#1 Xóm Lúa
Con nhỏ mặc áo dài trắng, đạp chiếc xe đạp cũ kêu cót két trên con đường bờ ruộng là An - cháu ngoại của bà Tư ở cuối Xóm Lúa.
Con đường nhỏ xíu, hai bên là ruộng lúa đang thì con gái,xanh mướt. Xa xa có con rạch nước lững lờ chảy. Gió thổi qua, lúa nghiêng theo từng đợt, nghe rì rào hoài không dứt. Người trong xóm nhìn theo, có người nói nhỏ:
"Con nhỏ đó hả, cháu bà Tư… tội nghiệp lắm.”
An nghe quen rồi. Nó không quay lại. Nhà bà Tư nằm cuối xóm, sát mé rạch. Cái nhà mái tôn thấp, phía trước có cái sân đất, mưa xuống là nhão nhoẹt, đi dép cũng dính bùn. An lớn lên ở đó. Nhưng càng lớn, nó càng thấy chật. Không phải chật nhà. Mà chật trong người.
Dạo này, An ít nói hẳn. Bà hỏi gì, nó cũng trả lời cho xong:
“Dạ.” “Không.” “Con biết rồi.”
Có bữa bà hỏi thêm một câu, nó gắt lại:
“Sao ngoại hỏi hoài vậy?”
Nói xong, chính nó cũng thấy khó chịu. Nhưng không bao giờ rút lại lời nói. Ban đêm, khi bà dần vô giấc ngủ. An mới lôi cuốn sổ ra.
Cuốn sổ cũ, bìa mềm, góc bị quăn lại. Nó mở ra, viết từng chữ. Chữ không đẹp, có chỗ đè mạnh, có chỗ bỏ đó.
“Ngày 26 tháng 5 năm 2006.Ở đây khó chịu quá.Ai cũng biết chuyện nhà mình. Ước gì được đi chỗ khác, thiệt xa,xa khỏi cái xóm này.”
Có khi nó viết về bà:
“Ngày 10 tháng 5 năm 2006,
Ngoại cứ lèm bèm hỏi hoài, mắc mệt.”
"Ngày 15 tháng 5 năm 2006,
Không muốn nói chuyện với ngoại.”
Viết xong, nó đóng cuốn sổ lại, nhét vô ngăn bàn, đóng cái cạch. Như vậy là xong. Một buổi trưa, An được cô giáo cho về sớm. Nhà cửa vắng tanh. Không nghe tiếng bà dưới bếp. Nó bước vô phòng-rồi đứng khựng lại.
Bà Tư - bà ngoại nó đang ngồi trên tấm ván ngựa,trên tay là cuốn sổ của nó.
“Ngoại làm cái gì vậy?”
Bà giật mình, vội đóng cuốn sổ lại.
“Ngoại… coi thôi con.”
An bước tới, giật lại cuốn sổ từ tay bà Tư.
“Coi cái gì? Cái này của con mà.”
Bà nhìn nó, lúng túng:
“Tại,ngoại muốn-”
“Muốn gì?” Giọng An cao lên.
“Sao ngoại coi nhật ký của con?”
Bà im. Không nói. An thấy bực trong người.
“Ở cái nhà này con không được riêng tư gì hết hả?”
“Cái gì ngoại cũng phải biết hết hả ngoại?”
Bà vẫn không nói gì. Chỉ ngồi đó. An nhìn một lúc, rồi quay đi.
“Thôi, khỏi nói.”
Chiều đó, An không về nhà liền. Nó ra bờ ruộng, ngồi nhìn con nước dưới rạch chảy chậm rì. Mặt nước đục đục, lấp lánh ánh chiều. Gió thổi mát. Ở đó dễ chịu hơn trong nhà.
Mấy ngày sau, bà ít nói hơn thiệt. Không hỏi nó đi đâu nữa. Cũng không nhắc nó ăn cơm. Chỉ đi ra ruộng mần,về nhà làm công chuyện, rồi nghỉ. Căn nhà im hơn trước. Im tới mức An thấy não lòng.
Một hôm, dì út của An ghé qua thăm bà. Hai người nói chuyện trong bếp. Mới đầu còn bình thường, sau đó giọng dì lớn dần,la con An. An đứng bên hiên, nghe rõ mồn một.
“Con nhỏ này! Mày ăn nói với ngoại mày kiểu gì vậy?”
An bước vô, khó chịu:
“Con có nói gì đâu?”
Dì quay qua, mắt trợn lên:
“Mày còn cãi nữa hả?”
An bực:
“Thì tại ngoại coi lén nhật ký của con-”
Dì cắt ngang, giọng lớn hơn hẳn:
“Ngoại mày có biết chữ đâu mà coi!”
An đứng sững.
Dì nói tiếp, giọng vẫn còn khó chịu:
“Hồi nhỏ ông cố mày lo dẫn bả đi chạy giặc,trường lớp thì bị tụi thực dân nó đánh bom tan nát, có được học hành gì đâu!”
Câu nói của dì như vết dao cứa vô tim An. Nó không nói gì nữa,quay đi. Tối đó, An nằm hoài không ngủ được. Nó nhớ lại hồi trưa.
Nhớ hồi bà cầm cuốn sổ. Nhớ những gì mình đã nói,nó bước ra chái bếp. Đèn dầu leo lắt. Bà đang ngồi đó, tay để trên bàn.
“Ngoại…”
“Ừ, sao con?”
An đứng một hồi mới nói:
“Ngoại… không biết chữ thiệt hả?”
Bà gật đầu.
“Thiệt. Hồi đó lo chạy giặc không hà, trường lớp đâu mà học.”
Giọng bà bình thường, như kể chuyện xưa. An nuốt nước bọt.
“Vậy… bữa đó ngoại coi cái gì?”
Bà nhìn nó, rồi nói chậm rãi:
“Có mấy cái… không cần biết chữ đâu con.”
Bà đưa tay đặt lên ngực mình.
“Nhưng mà chỗ này… vẫn hiểu được.”
An đứng im. Không nói được gì. Trong đầu nó, mấy câu hôm trước cứ lặp đi lặp lại, rõ từng chữ. Nghe còn nặng hơn lúc nói ra nhiều.
“Con… xin lỗi ngoại.”
Giọng nhỏ xíu. Bà đưa tay xoa đầu nó.
“Ừ, thôi. Biết vậy là được rồi.”
Từ đó, An nó không giấu cuốn sổ nữa. Nó để trên bàn. Có bữa nó ngồi viết, bà ngồi kế bên, nhặt rau hay vá áo. Không ai nói gì nhiều. Nhưng không còn như trước.
Mùa nước lên,nước dưới rạch dâng cao, chảy lững lờ. Bà ngày càng ho nhiều hơn. Có lúc đang làm phải ngồi xuống nghỉ.
An hỏi:
“Ngoại có sao không?”
Bà xua tay:
“Không sao đâu con, già rồi nó vậy đó.”
An cũng tin. Một buổi sáng, An thức dậy,nhà yên quá. Không nghe tiếng bà. Không nghe tiếng bếp. Nó bước vô trong,bà vẫn nằm đó nhưng không còn dậy nữa.
Người trong xóm hay tin, qua lại phụ giúp. Dì với mấy người cậu cũng về. Nghe nói bà bệnh lâu rồi, mà giấu. Không cho ai biết,sợ con cháu lo. An đứng nhìn,nó không khóc. Chỉ thấy trong người trống rỗng.
Sau đám, dì đưa cho An một cái túi nhỏ.
“Cái này của ngoại mày.”
An mở ra. Bên trong là một cặp kiềng cưới bằng vàng, đã cũ. Dì nói:
"Bả đi mần mướn, dành dụm mấy năm nay đó. Nói để dành sau này cho mày.” An cầm trên tay. Không nói gì.
Vài bữa sau, ai cũng về hết. Căn nhà lại còn một mình An. Nó ngồi bên cái bàn gỗ cũ,mở cuốn sổ ra,bên cạnh là cặp kiềng. Những trang giấy vẫn còn đó,kỷ vật vẫn còn đó. An đặt tay lên ngực mình. Như bà đã từng làm.
Ngoài kia, gió vẫn thổi qua ruộng lúa. Nước dưới rạch vẫn chảy. Xóm Lúa vẫn vậy. Chỉ là… căn nhà cuối xóm, không còn bà nữa.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com