Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

ly luan end

BÀI THẢO LUẬN.. 2

A, Các dạng văn bản pháp luật khiếm khuyết. 2

I. Các loại văn bản pháp luật không đáp ứng những yêu cầu về  chính trị. 2

1. Văn bản pháp luật không phù hợp hoặc không kịp thời tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. 2

2. Các văn bản pháp luật không phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 2

II- Các văn bản pháp luật vi phạm pháp luật. 3

1. Các văn bản quản pháp luật trái thẩm quyền. 3

2. Văn bản pháp luật có  nội dung trái pháp luật. 4

3. Các văn bản pháp luật vi phạm các quy định về thủ tục. 5

III. Các văn bản pháp luật có nội dung không hợp lý. 5

1. Văn bản pháp luật được ban hành không kịp thời, không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn. 5

2. Văn bản pháp luật có tác dụng vượt xa (cao hơn) so với thực trạng đời sống xã hội. 6

3. Văn bản pháp luật có quy định quá lạc hậu ( thấp hơn) so với thực trạng đời sống xã hội 6

4.  Văn bản pháp luật có các quy định trái với quy  luật vận động và phát triển của đời sống xã hội. 6

IV. Các văn bản pháp luật không đáp ứng được yêu cầu về kĩ thuật soạn thảo. 7

1. Các văn bản pháp luật có chủ đề không hợp lý. 7

2. Văn bản pháp luật có nội dung không đầy đủ so với đòi hỏi thực tiễn nên không đủ để hoàn thiện chủ đề văn bản. 7

3. Văn bản pháp luật có nội dung không đồng bộ, tản mát, chồng chéo hoặc mâu thuẫn nhau  8

4. Văn bản quản lý hành chính nhà nước được trình bày bằng ngôn ngữ không chuẩn mực  9

5.  Văn bản có hình thức không phù hợp với tính chất chủ đề của văn bản hoặc không khoa học, thiếu tính mĩ quan. 10

B, Hướng xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết 10

I, Nguyên tắc xử lý văn bản pháp luật. 10

II, Thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật. 11

III, Thủ tục xử lý văn bản pháp luật. 11

IV, Hướng xử lý văn bản pháp luật 12

2. Bãi bỏ văn bản pháp luật 12

3. Thay thế văn bản pháp luật 13

4.Đình chỉ , tạm đình chỉ thi hành văn bản pháp luật. 14

5.Sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật. 14

BÀI THẢO LUẬN

MÔN LÝ  LUẬN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

ĐỀ TÀI : TÌM HIỂU VỀ CÁCH XỬ LÝ CÁC VĂN BẢN  PHÁP LUẬT KHIẾM KHUYẾT 

A, Các dạng văn bản pháp luật khiếm khuyết.

 I. Các loại văn bản pháp luật không đáp ứng những yêu cầu về  chính trị.

 1. Văn bản pháp luật không phù hợp hoặc không kịp thời tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.

Nhà  nước sử dụng văn bản pháp luật pháp luật như một công cụ cơ bản để thể  chế hóa đường lối, chủ trương của  Đảng thành pháp luật, để tổ chức thực hiện các  đường lối, chủ trương đó trên thực tiễn.

             Vì  vậy nếu một văn bản pháp luật có nội dung trái với đường lối, chủ trương của Đảng thì xuất phát từ bản chất giai cấp của Nhà nước có thể đánh giá văn bản đó không đáp ứng được nhiệm vụ chính trị của Nhà nước.

             Trong trường hợp nói trên văn bản pháp luật còn có thể rơi vào tình trạng nội dung trái pháp luật.

Thực trạng hiện nay:

Đối với văn bản pháp luật: Trong một vài trường hợp vẫn còn tồn tại một số văn bản pháp luật nội dung không phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, đặc biệt là văn bản do cơ quan địa phương ban hành.

Đối với cơ quan có thẩm quyền ban hành: Các cơ quan Nhà nước chậm trễ trong việc ban hành văn bản pháp luật nên nhiều nghị quyết của Đảng…chậm được thi hành. Tình trạng này đã đến mức cảnh báo, phản ánh sự trì trệ trong hoạt động, thể hiện việc không hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của cơ quan nhà nước, là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm hiệu lực quản lý nhà nước, ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của Đảng trong xã hội.

 2. Các văn bản pháp luật không phù hợp với nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Thực trang hiện nay: hiện nay vẫn đang còn tồn tại một số  văn bản có nội dung không phù hợp với tâm tư, nguyên vọng của nhân dân nên khồn được nhân dân đồng tình ủng hộ, thậm chí còn là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh những vụ khiếu, kiện kéo dài và đông người tham gia.

            Nguyên nhân: các quy định về cơ chế tham gia, kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với các hoạt động của bộ máy nhà nước nói chưa cụ thể và thiếu tính khả thi nên chưa tạo cơ chế hữu hiệu để nhân dân giám sát các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện pháp luật; chưa thực sự thuận lợi để nhân dân phản ánh những tâm tư, nguyện vọng của mình đối với Nhà nước.

             Biện pháp khắc phục: ban hành quy định về việc trưng cầu  ý dân khi Nhà nước thực hiện những biện pháp liên quan tới quốc kế dân sinh.

II- Các văn bản pháp luật vi phạm pháp luật.

1. Các văn bản quản pháp luật trái thẩm quyền.

 Để xác định đầy đủ nhóm văn bản này, cần xem xét thẩm quyền ban hành văn  bản quản lý hành chính nhà nước trên hai phương diện: Thẩm quyền về nội dung và thẩm quyền về hình thức.

 Định nghĩa: Văn bản pháp luật trái thẩm quyền về nội dung là văn bản mà chủ thể ban hành để giải quyết công việc không thuộc phạm vi thẩm quyền của mình (pháp luật không quy định chủ thể đó có thẩm quyền giải quyết)

Nhận diện: 

Văn bản  pháp luật được coi là trái thẩm quyền về nội dung trong hai trường hợp sau đây:

Một  là, văn bản hoàn toàn trái thẩm quyền. Đó là khi chủ thể ban hành văn bản để giải quyết loại việc mà theo pháp luật thì chủ thể đó hoàn toàn không có thẩm quyền giải quyết.

            Ví  dụ: Ủy ban nhân dân xã ra quyết định thu hồi đất; Trưởng công an xã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Hai là, văn bản có sự vượt quyền, lạm quyền, khi chủ thể ra văn bản giải quyết loại việc mà chủ thể đó có quyền giải quyết nhưng có sự vượt quá giới hạn (về phạm vi, mức độ,…) do pháp luật quy định.

            Ví  dụ: Chủ tịch ủy ban nhân dân xã ra quyết  định phạt với mức tiền lớn hơn 2.000.000 đồng, chiến sĩ công an nhân dân ra quyết định phạt với mức tiền lớn hơn 200.000 đồng hoặc thu tang vật vi phạm hành chính bị tạm thu.

         Văn bản pháp luật trái thẩm quyền về hình thức là văn bản có thể  loại không đúng với quy định của pháp luật bao gồm:

Thứ nhất, văn bản được ban hành với thể loại không do pháp luật quy định, như: Thông tri của ủy ban nhân dân.

Thứ hai, văn bản có tên gọi do pháp luật quy định nhưng không thuộc thẩm quyền của cơ quan ban hành, như: Nghị quyết của ủy ban nhân dân.

Thứ ba, văn bản có tên gọi thuộc thẩm quyền của cơ quan ban hành nhưng tên gọi đó không đúng tên gọi của pháp luật về thể loại văn bản được sử dụng để giải quyết công việc phát sinh.

            Ví  dụ: Bộ trưởng ban hành quyết định để  đặt ra quy phạm pháp luật. Quyết định đó bị coi là trái thẩm quyền về hình thức vì theo điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thì loại văn bản cần ban hành là thông tư.

2. Văn bản pháp luật có  nội dung trái pháp luật.

            Định nghĩa: là văn bản có nội dung được chủ thể ban hành đặt ra trái với pháp luật hiện hành.

            Sự  bất hợp pháp của các văn bản chủ đạo và văn bản quy phạm pháp luật thể hiện trong việc văn bản đó đặt ra các chính sách pháp luật hoặc quy phạm pháp luật trái với các quy định trong văn bản của chủ thể có thẩm quyền cao hơn ban hành.

            Để xác định sự bất hợp pháp của văn bản chủ đạo và văn bản quy phạm pháp luật người ta đối chiếu chúng với văn bản chủ đạo và văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên quy định về cùng một vấn đề.

            Ví  dụ: Đế xác định tính bất hợp pháp của quyết định do ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hanh quy định về xây dựng ở địa phương, cần đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng Bộ xây dựng hoặc với văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ quy định về xây dựng.

            Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt có thể  đối chiếu văn bản quy phạm pháp luật của cấp dưới với văn bản áp dụng pháp luật của cấp trên.

            Ví  dụ: Hội đồng nhân dân xã ra Nghị quyết cấm các loại ô tô đi trên một số đoạn  đường trong xã. Về vấn đề các cơ quan huyện và tỉnh đều không có quy định nên không có văn bản quy phạm pháp luật để đối chiếu. Nếu Nghi quyết trên đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện ra quyết định tạm đình chỉ thi hành thì sẽ bị tạm ngưng hiệu lực. Trong thời gian đó, Ủy ban nhân dân xã lại ra quyết định để quy định chi tiết thi hành Nghị quyết nói trên thì quyết định đó bị coi là trái với nội dung quyết định tạm đình chỉ của Ủy ban nhân dân huyện (quyết định tạm đình chỉ là văn bản áp dụng pháp luật)

             Sự  bất hợp pháp của văn bản áp dụng pháp luật và  văn bản điều hành thể hiện trong việc văn bản  đó chứa đựng các mệnh lệnh trái với các quy phạm pháp luật hiện hành.

             Vi du: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính có nội dung là phạt tiền đối với người có hành vi xây dựng trái phép khi hành vi đó được thực hiện đã qua hai năm hoặc đối với người dưới 14 tuổi đều là những quyết định áp dụng pháp luật có nội dung trái pháp luật.

            Như  vậy để xác định sự bất hợp pháp của văn bản áp dụng pháp luật và văn bản điều hành thì không thể đối chiếu nó với văn bản quy phạm pháp luật khác mà chỉ có thể  đối chiếu nó với văn bản quy phạm pháp luật quy định về công việc phát sinh mà văn  bản đó đựợc ban hành để giải quyết. Khi đó, nếu xét về chủ thể ban hành thì văn bản quy phạm pháp luật được dùng để đối chiếu có thể đựợc ban hành bởi cơ quan cấp trên, cấp dưới hay chính cơ quan đó.

            Ví  dụ: Quyết định nâng lương hoặc bổ nhiệm một chức vụ nhà nước do Chủ tịch nước ban hành phải có nội dung phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thi hành của chính phủ.

             Sự  bất hợp pháp của văn bản hành chính thể hiện trong việc văn bản đó có chứa đựng các quy tắc chung mang tính pháp lý trái với quy phạm pháp luật hiện hành hoặc những mệnh lệnh cá biệt trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật và của văn bản áp dụng pháp luật.

3. Các văn bản pháp luật vi phạm các quy định về thủ tục.

            Văn bản pháp luật vi phạm các quy định về thủ tục luôn nằm trong diện xử lý  và điển hình là hai nhóm sau:

Thứ nhất, các văn bản pháp luật vi phạm thủ tục mà chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ trong quá trình xử lý cồn việc phát sinh.

            Loại thủ  tục này rất đa dạng, nhưng đếu quy định về  những việc cần tiến hành theo một quy định nhất  định, tạo tiền đề cho việc ra văn bản. Nếu không tuân thủ những thủ tục đó trong quá  trình giải quyết công việc phát sinh thì văn bản quản lý hành chính nhà nước không được chấp nhận.

             Ví  dụ: Khi xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt trên 100.000 đồng nhưng người có thẩm quyền xử  phạt không lập biên bản vi phạm hành chính hoặc khi ra quyết định kỷ luật công chức vi phạm nội quy cơ quan nhưng không tiến hành họp Hội đồng kỷ luật trước khi ra quyết định.

Thứ hai, các văn bản hành chính vi phạm thủ tục quản  lý văn bản, như: Văn bản không số hoặc không dấu hay không có chữ ký….

             Loại thủ  tục này cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều việc khác nhau, như: chữ ký, xác nhận bằng dấu của cơ quan, vào sổ ghi số văn bản, phê chuẩn văn bản, …nhằm đảm bảo cho việc quản lý văn bản được chặt chẽ, tránh sự tùy tiện hoặc những sai phạm khác có thể xảy ra.

             Do đó, vi phạm những thủ tục này văn bản cũng không được chấp nhận.

III. Các văn bản pháp luật có nội dung không hợp lý

1. Văn bản pháp luật được ban hành không kịp thời, không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn.

            Sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản để giải quyết các vấn đề phát sinh, có thể dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, để các quan hệ xã hội mới phát sinh vận động tự do theo cơ chế riêng của nó và có thể theo chiều hướng Nhà nước không mong muốn. Trong quá trình phát triển tự phát, có thể các quan hệ xã hội sẽ gây ra những hậu quả nặng nề cho đời sống xã hội. Sau một thời gian hình thành tự phát theo những khuynh hướng khác nhau, muốn lập trật tự cho chúng vấn đề trở nên khó hơn rất nhiều. Bên cạnh đó, chính trong thời gian chưa có văn bản của nhà nước để điều chỉnh có thể xảy ra các tình trạng Nhà nước không điều chỉnh được một số quan hệ xã hội do thiếu quy định pháp luật.

            Ví dụ: khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu càu việc làm của người lao động đã thúc đẩy việc hình thành những nơi người lao động tự do đã tập trung chờ việc ở một số địa điểm nhất định, tự phát nên các “chợ lao động” ở đô thị. Do cấp thẩm quyền không kịp thời có văn bản pháp luật để đặt ra quy định về việc quản lý đối với người lao động tự do tại các đô thị nên đã dẫn tới tình trạnh các cấp chính quyền không thể quản lý với tình trạng này, vừa ảnh hưởng đến trật tự xã hội vừa không có cơ chế hữu hiệu bảo vệ người lao động tự do.

2. Văn bản pháp luật có tác dụng vượt xa (cao hơn) so với thực trạng đời sống xã hội.

Dù các quy định có cao hơn so với yếu tố vật chất hay yếu tố ý thức xã hội thì cũng luôn đẩy các bên có liên quan vào tình trạng không thể thực hiện được các quy định có trong thực tiễn vì thiếu các điều kiện cần thiết về nhân lực, vật lực, thời gian…

Ví dụ: việc quy định môn thi bắt buộc trong tuyển dụng công chức nhà nước ở nhiều địa phương là ngoại ngữ. trong khi đó thực tế ở nhiều địa phương, trình độ ngoại ngữ người dự tuyển rất yếu, và nhu cầu sử dụng ngoại ngữ trong công việc là rất thấp. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, các quy định vượt trước này có tác dụng “ dẫn lối thực tiễn”, buộc học sinh, sinh viên phải quan tâm đúng mức đến việc học ngoại ngữ trong bối cảnh mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế như hiện nay.

3. Văn bản pháp luật có quy định quá lạc hậu ( thấp hơn) so với thực trạng đời sống xã hội

Khác với trường hợp trên, khi có các quy định thấp hơn so với yếu tố vật chất hay yếu tố ý thức xã hội thì các bên hữu quan có đủ điều kiện cần thiết để thực hiện thực tế nhưng thông thường các quy định đó vẫn khó trở thành hiện thực, đó là các bên hữu quan nhận thức rõ sự bất hợp lý của các quy định này và cố ý không thực hiện.

        Ví dụ: quy định về mức phạt 5.000 đồng với người vi phạm hành chính là quá thấp so với thời giá hiện nay. Do đó không có tác dụng răn đe với người vi phạm và làm cho người có thẩm quyền sử phạt có ý thức bỏ qua lỗi vi phạm đó. Kết quả là các quy định đó không được áp dụng trong thực tiễn.

4.  Văn bản pháp luật có các quy định trái với quy  luật vận động và phát triển của đời sống xã hội.

Mỗi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội( kinh tế, văn hóa, chính trị tư tưởng…) đều có những quy luật vận động riêng, như: nền kinh tế thị trường có quy luật hàng hóa, quy luật cạnh tranh…

             Nếu tác động trái với các quy luật thì có thể thúc đẩy xã hội phát triển theo khuynh hướng khác, có thể mang lại những kết quả khác mà nhà quản lý không mong muốn.

            Trong văn bản quản lý hành chính nhà nước có những quy định trái với những quy luật vận động và phát triển của đời sống xã hội thì khi được thực hiện trên thực tiễn sẽ gây ra hậu quả rất nặng nề.

        Ví dụ: cấm thông thương hàng hóa là trái với quy luật cung cầu, sẽ tạo nên tình trạng nơi thừa nơi thiếu hàng hóa, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Khi áp thuế cao đối mặt hàng nhập khẩu, không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong nước mà còn dẫn đến tình trạng trốn thuế, buôn lậu, gây thiệt hại cho Nhà nước.

        Trong trường hợp những quy định văn bản quản lý hành chính nhà nước có quy định trái với quy luật xã hội với mức độ rõ nét mà những người liên quan có thể dễ dàng nhận biết được thì những bên liên quan có thể cố ý không thực hiện.

IV. Các văn bản pháp luật không đáp ứng được yêu cầu về kĩ thuật soạn thảo

1. Các văn bản pháp luật có chủ đề không hợp lý.

Thực trạng: hiện nay, trên đa số lĩnh vực quản lý nhà nước, các văn bản vẫn còn bang trong tình trạng có chủ đề không hợp lý, mà thường là quá hẹp. do đó, nếu là văn bản quy phạm pháp luật thì tạo nên sự tản mát, vụn vặt chắp vá của pháp luật; nếu là văn bản áp dụng pháp luật và những văn bản quản lý hành chính nhà nước thì dẫn tới tình trạng cơ quan có thẩm quyền không giải quyết dứt điểm hoặc ra nhiều văn bản kế tiếp nhau để giải quyết các công việc phát sinh.

Giải pháp: khi đánh giá về sự hợp lý của chủ đề văn bản cần chú ý đến toàn bộ  những yếu tố khách quan và chủ quan trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động ban hành văn bản như: Sự đầy đủ và hệ thống của văn bản hiện hành; tính cấp bách của việc ban hành văn bản; chi phí tài chính về việc áp dụng những thành tựu khoa học – công nghệ vào công tác ban hành văn bản; điều kiện vật chất xã hội có liên quan đến thực hiện văn bản; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước.

Ví dụ: Các quy định về sử phạt vi phạm hành chính hiện nay có phạm vi rất hẹp nên hệ thống nghị định về vấn đề này có khá nhiều văn bản trong đó có nội dung trùng lặp, mâu thuẫn nhau trở nên khá phổ biến. hoặc trong chỉ thị vê một công tác cụ thể như phòng chống dịch bệnh, bảo lụt, v.v thường không xác định đầy đủ của mọi nhiệm vụ của cấp dưới nên sau khi thực hiện một thời gian, phải tiếp tục ra thêm văn bản khác để giao thêm nhiệm ụ cho cấp dưới thì mới giải quyết dứt điểm công việc phát sinh.

2. Văn bản pháp luật có nội dung không đầy đủ so với đòi hỏi thực tiễn nên không đủ để hoàn thiện chủ đề văn bản.

Sự không đầy đủ trong nội dung văn bản pháp luật thể hiện trong sự không có liên kết nội tại, phối hợp với nhau và bổ sung cho nhau giữa các văn bản trong cùng một hệ thống. mỗi văn bản thường có chủ đề xác định trong nội dung khá hẹp, cùng với những chủ đề khác tạo hợp thành chủ đề lớn hơn mà các văn bản pháp luật cần điều chỉnh.

Khi nội dung trong cùng một văn bản pháp luật không đủ để hoàn thiện chủ đề của văn bản; khi chủ đề gần gũi với nhau của tất cả những văn bản pháp luật không đủ để hoàn thiện chủ đề lớn hơn nữa thì khi đó chúng rơi vào tình trạng không đầy đủ.

Ví dụ: trong Nghị định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo, có quy định việc người tố cáo được bảo vệ nhằm tránh họ bị trả thù nhưng không có cơ chế bảo vệ người tố cáo, như: Cử cảnh sát để bảo vệ họ khi bị đe dọa về tính mạng, chuyển sang chỗ làm việc, nơi cư trú khác, v.v. nên trên thực tế công dân không dám tố cáo do sợ bị trả thù, trong một số trường hợp, sau khi tố cáo đã bị trả thù do không được Nhà nước bảo vệ. Trong trường hợp này, chủ đề của Nhị định chưa được hoàn thiện vì thiếu quy định về những nội dung nói trên.

3. Văn bản pháp luật có nội dung không đồng bộ, tản mát, chồng chéo hoặc mâu thuẫn nhau

            Sự thiếu đồng bộ của văn bản pháp luật thể hiện dưới dạng quy định trong cùng một văn bản hoặc trong những văn bản pháp luật khác nhau không có sự ăn khớp, phối hợp chặt chẽ, thiếu sự liên quan lẫn nhau giũa nội dung trong văn bản và giữa các văn bản trong cả hệ thống văn bản.

Ví dụ: Sau khi Chính phủ có Nghị định về quản lý nhà nước trong một lĩnh vữ cụ thể nhưng các Bộ liên quan không kịp thời có thông tư để hướng dẫn việc thực hiện nên không thể triển khai thi hành những quy định trong Nghị định. Hoặc giữa nghị định về quản lý đất đai với nghị định quy định về đầu tuwcos quy định không thống nhất với nhau về cho nhà đầu tư thuê đất.

            Sự tản mát, vụn vặt, chắp vá của hệ thống văn bản pháp luật thể hiện dưới dạng các quy định về cùng một vấn đề, một nội dung không được tập trung ở một văn bản hoặc một đơn vị cấu thành văn bản trong nhiều dơn vị khác nhau của một văn bản.

            Ví dụ: Để hướng dẫn thi hành một nghị định của chính phủ, thông thường, mỗi Bộ có liên quan có một thông tư độc lập để hướng dẫn thi hành một nội dung nhất định của nghị định, do đó, những quy định hướng dẫn thi hành nghị định nằm rải rác ở nhiều thông tư khác nhau. Hoặc: cùng để chỉ đạo cấp dưới về những công việc cụ thể phát sinh trong quản lý nhà nước, cấp trên ban hành nhiều chỉ thị khác nhau, nhiệm vụ cấp dưới được giao rải rác trong nhiều chỉ thị khác nhau, và để có thể đạt được mục tiêu quản lý, cấp dưới phải cùng lúc thực hiện nhiều văn bản khác nhau.

           Sự chồng chéo trong các quy định thể hiện dưới dạng nhiều văn bản quản lý hành chính nhà nước khác nhau hoặ nhiều đơn vị cấu thành khác nhau của một văn bản pháp luật cùng quy định như nhau về cùng một nội dung, một vấn đề phát sinh trong quản lý nhà nước.

             Ví dụ: Nhiều quy định trong luật ( các quy định chung, nguyên tắc..) được lặp lại trong các quy định cụ thể hóa luật đó, nên trong nghị định này, tồn tại nhiều quy luật có nội dung tương tự chồng chéo nhau.

Trong hệ thống văn bản pháp luật , sự thiếu đồng bộ, tản mát, chồng chéo hoặc mâu thuẫn nhau thường xuất hiện khi cấp dưới ban hành văn bản để quy định chi tiết, hướng dẫn hay chỉ đạo thi hành văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan cấp trên ban hành.

            Ví dụ: Khi Bộ trưởng ra thông tư để hướng dẫn thi hành nghị định của Chính phủ; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định để quy định những biện pháp tổ chức thực hiện Văn bản của bộ trưởng.

            Trong các văn bản quản lý hành chính nhà nước được ban hành để tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện pháp luật hoặc để trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức thực hiện thiếu đồng bộ, tản mát, chồng chéo hoặc mâu thuẫn nhau cũng thường xuyên xảy ra.

            Ví dụ: trong quyết định phê chuẩn kế hoạch sửa chữa , cải tạo nâng cấp một đoạn đường giao thông, chỉ có quy định về một số việc liên quan với phần bề mặt của đoạn đường mà không đề cập vấn đề sửa chữa những hạng mục công trình ngầm được đặt dưới đoạn đường đó. Vì vậy thường xuyên có tình trạng “ đào lên, lấp xuống” liên tục ở hầu hết các địa phương

             Do đó, khi đánh giá từng văn bản riêng rẽ thì cần so sánh phần các nội dung của văn bản với nhau; đánh giá cả hệ thống văn bản pháp luật thì cần so sánh nội dung của các văn bản hiện hành với nhau để xác định ddiemr chồng chéo, mâu thuẫn hoặc các “lỗ hổng” chưa có quy địn định; những quy định tản mát, vụn vặt thiếu tính tập trung; thiếu cụ thể trong nội dung của các văn bản. nhằm có giải pháp thích ứng tạo tiền đề cho việc tăng cường hiệu lực của các văn bản pháp luật.

4. Văn bản quản lý hành chính nhà nước được trình bày bằng ngôn ngữ không chuẩn mực

              Các văn bản pháp luật có khiếm khuyết về ngôn ngữ là văn bản có các từ, ngữ không đáp ứng được yêu cầu cơ bản về nghiêm túc, chính xác, thống nhất, phổ biến của ngôn ngữ.

             Sự khiếm khuyết về ngôn ngữ trong văn bản quản lý hành chính nhà nước còn thể hiện dưới dạng các ngữ, câu, đoạn trong văn bản có trật tự không hợp lý nên khả năng biểu đạt không hợp lý nên khả năng biểu đạt bị hạn chế, nội dung văn bản lủng củng, tối nghĩa, có thể tạo ra nhứng cách hiểu không đúng với ý chí của chủ thể ban hành.

            Ví dụ: Sử dụng tiếng lóng (“bến cóc”, “ xe dù”…) , tiếng địa phương( “nón bảo hiểm”), từ ngữ có ý nghĩa miệt thị (“y”, “thị”…) thóa mạ đối tượng liên quan, sử dụng văn vần văn tả cảnh…

            Cách đánh số( liên kết bên ngoài) trong nhiều nghị quyết, thông tư không khoa học, dẫn tới khó khăn trong việc viện dẫn khi thực hiện văn bản.

5.  Văn bản có hình thức không phù hợp với tính chất chủ đề của văn bản hoặc không khoa học, thiếu tính mĩ quan.

              Nhiều văn bản pháp luật có kĩ thuật soạn thảo thấp thể hiện trong việc lựa chọn loại văn bản không phù hợp với thẩm quyên của cơ quan ban hành hoặc với vai trò của văn bản trong từng trường hợp cụ thể.

              Ví dụ: Bộ trưởng không ban hành thông tư mà ra công văn để hướng dẫn thi hành nghị định của chính phủ; Ủy ban nhân dân không ra quyết định mà ra công văn để giải quyết khiếu nại của công dân.

            Nhiều văn bản pháp luật thiếu một số đề mục cần thiết, hoặc nội dung các đề mục được trình bày theo khuôn mẫu cứng nhắc, nên không khai thác được giá trị cung cấp thông tin hoặc làm mất mĩ quan cần thiết cho văn bản.

            Ví dụ: văn bản có phần trích yếu nên không tiện lợi cho việc vào sổ, viện dẫn tra cứu văn bản.

B, Hướng xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết

I, Nguyên tắc xử lý văn bản pháp luật.

            Nguyên tắc xử lý văn bản pháp luật là những tư tưởng mang tính chỉ đạo, định hướng đối với quá trình xử lý văn bản pháp luật. Trên cơ sở phối hợp lý luận khoa học pháp lý với những quy định của pháp luật hiện hành, có thể xây dựng nên các nguyên tắc cơ bản về văn bản pháp luật.

            Thứ nhất, việc xử lý văn bản pháp luật phải xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội.

            Mục đích của việc ban hành các văn bản pháp luật là để hoạt động pháp luật hiệu quả hơn. Do đó, nếu trong văn bản pháp luật đã ban hành có những khiêm khuyết thì nhất định những khiếm khuyết đó phải được khắc phục xử lý. Tuy nhiên, do sự đa dạng, phức tạp của những khiếm khuyết trong văn bản pháp luật nên việc phát hiện và khắc phục không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Để có được hiệu quả cao, việc xử lý các văn bản pháp luật phải xuất phát từ chính nhu cầu xã hội mà không thể chủ quan duy ý chí. Điều đó xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa văn bản pháp luật với đời sống xã hội. Trong mối quan hệ này, đời sống xã hội có vai trò quyết định tới nhu cầu ban hành, việc hình thành nội dung của văn bản, đồng thời là nơi kiểm định đúng đắn của các quy định, mệnh lệnh trong văn bản. Nếu văn bản pháp luật có những khiếm khuyết ẩn, khó nhận biết và trong nhiều trường hợp có sự thống nhất trong việc nhận định, đánh giá các quy định không khả thi, kém hiệu quả,vv… thì những khiếm khuyết đó sẽ bộc lộ rõ nét trong quá trình tổ chức thực hiện văn bản trên thực tế. Chính những người có lien quan tới văn bản pháp luật sẽ có ý kiến phản hồi tới các cơ quan có thẩm quyền để đòi hỏi tiến hành sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

            Thứ hai, việc xử lý văn bản pháp luật có mục đích là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền lợi của Nhà nước và xã hội , quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.

             Ví dụ : Thông tư số 99\ 1998\TT-BBC, ngày 14-7-1998 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 30\1998\NĐ-CP của chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp là văn bản bị dư luận xã hội không đồng tình vì một phần nội dung không hợp lý nên ngay sau khi ban hành đã bị đình chỉ thực hiện.

            Thứ ba, việc xử lý văn bản pháp luật phải đúng pháp luật.

Trước hết, hoạt động xử lý văn bản pháp luật phải được tiến hành bởi chủ thể có thẩm quyền do nhà nước quy định.Việc xử lý này cần tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định, và phải được thể hiện bằng văn bản.

            Thứ tư, việc xử lý văn bản pháp luật phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện.

            Thứ năm, hướng xử lý văn bản pháp luật phải phù hợp với tính chất và mức độ khiếm khuyết trong văn bản pháp luật là đối tượng xử lý.

II, Thẩm quyền xử lý các văn bản pháp luật.

            Thẩm quyền xử lý văn bản pháp luật được quy định rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như Hiến pháp, các đạo luật…Nhìn chung, những chủ thể có quyền xử lý các văn bản pháp luật có thể chia thành một số nhóm sau:

Một là, cơ quan quyền nhà nước cung cấp.

Hai là, Thủ tướng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung.

Ba là, thủ tướng cơ quan nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở các cấp

Bốn là, cơ quan ban hành văn bản.

Năm là, tòa án nhân dân.

III, Thủ tục xử lý văn bản pháp luật.

            Thủ tục xử lý văn bản pháp luật là thứ tự và phương pháp tiến hành các hoạt động trong quá trình xử lý.

            Những đặc điểm chung sau đây có thể là thủ tục xử lý văn bản pháp luật.

            Thứ nhất, thủ tục xử lý văn bản pháp luật được nhà nước quy định trong thủ tục giải quyết những nội dung có liên quan đến công việc làm phát sinh thủ tục.

            Thứ hai, thủ tục xử lý văn bản hành chính được tiến hành bởi những chủ thể có thẩm quyền do nhà nước quy định.

            Thứ ba, thủ tục xử lý văn bản pháp luật được giới hạn trong một thời hạn nhất định.

            Thứ tư, thủ tục xử lý văn bản pháp luật được tiến hành theo một quy trình cụ thể, bắt buộc, bao gồm những hoạt động do pháp luật quy định.

IV, Hướng xử lý văn bản pháp luật

1.Hủy bỏ văn bản pháp luật.

Xét về nội dung thì đối tượng hủy bỏ là văn bản pháp luật không đáp ứng yêu cầu về pháp lý, gồm: Văn bản được ban hành trái thẩm quyền, văn bản có nội dung trái pháp luật, văn bản vi phạm các quy định về thủ tục.

Các quy định về hủy bỏ văn bản pháp luật  được đặt ra trong rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi. bổ sung năm 2004, 2005.

Thẩm quyền hủy bỏ văn bản pháp luật tùy thuộc vào thẩm quyền ban hành ra văn bản là đối tượng xử lý và thủ tục xử lý.

Thẩm quyền hủy bỏ văn bản pháp luật được đặt ra trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau nhưng được xác lập theo các hướng sau đây:

Thứ nhất, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên hủy bỏ văn bản pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước ở cấp dưới.

Thứ hai, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cơ thẩm quyền chung ở mỗi cấp hủy bỏ văn bản pháp luật của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở cùng cấp.

Thư ba, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền có thẩm quyền chuyên môn ở cấp Trung ương hủy bỏ văn bản pháp luật của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp tỉnh.

Thứ tư, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền có thẩm quyền chuyên môn ở cấp trên hủy bỏ văn bản pháp luật của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới.

Thứ năm, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền có thẩm quyền chuyên môn ở cấp Trung ương hủy bỏ văn bản pháp luật của các công chức thuộc quyền quản lý của mình.

Thứ sáu, chủ thể ban hành văn bản pháp luật tự hủy bỏ văn bản do mình ban hành.

Thứ bảy, Tòa án nhân dân hủy bỏ văn bản pháp luật là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính.

Hậu quả pháp lý: Việc hủy bỏ văn bản pháp luật luôn làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản bị hủy bỏ.

2. Bãi bỏ văn bản pháp luật

Đối tượng bị bãi bỏ:

Một là, văn bản bị bãi bỏ là các văn bản chủ đạo có nội dung không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của đối tượng có liên quan tới nội dung văn bản.

Hai là, văn bản bị bãi bỏ là văn bản quy phạm pháp luật dung không phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, không đảm bảo quyền lợi chính đáng của đối tượng tác động của văn bản, nội dung không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên, nội dung không phù hợp với thực trạng kinh tế-xã hội, nội dung không phù hợp với các điều ước quốc tế mà Viết Nam ký kết hoặc tham giam gia hoặc có những khiếm khuyết khác về kỹ thuật pháp lý.

Ba là, văn bản bi bãi bỏ là văn bản điều hành vầ văn bản hành chính có nội dung là các mệnh lệnh cá biệt không phù hợp với pháp luật hiện hành,không phù hợp với các mệnh lệnh cá biệt trong văn bản áp dụng pháp luật do cấp trên hoặc cơ quan đó ban hành và đang có hiệu lực pháp luật; các nội dung trong văn bản đã lỗi thời, không cần thiết cho hoạt động quản lý của nhà nước.

Bốn là, văn bản bị bãi bỏ là văn bản hành chính có nội dung là các quy định mang tính pháp lý không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật.

Thẩm quyền bãi bỏ văn bản pháp luật được đặt ra trong nhiều văn bản quy pham pháp luật khác nhau và được xác lập theo một số khuynh hướng nhất định:

Thứ nhất, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên bãi bỏ văn bản pháp luật của Thủ trưởng và cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp dưới.

Thứ hai, Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước cơ thẩm quyền chung ở mỗi cấp bãi bỏ văn bản pháp luật của Thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn ở cùng cấp.

Thứ ba, chủ thê ban hành văn bản pháp luật tự bãi bỏ văn bản do mình ban hành.

Hậu quả pháp lý: Việc bãi bỏ văn bản pháp luật luôn làm chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản bị bãi bỏ.

3. Thay thế văn bản pháp luật

Một số dấu hiệu đặc thù của biện pháp thay thế văn bản pháp luật:

Một là, thẩm quyền thay thế văn bản thuộc về chủ thể đã ban hành văn bản pháp luật mà không thuộc về những chủ thể khác.

Hai là, về hình thức, văn bản thay thế phải cùng thể loại với văn bản pháp luật được thay thế.

Ba là, về nguyên tắc, văn bản pháp luật được thay thế là tất cả các loại: Văn bản chủ đạo, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản áp dụng pháp luật, văn bản điều hành, văn bản hành chính.

Bốn là, văn bản pháp luật thay thế là những văn bản có nội dung không còn phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, với thực tiễn; khiếm khuyết về kỹ thuật pháp lý hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

Năm là, văn bản pháp luật được thay thế hết hiệu lực vào thời điểm văn bản thay thế nó bắt đầu có hiệu lực.

Tóm lại, thay thế văn bản là việc chủ thể đã ban hành văn bản pháp luật bị khiếm khuyết ra văn bản khác cùng thể loại để chấm dứt hiệu lực của văn bản được thay thế, thực hiện các quy định trong văn bản thay thế.

4.Đình chỉ , tạm đình chỉ thi hành văn bản pháp luật.

Đình chỉ thi hành được áp dụng bới cấp có thẩm quyền xử lý đối với văn bản pháp luật khiếm khuyết khi nhận thấy không thể cho phép tiếp tục thi hành văn bản. Như vậy, chủ thê nào có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ hay thay thế văn bản quản lý hành chính nhà nước thì chủ thể đó có quyền đình chỉ thi hành đối với những văn bản thuộc quyền sở hữu của chủ thể đó.

Tạm đình chỉ thi hành được áp dụng bởi cấp có thẩm quyền hủy bỏ, bãi bỏ hoặc thay thế văn bản hoặc chủ thể có quyền kiểm tra, rà soát văn bản. Như vậy, ngoài những chủ thể có quyền hủy bỏ, bãi bỏ hay thay thế văn bản pháp luật, còn một số chủ thể có thẩm quyền kiểm tra, rà soát văn bản cũng có quyền tạm đình chỉ thi hành văn bản.

Hậu quả pháp lý:

Đình chỉ là việc chấm dứt hiệu quả một cách vĩnh viễn đối với văn bản pháp luật.

Tạm đình chỉ chỉ là biện pháp chấm dứt tạm thời hiệu lực của văn bản pháp luật nhất định để chờ phán quyết của cơ quan thẩm quyền. Nếu sau quá trình xem xét, cấp có thẩm quyền không hủy bỏ, bãi bỏ thì văn bản bị tạm đình chỉ sẽ có hiệu lực trở lại; nếu bị hủy bỏ, bãi bỏ thì mới vĩnh viễn mất hiệu lực.

5.Sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật.

Sửa đổi, bổ sung là biện pháp xử lý được áp dụng đối với các văn bản pháp luật có  khiếm khuyết nhỏ, như: một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn, thiếu một số quy định cần thiết…

Sửa đổi là việc ra văn bản để làm thay đổi một phần nội dung văn bản pháp luật trong khi vẫn giữ nguyên những nội dung khác. Sửa đổi chỉ làm mất hiệu lực pháp luật của bộ phận văn bản bị sửa đổi, còn toàn bộ văn bản vẫn có hiệu lực pháp luật.

Bổ sung là việc ra văn bản để đưa them vào văn bản pháp luật một số nội dung mới trong khi vẫn giữ nguyên những nội dung vốn có của văn bản đó. Viêc bổ sung không làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp luật của văn bản mà chỉ làm thay đổi nội dung, quy mô của văn bản được bổ sung. Việc sửa đổi thường được áp dụng song song với việc bổ sung văn bản.

Thẩm quyền sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật khiếm khuyết thuộc về chủ thể đã ban hành ra văn bản pháp luật đó,

Hậu quả pháp lý: Văn bản sửa đổi, bổ sung được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bản được sửa đổi, bổ sung.

Nguyên tắc về lựa chọn hình thức văn bản và hướng xứ lý văn bản pháp luật.Việc xử lý văn bản pháp luật chỉ có thể đạt chất lượng, hiệu quả cao khi những người có thẩm quyền tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc có liên quan tới hoạt động xứ lý văn bản.

Một là, phải xác định đúng thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với mỗi văn bản pháp luật nhất định.

Hai là, phải xem xét tính chất và mức độ khiếm khuyết trong văn bản để xác định hướng xử lý, bảo đảm sự phù hợp đối với từng văn bản pháp luật cụ thể.

Ba là, phải căn cứ vào thủ tục, thẩm quyền giải quyết để lựa chọn hướng xử lý đối với văn bản pháp luật.

Bốn là, trong nội dung văn bản, cần nêu rõ hướng xử lý và các biện pháp liên quan khác, như: buộc đình chỉ việc thi hành văn bản, giải quyết việc bồi thường, thu hồi vốn, vật tư.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: