ở đó mọi chủ thể khi tham gia vào các quan

hệ phải tôn trọng những cam kết và phải chịu trách nhiệm về những hậu quả xảy ra.

III.  HỆ

NGHĨA

NGUYÊN  TẮC  CƠ

BẢN  CỦA  PHÁP  LUẬT  XÃ  HỘI  CHỦ

1. Khái niệm chung

Nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng chủ đạo, cơ

bản, cấu thành một bộ phận quan trọng nhất của pháp luật, phản ánh quy luật và cấu

trúc của hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa và liên hệ mật thiết với bản chất pháp luật

xã hội chủ nghĩa.

Các nguyên tắc của pháp luật xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng trong việc

chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ cơ chế điều chỉnh pháp luật: xác lập quy phạm pháp

luật, xuất hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của

chủ thể pháp luật và quá trình áp dụng pháp luật. Đồng thời pháp luật xã hội chủ

nghĩa còn có ý nghĩa như là tiêu chuẩn cơ bản nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, xác

định tính hợp pháp và hợp lý trong cách xử sự của các chủ thể pháp luật, tác động

mạnh mẽ tới ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, văn hoá pháp lý và trật tự pháp luật xã

hội chủ nghĩa.

Theo cách phân loại chung có thể chia nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa

thành hai loại chính: Các nguyên tắc chung mang tính chính trị- xã hội của pháp luật và

các nguyên tắc pháp lý đặc thù. Các nguyên tắc chung của pháp luật luôn phản ánh

một cách trực tiếp chế độ xã hội hiện hữu, các nguyên tắc pháp lý đặc thù thể hiện rõ

bản chất và các đặc trưng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

2. Hệ nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa

a.   Các nguyên tắc chung

*Nhóm các nguyên tắc kinh tế cơ bản bao gồm:

- Xác lập, củng cố và bảo vệ quan hệ sản xuật xã hội chủ nghĩa, không ngừng

nâng cao đời sống của nhân dân lao động.

- Xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm cho cơ chế quản lý kinh tế hoạt

động có hiệu quả, giải phóng sức lao động và mọi nguồn lực, tăng năng suất lao động.

- Tự do lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi công dân.

- Bảo đảm lợi ích của người lao động trên cơ sở điều hoà lợi ích của cá nhân

với lợi ích của tập thể và lưọi ích quốc gia.

- Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và áp dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật,

bảo đảm sự điều tiết có kế hoạch của nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, bảo đảm

chế độ hạch toán, kiểm tra, thanh tra, giám sát, chống tham ô, lãng phí và các hiện

tượng tiêu cực khác trong lĩnh vực kinh tế.

*Nhóm các nguyên tắc chính trị cơ bản bao gồm:

- Nguyên tắc bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.

- Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

lao động.

- Nguyên tắc bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Xác lập, củng cố và không ngừng mở rộng các quyền tự do, chính trị, quyền

bình đẳng của các dân tộc và công dân.

- Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa pháp luật với đường lối, chính sách

của Đảng.

*Nhóm các nguyên tắc xã hội cơ bản bao gồm:

- Nguyên tắc bảo đảm về mặt pháp lý, tạo ra điều kiện thuận lợi cho sự phát

triển toàn diện của mỗi công dân.

- Nguyên tắc bảo đảm công bằng xã hội.

- Nguyên tắc bảo đảm an toàn xã hội cho công dân, tôn trọng quyền con người,

tôn trọng những giá trị nhân phẩm, đạo đức của mỗi con người.

- Nguyên tắc bảo đảm những điều kiện để không nhừng nâng cao trình độ

nhận thức, trình đội văn hoá và giáo dục của nhân dân.

*Nhóm nguyên tắc đạo đức bao gồm:

- Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa.

- Tôn trọng tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng.

- Bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ, giữa nhà nước, xã

hội và công dân.

- Giáo dục ý thức tôn trọng và bảo vệ những thành quả của dân tộc, của chủ

ngiã  xã  hội  đã  đạt  được,  ý  thức  trách  nhiệm  đối  với  nhà  nước  và  xã  hộicủa  mỗi

người, xây dựng và hoàn thiện đạo đức của con người ttong chủ nghĩa xã hội.

*Nhóm nguyên tắc tư tưởng - văn hoá bao gồm

- Tôn trọng những di sản văn hoá- tư tưởng của dân tộc và thời đại.

- Thể hiện rõ trong pháp luật và chỉ đạo thực hiện trong thực tế những quan

điểm về chủ nghĩa xã hội.

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.

- Chống mọi quan điểm cực đoan, giáo điều, xa rời thực tiễn, những quan điểm

sai trái chống chủ nghĩa xã hội.

b. Các nguyên tắc pháp lý cơ bản đặc thù

- Nguyên tắc phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân trong

pháp luật.

- Bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, phù hợp của hệ thống pháp luật, phát huy

cao độ hiệu lực của hệ thống pháp luật.

- Nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Trên đây là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên

điều đó chưa phải đã là đầy đủ. Cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, hệ thống

các nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa sẽ phát triển thêm đa dạng và

phong phú, đặc biệt là các nguyên tắc pháp lý cơ bản đặc thù. Vì vậy, khi xem xét hệ

thống các nguyên tắc cơ bản của pháp luật chúng ta cần phải xem xét nó trong mối

quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, có như vậy mới có thể tiếp cận các nguyên tắc đó

một cách hợp lý và khoa học.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: