Chương 15: Cuối cùng cho một tình yêu
Hai mươi năm trường trôi qua như một giấc mộng.
Khắp nước Việt, sau những trận bom đạn oanh tạc đất bằng, dày xéo muôn nơi, những đoàn quân bền bỉ lại tiếp tục hành trình luồn lách từng góc núi bờ sông. Bụi chiến chinh cuốn đi đã không biết bao người, lớp người này ngã xuống, lớp khác lại đứng lên nối tiếp cha ông.
Và ở hậu phương cũng vậy. Lúa mùa này chín xuộm lại đến mùa lúa khác lên non. Nhập nhằng, nhập nhằng, thế thời, thời thế. Máu sông Hồng đỏ vì chờ mong. Những con người đầu tắt mặt tối quần quật qua tháng năm, nay gót chân mòn mới cho mình một giây ngẩng nhìn lên ánh mặt trời. Ánh mặt trời bây giờ chói chang và bưng bức.
Đó là ánh mặt trời của những ngày cuối tháng tư, năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm.
Dũng chẳng hề để ý đó là ngày nào. Thứ mà anh để ý là những khuôn mặt rạng rỡ đến lạ kỳ lướt qua anh. Xe cộ đâu đó đông hơn mọi ngày, người người khẩn trương. Tin chiến thắng về dồn dập và ngày cuối cùng này nhất định sẽ đến. Nó đang đến và đã đến.
Vào lúc giữa trưa hôm ấy, bà con bất ngờ lũ lượt kéo đến giữa làng. Họ kháo nhau nghe cái gì đấy từ loa phát thanh. Tất cả nín thở hồi hộp chờ.
Giữa buổi trưa im lặng như tờ, tiếng phát thanh vang lồng lộng trong không trung.
"Mời đồng bào nghe tin chiến thắng chúng tôi mới nhận được. Đúng 11 giờ 30 phút, quân ta tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm Dinh Độc Lập. Bộ Tổng tham mưu ngụy - Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng."
Dũng và những người xung quanh lặng đi mất mấy giây. Anh nghe tiếng tim mình rộn ràng trong lồng ngực.
Và anh thấy người ở đâu mà đổ về nhiều quá. Những anh lính áo xanh ngồi chật kín trên những chiếc xe, từng tốp chạy dọc đường làng. Họ hồ hởi reo hò "Chiến thắng rồi! Chiến thắng rồi!", xe chạy đến đâu, bà con cũng ùa theo đến đó vói tay lên chạm vào những bàn tay cũng đang vẫy xuống. Tiếng vỗ tay, tiếng reo mừng, tiếng bước chân rào rạt trên mặt đường, và lẫn đâu đó cả tiếng khóc của ai đó nữa. Miệng họ không ngừng nói cười, nhưng trái tim ai cũng lặng đi. Họ đâu ngờ rằng chiến thắng lại xốn xang đến thế. Họ biết chiến thắng sớm muộn cũng về, nhưng khi nó về thật, người ta lại dấy lên những cảm xúc không nói thành lời ngoài vui mừng.
Phải. Họ mừng. Nhưng họ đã đánh đổi những gì để nghe được mấy dòng tin ngắn gọn ấy?
Những đứa con của bà cụ đang đứng chơ vơ bên gốc cây, đứa chết ngoài Quảng Trị, đứa hy sinh ở Ba Gia. Cách đây đã ngót mười năm. Bà nhìn lại quanh mình và bà thấy chẳng còn ai. Bà cũng muốn khóc đôi chút nhưng đôi mắt đã kiệt khô. Dũng không rõ bà đang nghĩ gì trong lòng. Có lẽ bà mừng chiến thắng đấy, nhưng lòng bà vẫn uất nghẹn từng cơn. Bà tủi lòng lắm chứ.
Dũng không tham gia vào cuộc vui đó. Anh nghĩ về Kiên. Chẳng biết Kiên đang ở Sài Gòn, hay là đâu đó dưới miền Nam. Lá thư gần nhất cách đây một tháng. Trong một tháng đó liệu Kiên có được an toàn hay không, Dũng không hề biết. Anh xót xa nhìn những người lính áo xanh trên xe, dường như thấy khuôn mặt Kiên lẫn đâu đó trong dòng người. Đáy mắt anh nóng rực, tim anh nhói xót xa. Anh quay mặt ra bờ ruộng vắng, nhìn ngơ nhìn ngẩn, nhìn mà chẳng thấy gì.
Người Việt mình sao mà khổ đến thế này, con ơi, cha ơi, mẹ ơi...
Anh ơi?
—————————
Ký ức của Dũng như ngôi nhà đơn sơ dựng bên luỹ tre, oằn mình trong đạn lửa mãi mà nay tan hoang, lẫn lộn. Dũng không nhớ liền mạch mọi sự nữa, mà chỉ là từng câu chuyện vụn vặt mơ hồ hiện về trong trí óc. Dũng ôn từng câu chuyện không theo tuần tự hằng đêm, sau khi đã kết thúc một ngày quần quật trên cánh đồng. Hằng đêm vẫn nóng và thỉnh thoảng một vài đêm có mưa, tiếng ếch nhái râm ran vọng về từ sâu trong cây cỏ.
Dũng nhớ khi vo những hạt gạo xấu xí, vụn vỡ để thành một bữa cơm sơ sài với mấy đứa con. Nước cơm chắt ra dìu dịu ngọt, luôn dành phần cho đứa bé nhất.
Con sông bên nhà vẫn cuộn chảy như xưa đấy. Bên sông đã khoét ra một hố bom lớn, bọn nhỏ tưởng là có chỗ chơi mới, nhưng Dũng cấm chúng đến gần. May chúng cũng nghe lời.
Dũng nhớ mùi khen khét, rờn rợn. Cái thứ ánh sáng bập bùng từ những ngọn lửa đỏ mối nhảy múa trong đêm, rải rác trên những chái nhà đổ sập. Và mơ hồ có tiếng khóc than của người đàn bà mất con.
Ngôi nhà với mái hiên mục nát che trên thân Dũng đây đã sửa ba bốn lần rồi. Trong đó, một lần Kiên tự dựng lại. Lần đó, Đông chết, Dũng thì nằm bệnh xá...
Dũng sinh con. Dũng chẳng còn nhớ mình đau ra sao nữa. Dũng chỉ nhớ khi làn da non mềm áp vào da mình, sự lạ lẫm mà thân quen khi một cái gì trừu tượng bỗng hoá thành hình hài thật trong vòng tay.
Tự dưng ký ức lại lội ngược trở về. Dũng trẻ hơn một chút rồi.
Kiên ngày ấy ngổ ngáo lắm. Kiên cứ đánh đá với người ta mãi thôi, sứt đầu mẻ trán hoài. Dũng cứ nghĩ mình nên tránh xa một người như vậy. Thế mà chẳng hiểu tại sao, duyên số nào, mà cũng nên nghĩa vợ chồng.
Những ngày còn chưa vẩn đục sự đời, Dũng vẫn mộng mơ về một ngày được ngồi ở bờ sông ngắm người mình thương đắm trong dòng nước. Mấy chục năm đã qua, mà vẫn chưa được nhìn thấy cảnh như vậy.
Dũng đói. Đói lắm. Xung quanh có mùi hăng hắc của cái chết. Trên trời có mấy ngôi sao lam nhàn nhạt. Đêm dài.
Ấm. Kiên rất ấm. Trong vòng tay Kiên, Dũng thấy như mình không phải sợ hãi gì nữa. Nhưng Kiên đâu có mặt thường để được ấp ôm như vậy, Dũng phải dang rộng vòng tay để bảo vệ bốn mùa của mình.
Và còn nhiều câu chuyện khác nữa...
Gạo. Thức ăn. Củi dầu. Mắm muối. Ruộng đồng. Nhà máy. Những khuôn mặt. Những sống và chết.
Thật là lộn xộn. Từng dòng ký ức cứ hoà lẫn vào nhau rồi ùa về như vậy. Chẳng biết chuyện nào là chuyện nào. Nhưng nó cứ đánh vào nơi sâu thẳm trong trái tim, làm Dũng nóng ran nơi đáy mắt.
Dũng bấu chặt tay vào gối. Đã lâu Dũng không có thói quen khóc đến gào lên. Nhưng đôi khi, phải gào lên mới hả lòng đau đớn. Không gào được, cứ như chặn lại ở nơi then chốt nhất, khó chịu vô bờ.
Nhiều đêm như thế đã qua trong ngôi nhà nhỏ. Sáu người, năm người, bốn người, ba người, hai người. Những đứa nhỏ lớn lên rồi đi, đứa này rồi cũng sớm đi. Chẳng rõ, nếu Kiên không về, đứa này rồi cũng đi, vậy Dũng sẽ thế nào, giữa ngôi nhà này?
Kiên ơi, hoà bình rồi, ta về nhà thôi.
Kiên ơi, mai đây, mở mắt dậy, liệu em có thấy anh?
Kiên ơi, hay là, trả lời thư em cũng được. Rồi muốn về, cứ thong thả mà về...
—————————
Hôm ấy, lại một xe lính về làng.
Một tốp bộ đội lục tục xuống xe. Chiếc xe oằn lưng trên từng bước chân qua, khói bụi tung lên sau từng cú nhảy. Không gian ồn ào dần, những phụ nữ chạy oà tới xem trong tốp ấy có người của mình không. Nghe đâu có tiếng reo mừng, tiếng vỗ tay. Niềm vui lan ra từ một cụm nho nhỏ vươn đến đầu làng cuối làng.
Dũng nhìn cảnh ấy từ xa, tim thoáng đập rộn, nhưng rồi cũng lắng nhịp lại, hững hờ mà trông.
Đây nào có phải chuyến xe chở lính về đầu tiên trong nửa năm rồi. Dũng không thiếu những ngày tất tưởi chạy từ cuối ruộng ra đầu làng mà xem có bóng Kiên. Hết lần này đến lần khác tạt cho Dũng những gáo nước lạnh toát, cùng sự bẽ bàng ngắt véo từng tấc thịt trên người khi nhìn người ta đoàn tụ. Dũng lắm khi uất ức, chỉ muốn lục tung đoàn người đó mà tìm, muốn thộp cổ người nào hỏi xem phải chăng đã bỏ sót ai. Thế rồi nhiều chuyến xe như thế qua đi, Dũng nguội lạnh dần và thôi vồn vã. Nếu Kiên về thật, Kiên đã chạy đi kiếm Dũng, nào có cần đến Dũng phải đi tìm.
Dũng điềm nhiên bỏ nắm cơm muối vừng vào miệng nhai, nhưng miếng cơm nhạt thếch, chẳng có vị gì. Rồi Dũng cũng không nén được tiếng thở dài tự đáy lòng.
Giữa cái đoàn đen đỏ ấy, một bóng người thoát ra rồi chạy vụt đi, nhưng cái chân thọt nhẹ lại cản chậm tốc độ. Dù vậy, người nọ vẫn cứ chạy bằng hết sức mình, chạy trên con đường lớn dẫn đến cuối làng.
Dũng đã ăn xong, phủi tay xếp lại gói lá chuối. Xong xuôi, anh lần ra cầu ao vốc nước rửa mặt. Lúc ngẩng đầu, lại thấy anh lính kia quày ngược lại, thấp thỏm đứng nhìn quanh quất, rồi thình lình gào lên:
"Dũng ơi!"
Tiếng gọi khàn, đục, vang lên được một quãng gần rồi lặn vào luỹ tre bờ cây, nhưng cũng đủ vẳng vào tai Dũng.
Dũng sững người, đứng thẳng lưng dậy, nước từ bàn tay vẫn nhỏ giọt.
Anh lính kia quay sang nhìn đến bờ ao thì cũng đờ ra.
Không mất đến một giây sau, anh lính lại gào lên, một tiếng gào như xé lòng Dũng:
"Dũng ơi!"
Ngay sau tiếng gào ấy, cái bóng lao thẳng đến phía Dũng, nhảy đùng xuống ao, hộc tốc lội lại. Dũng bấy giờ mới sực tỉnh, cũng vội trầm mình xuống nước bơi lại gần người kia. Cả hai chạm được vào nhau ở lưng chừng ao cạn, ôm nhau như thể hoà tan vào nhau. Tấm lưng ấy vẫn rộng lớn như xưa, nhưng đã cằn cỗi đi nhiều, thô cứng và xương xẩu. Dũng bấu chặt móng tay vào lưng áo bạc màu, nghiến răng kìm tiếng nức nở, trái tim thắt vào đau đớn, nước mắt giàn giụa tràn trên gương mặt đẫm nước sông.
Người đàn ông ôm Dũng cũng thế. Bàn tay đen đúa đầy vết sẹo run lên từng hồi, gương mặt phong trần nhăn nhúm lại vì cái nắng ban trưa, nước mắt anh cũng rơi. Đôi bóng người mừng mừng tủi tủi còn quấn quýt nhau thêm đôi chút.
Họ đưa nhau lên bờ. Khi đã bình tĩnh lại, Dũng mới vén mái tóc bù xù của Kiên lên nhìn. Từng góc cạnh teo tóp lại trên gương mặt, để lộ đôi mắt trũng sâu mờ đục. Áo anh đã điểm những quân hàm, nhưng Dũng chẳng để tâm. Bàn chân phải anh đã khuyết đi hai ngón cuối, trông như vừa mới lành, thảo nào anh không chạy nhanh được. Dũng gạt nước mắt nhặt lại chiếc nón rơi ban nãy đội cho Kiên, nhưng Kiên lại đội cho Dũng.
Kiên đưa bàn tay sờ lên gương mặt ngăm đen dãi dầu mưa nắng, giọng khàn đục: "Anh xin lỗi. Anh về trễ..."
Dũng lắc đầu, áp tay vào bàn tay ấy, dịu dàng: "Không sao, anh về là mừng rồi."
Hai người ngồi dưới bóng cây, để nhịp tim lắng xuống và để cho sự vỡ oà dịu đi. Kiên mới rù rì kể cho Dũng nghe những sự nguy nan khiến anh lỡ chuyến về quê nhà. Ngay trước ngày giải phóng chẳng mấy hôm, tiểu đội của anh đã va phải mìn, một phần ba trong số đó bị thương rất nặng, anh đã suýt mất đi bàn chân phải, may rằng vẫn giữ lại được, nhưng gần một nửa thân bên phải bị bỏng nặng, phải nằm viện ít lâu, không được chứng kiến cảnh cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập...
Dũng vén áo nhìn bụng anh, quả vẫn còn vệt da mới lành.
Ở quê nhà, Dũng vẫn thế. Bé Thu đã lên Hà Nội học, thằng Xuân cũng ra quân, con bé Hạ vừa đi nhà một người bà con trên huyện học, giờ chỉ còn thằng Đông đang học ở trường làng. Dũng thì cứ ngày rau ngày cháo, cha con lặng lẽ ở vậy thôi.
Chuyện dang dở, Kiên chợt mân mê bàn tay Dũng mãi, cho đến khi Dũng thấy lạ, ngừng kể, đưa mắt nhìn hai bàn tay quấn quýt. Chậm rãi, Kiên móc trong túi áo ra một gói khăn nhỏ.
"Cái gì đó anh?" - Dũng hỏi.
"Em vẫn đeo chiếc nhẫn này à?"
Kiên mơn man chiếc nhẫn đồng trơn nhẵn, không có mặt đính, hoa văn gì cả, đeo vào ngón áp út của Dũng, chiếc nhẫn mà Kiên tự tay làm trong những ngày sắp sửa ra quân trở lại.
"Em vẫn đeo đây. Hình như đã dính cứng vào luôn thì phải, không tháo được."
"Vậy à." - Kiên cười. Rồi, anh lần giở gói khăn tay ra, là một chiếc nhẫn bằng bạc.
"Đây là...?" - Dũng nghe trong giọng mình đã run lên.
Kiên ngượng nghịu cười, khẽ nói: "Lý ra anh đã định mua cho chúng mình một cặp nhẫn vàng mới hợp lẽ, nhưng mà... anh không có tiền để mua. Sau này, khá giả hơn, anh sẽ cưới hỏi em đàng hoàng..."
Dũng nhìn chiếc nhẫn, không thốt nên lời.
"Anh hứa với em ngày xưa thế nào, còn nhớ không? Rằng hoà bình về, anh sẽ cưới em... Bây giờ, anh sẽ cố gắng thực hiện lời hứa đó..."
Nơi tim Dũng nhói đau, như nghìn mũi kim đâm phập vào - những mũi kim khổ sở, dặm trường, và cả những mũi kim mang niềm vui cháy bỏng. Dũng nấc lên một tiếng, vội quay mặt đi.
Bàn tay Dũng vẫn nằm gọn trong tay Kiên. Rồi, dịu dàng như nâng một điều rất mỏng manh, Kiên luồn chiếc nhẫn đồng vào ngón tay Dũng. Bàn tay Dũng nhiều năm nay nào đã được đối đãi dịu dàng đến thế! Những ngón tay phải bươi quào, lòng bàn tay chai sạm vì phải nắm thừng, nắm thùng tưới, nắm cả những bó lúa xót xa. Sự dịu dàng lạ kỳ đó khiến Dũng thổn thức mãi không thôi, đưa anh trở về một đứa trẻ lên ba, yếu ớt, mong được chở che.
Và, như không chịu được nữa, Dũng gục đầu vào lòng Kiên, bàn tay bấu chặt vào vai Kiên, khóc lên bằng cả ruột gan. Một lần khóc cho nhiều năm chết lặng.
Kiên ôm chặt người mình yêu trong vòng tay, hôn vào vầng trán mặn mồ hôi. Anh run lắm, căng thẳng lắm, tự nãy giờ. Cả một đời xông pha trận mạc, nay đối diện với người ấy, anh cũng lúng túng biết nhường nào!
Dưới bóng ban trưa, hai cái bóng mừng mừng tủi tủi quấn chặt lấy nhau, liêu xiêu từng bước về ngôi nhà lụp xụp cuối làng.
—————————
Đầu năm sau, khi lúa mùa đông xuân bắt đầu vàng xuộm, bà con trong xóm ùn ùn đi góp vui cho đôi người chồng lớn tuổi lần đầu cưới nhau. Ngó hai ông tuổi tác cộng lại đã gần bằng cụ già chín chục, vậy mà vẫn ngượng nghịu khi nhìn nhau, bà con cười mãi không thôi.
Đám cưới đơn sơ nhất có thể, chỉ được cái người đông, còn thì chẳng có gì mà kể. Món quà hào phóng nhất mà người ta có thể tặng là một bộ ấm chén. Thậm chí hai người còn chẳng có được bộ lễ phục, chỉ có áo sơ mi trắng đỡ lòng. Thức ăn cũng một tay bà Năm "tài trợ", chẳng cả nhờ, bà xông pha vào bếp đầu tiên.
Dũng và Kiên đứng trước một tấm khăn trải bàn màu đỏ, treo trên tường tạm làm phông. Hai người cầm cùng chai rượu, đi rót cho từng người trong bàn. Đi đến đâu, người ta ùn ùn chúc mừng đến đấy.
Xuân, Hạ, Thu, Đông, lũ trẻ ngày nào vẫn còn ẵm ngửa trên tay, làn da đỏ hỏn mỏng như giấy non, giờ đã là những đứa con thảo hiền, cười cười nói nói lăng xăng chạy việc. Thu ra dáng người chị cả, đã đi làm và sắp lấy chồng, tươi cười tiếp chuyện các cô các cậu. Xuân, Hạ, Đông, các con cũng lớn dần từng ngày, khoẻ mạnh và bình an. Chẳng hiểu sao, khi nhìn các con, đôi người chồng đứng tuổi nghèn nghẹn trong lòng. Vì hạnh phúc quá hay chăng? Sự yên tâm dịu ngọt len lỏi vào giữa cái vướng nhoi nhói nơi tim, xoa dịu đi phần nào sương gió phủ đầy. Giờ đây, dường như không còn quá nhiều thứ phải lo nữa. Con đường sắp đi vẫn còn đá cuội đấy, nhưng gió đã thôi vần vũ và bão giông đã thôi trút những hạt mưa máu xuống đỉnh đầu.
Đêm. Một đêm xuân tĩnh lặng như bao đêm khác. Tiệc vui đã chóng kết thúc trong buổi chiều, để lại đôi người trong buồng. Dũng và Kiên nhìn nhau, buồn cười. Đã có bốn mặt con và bao nhiêu lần mặn nồng, nay lại có người ghẹo là "đêm tân hôn". Lẽ ra phải đặt ngày này về hơn hai mươi năm trước, cho đôi tình nhân trẻ đôi mắt còn long lanh những nỗi niềm sáng trong. Giờ đây nhìn vào mắt nhau, họ chỉ thấy những tia buồn và đầy mệt mỏi. Dẫu vậy, tình yêu, vẫn rưng rưng lên như thuở ban đầu.
Kiên luồn tay vào mái tóc Dũng điểm bạc, âu yếm xoa. Dũng nhắm mắt lại, lặng yên nghe tiếng ve đêm ru ngoài sân, gió khuya lành lạnh thổi lá xạc xào, và tiếng thở mơn man giữa đôi người. Dũng dần ngả vào lòng Kiên. Kiên buông mình xuống giường, choàng Dũng vào trong một cái ôm sâu. Hơi ấm sưởi cho đôi trái tim đã hằn bao vết sẹo.
Suốt đêm ấy, họ không nói gì mấy, làm gì mấy, ngoài ôm nhau, và lâu lâu nhìn vào mắt nhau. Chiếc nhẫn bạc trên hai bàn tay gân guốc kề bên nhau mãi.
Kiên ngâm lên đôi câu thơ mà anh vẫn hằng nhẩm đi nhẩm lại bao nhiêu năm nay:
"Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông, Không lấy được nhau thời trẻ, ta sẽ lấy nhau khi góa bụa về già."
HẾT.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com