tham nhung
Ngày nay, không cần dùng phép cường điệu để mô tả về tham nhũng cũng đủ thấy mức độ và quy mô khủng khiếp của nó. Nó hầu như hiện diện ở tất cả mọi nơi mọi lĩnh vực mà bạn liên quan đến. Ngày xưa nhắc đến ông này tham ô, nhận hối lộ là một điều đáng quan tâm, bây giờ nhắc đến ông này không tham ô, ông kia không nhận hối lộ (nói chung là liêm khiết) thì mới nhận được sự quan tâm. Tất nhiên không thể nào nói tất cả mọi cán bộ công chức…đều tham nhũng, nhưng chúng ta cần phải thẳng thắn với nhau rằng bây giờ tham nhũng đã tập hợp được một đội ngũ lớn, đông đảo và toàn diện về lĩnh vực.
Đã có rất nhiều giải pháp, biện pháp, cách thức….nói chung là tất cả mọi cái để làm sao phòng chống tham nhũng được đưa ra. Người thì cho là phải hoàn thiện chính sách, kẻ lại bảo hoàn thiện pháp luật, nhà này nói phải có cơ chế giám sát minh bạch, cơ quan kia bảo phải tăng mức hình phạt,,,
Đúng là phải làm vậy thật, nhưng làm như thế chỉ phòng chống được tham ô thôi, còn nhận hối lộ thì hơi khó. Ở đây tôi không bàn đến các việc làm của cơ quan nhà nước, mà chỉ muốn nói đến việc làm của chúng ta: Những công dân.
Tôi, bạn, và rất nhiều người nữa lâu nay cứ nói ghét tham nhũng, cứ nói ủng hộ phòng chống tham nhũng, mà chúng ta hãy thử nhìn lại mình xem mình đã làm những gì để phòng chống tham nhũng?Hay chúng ta đang nuôi sống, phát triển, cổ súy tham nhũng bằng cách đưa hối lộ hoặc “tiền bồi dưỡng” và thái độ thờ ơ với các tiêu cực diễn ra xung quanh mình?
Ra đường, vi phạm luật giao thông, bị phạt thì đưa tiền để giải quyết cho nhanh khỏi bị giam xe hay giữ giấy tờ. Lên cơ quan này, cơ quan nọ làm bất kỳ hồ sơ gì muốn nhanh thì lại đưa tiền, chứ chưa nói là hồ sơ thiếu thứ này, thứ kia. Thấy ông kia làm được cái hồ sơ “khó” mà đến cả ông tiến sỹ luật hay ông luật sư kỳ cựu cũng không làm được, thấy ông công chức này, cán bộ nọ ở có quan này cơ quan này, quan kia, hay hạch sách đòi tiền thì cũng mặc kệ. Còn nhiều, nhiều lắm, mà chắc ai cũng biết rồi không cần phải kể ra làm gì cho dài dòng.
Lẽ đời, phàm cái gì có hại thì chúng ta tẩy chay, phòng, chống, tiêu diệt. Nhưng với tham nhũng thì dường như đại bộ phận chúng ta chỉ hô hào, hô hào cho hay, hô hào cho có. Còn thực tế hành động thì ngược lại hoàn toàn những gì mình nói. Hầu hết chúng ta chỉ quan tâm chính mình, chỉ cần được việc mình, còn mọi thứ thì “ối dào chẳng liên quan” cứ kệ nó. Nhưng kệ nó liệu là nó có không ảnh hưởng đến mình?chẳng còn nói xa là việc ảnh hưởng đến kinh tế hay xã hội, chỉ cần mai mốt phải làm những cái mà người trước làm phải hộ lộ, phải bồi dưỡng thì mình lại cũng phải hối lộ và bồi dưỡng.
Tôi, bạn và những người còn đưa hối lộ, còn thờ ơ với tệ nhũng nhiễu hạch sách còn có tội lớn hơn cả những ông, bà tham nhũng kia gấp nhiều lần. Nếu nói theo ngành nông nghiệp thì chính chúng ta đang “trồng trọt”, “chăn nuôi” và phát triển “diện tích”, “mô hình” tham nhũng ở chính đất nước chúng ta. Mà tác hại của tham nhũng thì không cần phải tìm hiểu kỹ cũng có thể biết và giật mình.
Chúng ta những công dân, không nên chỉ trông chờ việc phòng chống tham nhũng từ những cơ quan có thẩm quyền của nhà nước. Mà phải biết chung tay để chống lại hiện tượng tiêu cực này bằng cách không đưa hối lộ, bằng cách tố cáo các hành vi tham nhũng.
Hãy tự kiểm điểm mình, tự tố cáo mình cho dù là chỉ với chính mình để đất nước Việt Nam này phát triển nhanh chóng và cường thịnh./.
Vấn đề tham ô, tham nhũng đang là một hiện tượng, một vấn đề nóng mà cả thế giới phải quan tâm. Nếu thế giới có căn bệnh thế kỉ không có thuốc đặc trị là HIV/ AIDS thì ta cũng có thể xem bệnh tham ô cũng giống như căn bệnh thế kỉ kia. Quả thực, tham ô là loại bệnh không thể chữa. Và điều đáng buồn là nó lại xuất phát từ những quan chức cấp cao của nhà nước đến các tầng lớp thượng lưu, hay ngay cả trong một công xưởng nhỏ bé cũng xuất hiện vấn đề tham ô. Tham ô-nó như một con vi rút len lỏi vào từng ngóc ngách, hơi thở trong cuộc sống con người. Điểm xuất phát của tham ô là lòng tham và kết thúc lại là sự hối hận và ăn năn muộn màng. Con người khi mới sinh ra, không biết thế nào gọi là sự quyến rũ của đồng tiền hay sự hấp dẫn của quyền lực. Nhưng càng lớn, xã hội quanh ta càng đổi khác và thời gian trôi, con người cũng dần thay đổi. Những sự vất vả, bon chen của cuộc sống quá đỗi phức tạp đã là sự thuận lợi cho lòng tham nổi lên, cho những mù quáng che mờ mắt. Con người cố trèo cao, khi đã leo lên cái đỉnh chót vót, họ bỗng coi khinh những kẻ bên dưới. Và đau lòng hơn, những con người ấy còn cố moi móc từng đồng bạc của người lao động đổ mồ hôi sôi nước mắt. Cái ý nghĩ điên rồ rằng phải có tiền mới được sung sướng, phải có tiền mới khẳng định mình đã ăn sâu vào tiềm thức họ, khiến họ bỗng chốc trở thành kẻ tham ô, tham nhũng lúc nào không hay. Đáng buồn! Hóa ra, đồng tiền lại là nguồn cơn của tham ô! Tiền chỉ là tờ giấy bạc, nó ko mua được tất cả. Tiền liệu có mua được tình cảm con người, có mua được sự tôn trọng của người khác? Không đâu! Tiền ko mua được những thứ đó.
Tham ô-người ta cứ nghĩ nó là vấn đề nhẹ, giải quyết nhanh chóng, nhưng sự thật, nó lại như con đỉa cứ đeo bám xã hội hết đời này qua đời khác. Nó làm điên đảo tài chính-kinh tế và giết chế dân lành trong cơn túng quẫn tột cùng. Nếu các quan chức không tham ô thì liệu dân có đói khổ? Nếu các chủ thầu không ních cho đầy túi riêng thì liệu người công nhân có cùng quẫn? Số tiền mà những kẻ tham ô có được đâu phải do họ làm ra, mà đó là mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Nếu họ ko tham ô số tiền lên đến hàng chục tỉ đồng thì dân đã có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Chúng ta biết đây là vấn đề nan giải, còn tồn tại lâu. Nhưng nếu chúng ta cứ ngồi đây mà nói theo cái kiểu chỉ biết nói mà ko biết làm thì sao thay đổi dc. Mà thật ra thì tôi cũng giống như các bạn, là những kẻ thấp cổ bé họng, sao có thể lên tiếng? Mong rằng một quan chức nào đó đọc được, hãy ngẫm nghĩ lại xã hội này, hãy làm gì đó để giúp dân chúng
---
Ở Việt Nam, tham nhũng có những đánh giá cho là đang trở thành quốc nạn, là những lực cản nặng nề nhất cho sự phát triển, là một tệ nạn có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Theo đánh giá của Chính phủ thì “tình hình tham nhũng chưa có dấu hiệu giảm, vẫn diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với thủ đoạn ngày càng tinh vi, khó phát hiện.
Tình trạng sách nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà ở một bộ phận công chức, viên chức nhà nước vẫn còn diễn ra ở một số lĩnh vực. Tham nhũng, lãng phí trong quản lý và sử dụng đất đai, tín dụng, ngân hàng, quản lý vốn và tài sản tại một số doanh nghiệp nhà nước đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây bất bình trong xã hội”(1) . “Dịch bệnh” này cũng đang làm suy thoái một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; làm cản trở sự nghiệp đổi mới của đất nước, làm xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ, huỷ hoại quyền con người.
Dư luận xã hội thường cho rằng tham nhũng chỉ có ở người có chức, có quyền, lợi dụng quyền lực để mưu lợi ích riêng, lợi ích của nhóm; biểu hiện là tham ô, nhận hối lộ, cố ý làm trái pháp luật vì động cơ tham nhũng. Nhưng thực tế thì tham nhũng có thể thấy ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ người có địa vị thấp, đến người có địa cao trong xã hội. Người tham nhũng ít, nhìn người tham nhũng nhiều rồi làm theo, người không tham nhũng có khi bị người tham nhũng cô lập.
Tham nhũng đã lây lan đến tận người dân thường, chỉ cần họ có một chút chức trách gì đó nếu có cơ hội, như trông xe, gác đền, làm văn phòng, phát hàng cứu trợ; tệ hại hơn nữa là tham nhũng cả chế độ, chính sách cho thương binh, liệt sĩ, người có công, kể cả chính sách cho người đang sống và cả người đã chết, phi đạo đức đến mức lợi dụng niềm tin để đánh tráo cả hài cốt liệt sĩ để hưởng lợi...Thực trạng tham nhũng vặt và hối lộ trong khu vực công vẫn diễn ra phổ biến, nghiêm trọng.
“Hình hài” tham nhũng xuất phát từ những cơ hội được môi trường tạo ra ở cấp dưới cũng như ở cấp trên của hệ thống cấp bậc, tiền thất thoát, hối lộ cũng có thể xảy ra ngay trong cơ quan bảo vệ pháp luật, trong các đoàn thanh tra, kiểm toán; kể cả những công chức ở cấp thấp được giao quyền thu thuế, công chứng, cấp phát giấy phép...
Các công chức này có thể tạo cớ, yêu cầu thêm những thủ tục sách nhiễu, những trì hoãn..., dẫn tới xã hội xuất hiện một loại lệ phí không thành văn gọi là “làm luật”, “bôi trơn” để giải quyết nhanh công việc. Tuy nhiên, tham nhũng lớn thì thường xảy ra ở những cấp có quyền trong việc quyết định những hợp đồng lớn, trong việc cổ phần, tư nhân hoá hay phân phối ngân sách, những hạn ngạch nhập khẩu và trong việc điều chỉnh, bổ nhiệm các chức danh. Họ tìm kiếm lợi nhuận từ việc cho vay vốn, đấu thầu, bán giấy phép xuất nhập khẩu...
Một dạng tham nhũng tinh vi nhất lâu nay ít được đề cập đó là tham nhũng “Chính sách”, thông qua mua chuộc, chạy chọt việc sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mà ở đó đã tạo ra những cơ sở pháp lý, những điều khoản, kẽ hở để tham nhũng.
Nguyên nhân của tham nhũng là: Do tình trạng suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ, trong lúc đó cơ chế quản lý cán bộ, công chức còn có điểm không chặt chẽ, trách nhiệm không rõ ràng, kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính bị buông lỏng và thiếu sự nghiêm túc trong vấn đề giám sát và đánh giá đội ngũ cán bộ. Tình trạng tham nhũng không bị phanh phui tận gốc và dù có được phát hiện, kẻ tham nhũng cũng không bị trừng trị dứt điểm, đúng người, đúng tội. Tham nhũng cũng trở nên trầm trọng do pháp luật có điểm chưa hoàn chỉnh, còn kẽ hở, tư pháp không được kiểm soát, bộ máy phòng chống tham nhũng chưa đủ mạnh, hoạt động còn hạn chế.
Tham nhũng có chiều hướng phát triển cũng do việc bắt và xử kẻ tham nhũng thấp hơn so với những lợi lộc hái được. Thực tế xử lý có lúc “Giơ cao, đánh khẽ”, hoặc bao che cho nhau, né tránh, sợ “Rút dây động rừng”, vụ việc xảy ra thường dính líu đến tình cảm thân quen, họ hàng, vị trí lãnh đạo...
Không ít người đứng đầu vẫn còn bao che, dung túng cho hành vi tham nhũng của cán bộ do mình quản lý, không dám công khai. Việc tự kiểm tra phát hiện tham nhũng của một số cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu, phần lớn các vụ tham nhũng vừa qua đối với một số cán bộ bị phát hiện là do tranh giành địa vị, chạy chọt chức vụ không thành, nội bộ mất đoàn kết, đơn thư tố cáo, dư luận nhân dân phản ứng, báo chí vào cuộc, lên tiếng, các cơ quan chức năng mới vào cuộc điều tra, kết luận, xử lý.
Mặt khác hình thức xử lý, kỷ luật của Đảng và các cơ quan chức năng không nghiêm, thiếu tính răn đe, thậm chí có người bị kỷ luật rồi còn được trọng dụng, được điều đi bố trí cương vị lãnh đạo ở chỗ khác. Một số vụ án tham nhũng xử lý dùng giằng, kéo dài không dứt điểm, chuyển từ xử lý hình sự sang hành chính, hoặc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để xử dưới khung hình phạt, cho hưởng án treo, phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ. Đây cũng là nguyên nhân làm cho tham nhũng tiếp tục gia tăng.
Tham nhũng xẩy ra còn có nguyên nhân tiền lương không đủ chi tiêu cho cuộc sống tối thiểu, sự chênh lệch quá đáng giữa các lĩnh vực, các ngành trong thu nhập. Nơi nào mà tiền lương của ngạch công chức, viên chức thấp, các công chức phải tìm cách xoay xở để sống theo mức sống của tầng lớp trung gian bằng cách bổ sung vào tiền lương của họ những khoản thu nhập bất hợp pháp.
Trước thực trạng của tham nhũng hiện nay, Đảng và Nhà nước đã thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo: Từng bước hoàn thiện thể chế hành chính, mọi việc mua sắm, đấu thầu... được công khai minh bạch và ngày càng rõ ràng, biện pháp phòng ngừa đã triển khai sâu rộng, đồng bộ; việc phối hợp giữa các cơ quan phòng chống tham nhũng đã có sự chủ động, hiệu quả hơn. Chính phủ đã triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương bốn (khóa XI), Kết luận Hội nghị Trung ương năm (khóa XI) của Đảng, Nghị quyết số 82/NQ-CP của Chính phủ về công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí... Tuy nhiên, để tiếp tục ngăn chặn và đẩy lùi nạn tham nhũng có hiệu quả, trong thời gian tới cần tổ chức thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng chống tham nhũng, lãng phí. Nâng cao vai trò, trách nhiệm, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Cơ quan Kiểm tra của Đảng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng phòng chống tham nhũng của Nhà nước để kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời và công khai kết quả xử lý tổ chức, cán bộ, đảng viên có vi phạm.
Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc thu, chi ngân sách; việc chi tiêu công, nhất là mua sắm và đầu tư công; kiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng, đầu tư xây dựng. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ, nhất là trong các khâu tuyển dụng, quy hoạch, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật...
Có quy định cụ thể để điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Nghiên cứu ban hành quy định về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Từng bước thực hiện chế độ tiền lương theo hướng bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức có nguồn thu nhập chủ yếu bằng lương, đáp ứng mức sống tối thiểu và nâng dần lên mức sống khá trong xã hội.
Ba là, đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước; triển khai việc xây dựng vị trí việc làm và cơ cấu công chức, viên chức. Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng. Đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng, phức tạp mà dư luận xã hội quan tâm, lĩnh vực nhạy cảm.
Bốn là, tăng cường vai trò giám sát của cơ quan dân cử và nhân dân trong phòng chống tham nhũng. Ban hành quy chế về việc nhân dân giám sát tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, có biện pháp bảo vệ an toàn và kịp thời biểu dương, khen thưởng những cán bộ, đảng viên, người dân dũng cảm tố cáo, phát hiện hành vi tham nhũng và những tập thể, cá nhân có thành tích đấu tranh chống tham nhũng.
Năm là, đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan thường trực, tham mưu về công tác phòng chống tham nhũng. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc mua sắm công, trong đấu thầu xây dựng và quản lý dự án đầu tư xây dựng; trong quản lý tài chính, ngân sách nhà nước, các khoản thu nộp, đóng góp của nhân dân, các khoản viện trợ... Kiểm tra, giám sát, kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước; quản lý và sử dụng đất và một số lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, thể dục, thể thao...
Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực quản lý liên quan đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước. Quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức, minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng. Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán nhằm phòng ngừa tham nhũng.
Tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong giám sát thực hiện nhiệm vụ công, khuyến khích toàn dân tham gia phòng chống tham nhũng. Có giải pháp tích cực để bảo vệ người tố cáo, xem xét đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật về phòng chống tham nhũng.
Hy vọng xã hội sẽ chung tay góp sức để từng bước đẩy lùi nạn tham nhũng, xây dựng lại niềm tin, trả lại cho cuộc sống bình yên, tạo đà cho sự phát triển nhằm thực hiện thành công mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
---
Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể khái quát những tác hại chủ yếu của tham nhũng ở những điểm chính sau:
1. Tác hại về chính trị
Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đáng báo động. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chương trình, dự án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - cơ quan tiếp xúc với nhân dân hằng ngày, giải quyết những công việc liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhân dân. Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX chỉ rõ: “... Điều làm cho nhân dân còn nhiều bất bình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng...”1. Tác hại nguy hiểm của tệ tham nhũng, lãng phí ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc thực hiện chủ trương, chính sách về kinh tế - xã hội hoặc một nhiệm vụ quản lý nhất định của Nhà nước. Tổng quát hơn, sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân. Nhân dân chính là động lực, chủ thể, mục đích của cách mạng.
Để nhân dân mất niềm tin, tức là chúng ta đã đánh mất một sức mạnh vô cùng to lớn, thậm chí có tính chất quyết định đối với sự nghiệp cách mạng. Năm 1992, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, đã nêu: “Tệ tham nhũng, hối lộ, ăn chơi phung phí tài sản của nhân dân rất nghiêm trọng và kéo dài. Những hiện tượng đó gây tác hại rất lớn, làm tổn hại thanh danh của Đảng”[1]. Tháng 1-1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII đánh giá lại: “Tệ quan liêu, tham nhũng và suy thoái về phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với chế độ bị xói mòn”[2]. Tháng 4-2001, Đại hội Đảng lần thứ IX lại tiếp tục khẳng định: “Điều cần nhấn mạnh là: tình trạng tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và làm giảm lòng tin trong nhân dân”[3]. “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta"4. Nghị quyết số 14 ngày 15-5-1996 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng đã nêu khái quát tác hại của tệ tham nhũng như sau: Tình trạng tham nhũng đã và đang gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, làm xói mòn bản chất của Đảng và Nhà nước, làm tha hoá đội ngũ cán bộ, đảng viên, tiếp tay cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ta, uy hiếp sự tồn vong của chế độ”[4]. Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21-8-2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục nhấn mạnh: “Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”.
Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 tiếp tục khẳng định: “tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong quản lý, sử dụng đất đai, đầu tư xây dựng, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước, gây hậu quả xấu về nhiều mặt, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, tiềm ẩn các xung đột lợi ích, phản kháng về xã hội, làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo. Tham nhũng trở thành vật cản lớn cho thành công của công cuộc đổi mới, cho sức chiến đấu của Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ”.
2. Tác hại về kinh tế
Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của Nhà nước, của tập thể và của công dân.
Ở nước ta, trong thời gian qua, nạn tham nhũng diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây thiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước, tiền của, thời gian, công sức của nhân dân. Giá trị tài sản bị thiệt hại, bị thất thoát liên quan tới tham nhũng của mỗi vụ lên tới hàng chục, hàng trăm, thậm chí là hàng ngàn tỉ đồng. Đó là những con số lớn và đáng lo ngại so với số thu ngân sách hằng năm của nước ta. Hậu quả của hành vi tham nhũng không chỉ là việc tài sản, lợi ích của Nhà nước, của tập thể hoặc của cá nhân bị biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi tham nhũng, mà nguy hiểm hơn, hành vi tham nhũng còn gây thiệt hại, gây thất thoát, lãng phí một lượng lớn tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân. Ở mức độ thấp hơn, việc một số cán bộ, công chức quan liêu, sách nhiễu đối với nhân dân trong khi thực thi công vụ, lạm dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ khiến cho nhân dân phải mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để có thể thực hiện được công việc của mình như: xin cấp các loại giấy phép, giấy chứng nhận, hoặc các loại giấy tờ khác... Nếu xét từng trường hợp một thì giá trị vật chất bị lãng phí có thể không quá lớn, nhưng nếu tổng hợp những vụ việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong đời sống hằng ngày của nhân dân thì con số bị thất thoát đã ở mức độ nghiêm trọng.
3. Tác hại về xã hội
Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.
Trước những lợi ích bất chính đã hoặc sẽ có được khi thực hiện hành vi tham nhũng, nhiều cán bộ, công chức đã không giữ được phẩm chất đạo đức của người cán bộ cách mạng, không phục vụ nhân dân mà hướng tới các lợi ích bất chính, bất chấp việc vi phạm pháp luật, làm trái công vụ, trái lương tâm, đạo đức nghề nghiệp. Vì vậy, tham nhũng không chỉ phát sinh ở trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân hàng, đầu tư, xây dựng cơ bản, quản lý đất đai… mà còn có xu hướng lan sang các lĩnh vực từ trước tới nay ít có khả năng xảy ra tham nhũng như: văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao... Thậm chí, cả những lĩnh vực lẽ ra không thể có tham nhũng, cả dưới góc độ đạo đức và pháp luật, như lĩnh vực phúc lợi xã hội hay bảo vệ pháp luật. Hành vi tham nhũng xảy ra không ít trong các chương trình trợ cấp cho thương binh, liệt sĩ, các gia đình chính sách; tham nhũng tiền, hàng hoá cứu trợ xã hội, trong cả xét duyệt công nhận di tích lịch sử, văn hoá, thi đua khen thưởng. Thậm chí tham nhũng còn xảy ra trong các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Điều đáng báo động là việc tham nhũng dường như đã trở thành bình thường trong quan niệm của một số cán bộ, công chức. Đó chính là biểu hiện của sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức một cách nghiêm trọng. Hơn thế, tham nhũng còn xâm phạm những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, khi người thực hiện hành vi tham nhũng có khi là giáo viên, bác sĩ, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội - những người xây dựng đời sống, nền tảng tinh t hần cho xã hội.
---
1. Đến tăng trưởng và phát triển
Tham nhũng gây thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng của nhà nước. Một số công trình nghiên cứu về chi phí kinh tế của tham nhũng đưa ra số liệu, tham nhũng làm tăng 3 – 10% cho giá của một giao dịch để đẩy nhanh tiến độ, tổn thất khoảng 50% nguồn thu từ thuế.
Tham nhũng làm tăng chi phí đầu tư mà không có bất kỳ đảm bảo cung cấp cho sản xuất các kết quả cần thiết. Tham nhũng do đó làm tăng sự không chắc chắn và rủi ro gắn với đầu tư cũng như giảm ưu đãi cho các doanh nghiệp.
Mức độ tham nhũng cao có thể làm cho các nhà tài trợ đình chỉ, giảm bớt hoặc rút quỹ hỗ trợ phát triển.
Tham nhũng làm chậm đầu tư, làm giảm thu nhập và ảnh hưởng đến thành phần của chi tiêu của mọi người.
alk,ang
2. Đến nghèo đói
Chuyển hướng nguồn lực và lợi ích về phía người giàu và đẩy xa chúng khỏi người nghèo.
Xáo trộn các mô hình của chi tiêu công và đầu tư bằng cách khuyến khích vốn đầu tư lớn vào các dự án chuyên sâu để tăng tối đa biên nhận hối lộ. Điều này làm giảm nguồn lực sẵn có cho chính phủ để giảm nghèo thông qua giáo dục và các chương trình xã hội.
Đặt thêm một loại thuế ‘bổ sung” không chính thức mà người nghèo có khả năng chi trả thấp nhất.
Giảm thuế thu nhập cho chính phủ và vì thế giảm trong các dịch vụ công cộng có lợi cho người nghèo.
Lấy đi của người nghèo quyền hợp pháp và quyền lợi của họ…
dagdg
3. Đến nhân quyền
Tham nhũng là một trở ngại để thực hiện các quyền. Ví dụ, phải hối lộ giáo viên để một đứa trẻ mới có một xuất ở trường học thì quyền lợi của đứa trẻ đã bị vi phạm.
Tham nhũng là một hình thức đặc biệt nguy hại gây ra sự phân biệt đối xử. Mục đích của nó là để nhận được lợi ích, đặc ân từ những người nhận hối lộ.
Tham nhũng vi phạm quyền con người vì nó phân biệt và chống lại những người nghèo bằng cách từ chối họ quyền tham gia vào các dịch vụ công cộng và cản trở họ thực hiện quyền chính trị.
dagdg
4. Đến môi trường
Tham nhũng khuyến khích việc khai thác rừng, thủy sản và ruộng đồng một cách quá mức vì lợi ích theo đuổi lợi nhuận nhanh chóng mà không liên quan đến các nhu cầu lâu dài và sinh kế của dân địa phương.
Tham nhũng có thể tổn hại sức khỏe và gây nguy hiểm cho cuộc sống người dân địa phương Ví dụ: tham nhũng dẫn đến khai thác gỗ quá mức và bất hợp pháp, nó có thể làm hỏng chất lượng không khí và gây bệnh đường hô hấp và tử vong.
ldakgk
5. Đến văn hóa, xã hội
Tham nhũng tạo ra sự chia rẽ và đóng góp đáng kể cho bất bình đẳng và xung đột xã hội.
Tham nhũng làm giảm sự tôn trọng đối với chính quyền.
Tước quyền của người dân và khuyến khích ý thức của họ phải nhượng bộ.
Trong điều kiện thực tế, tham nhũng có thể chuyển hướng các nguồn lực từ các chương trình xã hội với một số hậu quả tiêu cực.
Người nghèo sẽ ngày càng bị cách ly và ý thức của họ về loại trừ xã hội sẽ được tăng cường.
Phụ nữ sẽ đặc biệt có khó khăn trong việc phát triển năng lực của mình.
Trong một xã hội tham nhũng, nó trở nên khó khăn ơn để thuyết phục mọi người làm việc cùng nhau vì lợi ích chung
---
Theo quan điểm chung, tham nhũng là việc quan chức chính phủ sử dụng quyền lực công cho lợi ích
tư. Chẳng hạn như việc quan chức ở nhiều quốc gia đòi phí cho việc cung cấp giấy phép kinh doanh
hoặc chứng chỉ hành nghề, cho việc chuyển hàng qua cửa khẩu, hoặc ban hành điều lệ ngăn cản tự do
cạnh tranh. Tham nhũng khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là tại các nền kinh tế đang chuyển đổi.
Nơi mà thể chế pháp lý chưa kịp phát triển lên theo sự mở rộng của thị trường, trong khi những thiết
chế truyền thống, chẳng hạn như giá trị đạo đức của người làm công hay của người trí thức, lại bị suy
đồi quá nhanh chóng. Điều đó đặt ra 3 vấn đề cần xem xét: (1). Tham nhũng lan tỏa theo cơ chế nào?
(2) Nó tác động gì tới tăng trưởng kinh tế? và (3) Giải pháp chống lại sự lây lan của tham nhũng là gì?
Chúng ta học được gì từ các kinh nghiệm thành công hay thất bại trên thế giới?
1. Cơ chế lan truyền của nạn tham nhũng
Hãy xét trường hợp đơn giản nhất, khi viên chức chính phủ kiểm soát việc cung cấp chỉ một dịch vụ
công, như quota xuất nhập khẩu, hay giấy phép mở trường học hay bệnh viện tư. Trên thực tế, ngừơi
viên chức có quyền trì hoãn hoặc chối từ việc cung cấp những loại giấy phép đó. Vì vậy, họ có thể đòi
hỏi cá nhân hay tổ chức kinh doanh trả một khoản phí “bôi trơn” nhằm đẩy nhanh những thủ tục cấp
giấy phép. Theo Shleifer (Harvard), ta có thể chia hoạt động thu phí thành hai loại: không chiếm dụng
và chiếm dụng. Ở loại hình thứ nhất, viên chức thu một khoản phí chính thức cho việc cung cấp giấy
phép, và đem nộp khoản đó vào công quỹ; và chỉ giữ lại cho mình khoản phí bôi trơn. Trong trường
hợp thứ hai, viên chức chẳng nộp cái gì vào công quỹ hết, và chỉ đơn giản là ém luôn khoản giao dịch.
Vì vậy, về thực chất khoản tiền mà cá nhân trả cho viên chức chỉ còn là phí bôi trơn. Nó có thể thấp
hơn phí chính thức quy định bởi luật lệ. Và thủ tục cũng trở nên ít nhiêu khê hơn. Chính vì vậy, dạng
hình tham nhũng này rất hấp dẫn đối với cá nhân hay tổ chức kinh doanh.
Cần phải nói rằng, việc viên chức cho phép mình thu phí bôi trơn là do có sự nhập nhằng giữa quyền
được ủy thác với việc sử dụng quyền đó trên thực tế. Chính vì vậy, ở các nền kinh tế chuyển đổi, khi
tiền lương không tương xứng với trách nhiệm; và trách nhiệm không được quy định rõ ràng bởi luật lệ,
thì tham nhũng có cơ lan tràn. Việc trừng phạt viên chức tham nhũng có thể làm thay đổi mức họ đòi
hối lộ, nhưng về cơ bản sẽ không làm thay đổi tình hình. Hơn nữa, nếu việc trừng phạt kẻ tham nhũng
chỉ có tính thí điểm, thì rủi ro bị trừng phạt sẽ rơi nhiều nhất vào những kẻ quá lộ liễu. Vì vậy, nó sẽ
thúc đẩy hoạt động tham nhũng trở nên tinh vi hơn, ẩn ngầm hơn. Nhưng tuyệt nhiên, sự trừng phạt
làm gương đó sẽ không loại trừ được nạn tham nhũng.
Nếu sự nhập nhằng giữa quyền được ủy thác với việc sử dụng quyền đó trên thực tế cho phép người
giữ quyền có thể kiếm lời từ phí bôi trơn, thì trên thực tế, sẽ có một cuộc cạnh tranh giữa các viên chức
nhằm được bổ nhiệm vào các vị trí đó. Dĩ nhiên là người mà chỉ biết sống bằng tiền lương thì sẽ không
thể lấy được công việc như vậy. Ngược lại, người đã nhận hối lộ sẽ có khả năng trả cao hơn để đuợc bổ
nhiệm vào vị trí đó. Sự cạnh tranh giữa các viên chức, do vậy,có xu hướng đẩy nạn tham nhũng gia
tăng. Vì thế, một trong các cách chống tham nhũng là làm rõ các chỉ tiêu khách quan, minh bạch, nhằm
đánh giá đúng chất lượng công chức. Và ràng buộc sự thăng tiến của cá nhân viên chức với những
thành tích cụ thể mà anh ta đã đạt được.
Trên thực tế, cơ chế thúc đẩy sự lan truyền của tham nhũng không chỉ xuất phát từ sự cạnh tranh giữa
các viên chức vào những vị trí béo bở. Quan trọng hơn, nó đến từ sự cạnh tranh giữa các cá nhân hay tổ
chức kinh doanh. Chẳng hạn, nếu một nhà nhập khẩu có khả năng hối lộ hải quan để có thể nhập hàng
nhanh hơn, với giá rẻ hơn, thì nó có thể đánh bật các đối thủ cạnh tranh trên thị trường hàng hóa. Nếu
hầu hết các doanh nghiệp phải trốn thuế, thì ai không làm như vậy sẽ không thể tồn tại trên thương
trường. Chính ở điểm này, có sự khác biệt giữa tham nhũng không chiếm dụng và dạng có chiếm dụng.
Dạng hình thứ hai dễ lan truyền hơn vì có sự phù hợp về lợi ích giữa người trao và người nhận phí bôi
trơn. Ví dụ, ở một số địa phương tại Việt Nam, người ta quan sát thấy xe chở khách thường hay vi
phạm quy định về vệ sinh và an toàn giao thông. Chẳng hạn như chở súc vật cùng người, hoặc chở
hàng lậu, hoặc chở quá số lượng khách cho phép. Thay vì phải nộp toàn bộ tiền phạt theo luật, cảnh sát
•
Khoa Kinh Tế, trường ĐHQG, TP HCM 2
giao thông có thể “cưa đôi” với lái xe khoản phí đó. Tài xế chỉ phải trả có 50% tiền phạt; còn người
cảnh sát địa phương ém khoản giao dịch, không nộp vào quỹ công. Rõ ràng là dạng hình tham nhũng
có chiếm dụng này khó loại trừ hơn dạng hình không chiếm dụng. Vấn đề là dạng sau đặt lợi ích của
người trao và người nhận hối lộ đối nghịch nhau. Hơn thế nữa, ở dạng không chiếm dụng, giao dịch
được ghi lại trong sổ sách, nên nó sẽ làm dễ dàng cho việc thẩm tra lại, nếu có sự tố cáo với cơ quan
luật pháp về tệ tham nhũng. Điều này gợi ý rằng, tạo lập các cơ chế kiểm toán đơn giản, hữu hiệu nhằm
giảm bớt việc chiếm dụng các khoản nộp vào quỹ công sẽ cho phép làm giảm tham nhũng.
Gợi ý nêu trên càng có ý nghĩa, khi tham nhũng có chiếm dụng còn thể hiện dưới dạng bòn rút nguồn
quỹ công đưa vào tài khoản tư. Marcos ở Philippines là trường hợp điển hình với việc lấy trộm hàng tỷ
dollars từ tiền viện trợ và xuất khẩu để xây lâu đài, vườn thú cá nhân. Nhưng vụ PMU18 ở Việt Nam,
với việc quan chức Bộ giao thông sử dụng hàng triệu dollars tiền vay ODA để đánh bạc cho thấy tham
nhũng đã ảnh hưởng thế nào tới việc phát triển hạ tầng cho nền kinh tế, và làm tăng gánh nặng nợ nần
cho thế hệ tương lai. Hiện tại, mỗi năm nền kinh tế Việt Nam phải trả nợ nước ngoài khoảng 2 tỷ
dollars (theo báo Tuổi trẻ).
2. Tác động của tham nhũng tới phát triển kinh tế
Những phân tích trên đây gợi ý rằng, tham nhũng có tác động trực tiếp làm tăng phí tổn sản xuất do
các doanh nghiệp phải trả phí bôi trơn. Ở nước Nga sau cải cách, người ta đánh giá rằng, số tiền chi vào
việc hối lộ vượt tổng chi tiêu ngân sách cho giáo dục, khoa học, và chăm sóc sức khoẻ. Tham nhũng
làm chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ ở Nga bị đội lên từ 5 đến 15%. Mỗi năm ở đó có khoảng 3000
vụ tham nhũng bị lôi ra ánh sáng; nhưng đó mới chỉ là cái chóp của tảng băng ngầm khổng lồ. Hầu hết
các doanh nghiệp ở Nga khi được hỏi đều trả lời rằng họ phải trả tiền hối lộ cho đăng ký kinh doanh,
cho kiểm dịch vệ sinh, và thanh tra thuế. Ở Balan, Rumani, và Slovakia, con số này là vào khoảng từ
20 đến 40%.
Một trong những nguyên lý cơ bản nhất trong kinh tế học là doanh nghiệp sẽ không đầu tư nếu họ
không giữ lại được thành quả từ nỗ lực của mình. Sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp năm 2000 ở
Nga, Balan, Rumani, và Slovakia, Mcmillan (Stanford) đã chỉ ra rằng, ý nguyện đầu tư từ lợi nhuận để
lại của doanh nghiệp có mối liên hệ rõ ràng tới sự nhạy cảm của họ đối với tham nhũng. Những doanh
nghiệp chịu rủi ro bị đòi tiền mãi lộ cao nhất có mức đầu tư thấp hơn nơi ít rủi ro nhất tới 40%. Ở
Trung Quốc vào những năm 1980, người ta cũng nhận thấy tình hình tương tự. Quan chức các cấp
thường “thăm viếng” các doanh nghiệp tư nhân và đòi phí phụ trội. Một điều tra vào năm 1988 tại tỉnh
Liaoning cho thấy, chỉ riêng thuế và phí phụ trội đã chiếm tới 63% lợi nhuận của doanh nghiệp. Gánh
nặng thuế khóa đó làm doanh nghiệp tư nhân khó mà tồn tại, trừ phi là trốn thuế hoặc che dấu hoạt
động kinh doanh và thu nhập của họ (China Economic Almanac, 1989, p. 107).
Sử dụng dữ liệu liên quốc gia, Barro (Harvard) đã chỉ ra rằng tham nhũng càng nhiều, thì đầu tư càng
ít, tăng trưởng càng thấp. Nhưng cũng có một vài ngoại lệ. Indonesia dưới thời Suharto đã tăng trưởng
rất nhanh trong 3 thập kỷ liên tục, cho dù tham nhũng lan tràn. Và Việt Nam hiện nay, mức tăng trưởng
cao trên 8% đã kéo dài cả thập kỷ và không có dấu hiệu gì cho thấy xu hướng này sẽ bị chậm lại, cho
dù tham nhũng đã trở thành vấn đề nổi cộm. Liệu sự phát triển thị trường và tăng trưởng có thể cùng
tồn tại với tham nhũng hay không? Hãy nhìn lại bài học từ Indonesia.
Vào cuối thập kỷ 1960, Indonesia là một trong các quốc gia nghèo nhất thế giới, hơn cả Bangladesh,
Nigeria, và Ghana. Dưới thời Suharto, ổn định vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát. Cải cách
nông nghiệp thúc đẩy sản xuất lương thực, và xuất khẩu dầu thô đưa lại ngoại tệ. Tăng trưởng bền vững
tiếp sau đã đưa Indonesia trở thành một nước có thu nhập trung bình trên thế giới. Vào đầu năm 1992,
thu nhập đầu người tăng gấp 3 lần so với năm 1960. Tỷ lệ người sống dưới mức nghèo khổ giảm từ
60% vào các năm 1970 xuống còn 11% vào năm 1996, chỉ một năm trước khi nổ ra khủng hoảng tài
chính Châu Á.
Trong thời gian đó, gia đình Suharto và nhóm lợi ích của nó trở nên giàu có vô biên; và bị coi là đã
bơm hàng chục tỷ dollars vào các tài khoản của họ ở nước ngoài. Theo nghiên cứu của Mcmillan, ảnh
hưởng của gia đình Suharto rất sâu và rộng. Họ có cổ phần ở hơn 1200 công ty, bao gồm ngân hàng,
hàng không, hàng hải, khách sạn, viễn thông, siêu thị, truyền hình, và báo chí. Thành viên gia đình
nhận được sự miễn thuế hoặc trợ cấp hào phóng, và kiếm được những hợp đồng chính phủ không thông
qua đấu thầu cạnh tranh. Các công ty nước ngoài muốn làm kinh doanh ở Indonesia thường phải lấy 3
con em của gia đình Suharto như là đối tác hoặc người quản lý. Một số đánh giá chỉ ra rằng, Suharto
“lạm dụng quyền hành một cách tùy tiện để lập nên những công ty độc quyền, thao túng các hợp đồng
chính phủ, và sử dụng doanh nghiệp nhà nước cho lợi ích của riêng mình.”
Nếu so sánh các chỉ số tham nhũng, thì Indonesia vào thời Suharto còn tồi tệ hơn nhiều so với nước
Nga dưới thời Einsin. Vậy sao ở Indonesia thị trường vẫn mở rộng nhanh chóng, trong khi ở Nga, thị
trường lại bị bóp nghẹt?
Vấn đề là ở Nga sau tự do hóa, mỗi cơ quan trong bộ máy công quyền trở thành một ốc đảo. Nhân viên
thuế vụ, cán bộ hải quan, nhân viên ngân hàng nhà nước, người cấp chứng chỉ kinh doanh, tất cả đều có
quyền lực riêng biệt trong việc đòi doanh nghiệp phải nộp phí bôi trơn. Mỗi một trong số họ đều tìm
cách đòi càng nhiều càng tốt tiền hối lộ; vì ai cũng biết rằng nếu không cố “vắt” nốt khoản tiền còn
đọng lại ở doanh nghiệp, thì ai đó sẽ lấy mất. Tình hình còn tồi tệ hơn vì nhiều điều lệ bổ sung, những
quy định dưới luật được ban hành, mỗi nơi một khác. Khiến cho sau khi trả xong hối lộ, cá nhân doanh
nghiệp vẫn thấy tiếp tục bị nhũng nhiễu. Khi mà quan chức các cấp đều tìm cách vắt kiệt hầu bao của
nó, doanh nghiệp bị mất đi ý nguyện đầu tư. Logic của cuộc chơi này cũng tương tự như việc cạnh
tranh săn bắt cá. Ai cũng tìm cách săn bắt cá càng nhiều càng tốt, vì nếu không ai đấy sẽ bắt mất. Kết
quả là vùng cá bị cạn kiệt vì cá mất khả năng tái sinh sản. Dĩ nhiên, nếu chỉ có một chủ độc quyền khai
thác cả vùng cá, thì anh ta sẽ quan tâm hơn đến việc khai thác cá lâu dài, hơn là làm cạn kiệt nó một
cách nhanh chóng. Đó là trường hợp của Suharto.
Indonesia lúc đó giống như một vương quốc với một ông vua mà quyền lực không bao giờ bị đặt thành
vấn đề. Suharto tự mình chỉ định và cất nhắc các chức vụ trong chính phủ. Là người lính trước khi trở
thành tổng thống sau vụ đảo chính 1967, ông ta biến bộ máy quân đội thành công cụ phục vụ cho mục
đích chính trị của mình. Ông ta đưa sĩ quan vào bộ máy hành chính. Các doanh nghiệp lớn mua sự bảo
hộ bằng việc thuê những sĩ quan về hưu vào làm, mà họ có thể tố cáo những quan chức quá nhũng
nhiễu. Hối lộ nhỏ ở các cấp thấp trong bộ máy chính quyền là vô vàn. Nhưng ở cấp cao, Suharto
thường xuyên cách chức những quan chức mà tham nhũng của họ đã trở nên quá tai tiếng. Một dẫn
chứng điển hình là ông ta sa thải toàn bộ bộ máy hải quan vào năm 1985 do sự tham nhũng quá mức
của nó. Như đã gợi ý, việc làm của Suharto không thể và không nhằm loại trừ tham nhũng. Ông ta chỉ
tìm cách độc quyền kiểm soát nó.
Mục đích tối hậu của Suharto là làm nguồn tiền đổ vào gia đình và thuộc hạ của ông ta là lớn nhất.
Trong cái vương quốc đó, luôn rõ ràng ai cần phải hối lộ và bao nhiêu. Tiền hối lộ sau đó được chia
một cách tương xứng cho các quan chức có liên quan, mà họ đồng ý không đòi hỏi gì thêm nữa từ
doanh nghiệp. Tham nhũng được kiểm soát chặt chẽ, do vậy, không cản trở đầu tư. Khi giới kinh doanh
được bảo đảm rằng không ai có quyền chiếm đoạt thêm nữa lợi nhuận của mình, thì họ đầu tư và nền
kinh tế phát triển. Những người ở trên đỉnh cao của quyền lực trở nên giàu có vô biên, vì tiền hối lộ
tăng cùng với lợi nhuận.
Hệ thống của Indonesia dựa vào quyền lực của chỉ một cá nhân, và sụp đổ cùng với nó. Sự ra đi của
Suharto một phần là do khủng hoảng tài chính châu Á, phần khác là do người dân đã hết chịu nổi đế
chế của ông ta. Suharto phải từ chức sau khi đàn áp vụ bạo động năm 1997 của sinh viên và dân
thường, nổ ra ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính, làm hơn ngàn người chết. Bài học từ Indonesia là,
không thể có một sự phát triển bền vững dựa trên nền tảng chính trị bị chi phối bởi tham nhũng. Quyền
lợi của các doanh nghiệp phải dần được đảm bảo bởi luật pháp. Doanh nghiệp không thể dựa vĩnh viễn
vào việc mua sự bảo hộ từ quyền lực của một cá nhân hay nhóm lợi ích cấu kết với nó. Nói khác đi,
quan hệ vương triều phải dần được thay thế bởi các thể chế kinh tế và chính trị tích cực, như là nền
tảng cơ bản cho hoạt động kinh tế.
3. Tạo lập thể chế công quyền cho phát triển kinh tế
Trung Quốc là một trường hợp khác về việc củng cố và phát triển hệ thống hành chính và chính trị.
Trong tiến trình cải cách và tăng trưởng đầy ngoạn mục của nó từ cuối những năm 1970, viên chức
chính quyền địa phương ở Trung Quốc ngày càng đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng cơ sở hạ
tầng, thúc đẩy kinh doanh địa phương, và thu hút đầu tư nước ngoài. Vai trò đó của họ đối ngược lại
với tệ tham nhũng của quan chức ở các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển. Điều gì đã xảy ra ở
Trung Quốc?
4
Trung Quốc là một quốc gia tập quyền, với Trung ương Đảng cộng sản là đầu não của hệ thống chính
trị nhiều cấp, mà nó có quyền lực tối cao trong việc bổ nhiệm và bãi miễn các viên chức thuộc hệ thống
đó. Cấu trúc tập trung cao về kiểm soát nhân sự đó vẫn còn tồn tại y nguyên cho đến tận bây giờ.
Tỉnh thành là đơn vị hành chính cấp hai trong hệ thống thứ bậc chính trị ở Trung Quốc. Ngoại trừ Đài
loan, Hong Kong, và Macau, Trung Quốc có 31 đơn vị cấp tỉnh – 4 trung tâm hành chính và kinh tế là
Bắc kinh, Thượng hải, Thẩm quyến (Tianjing), và Chongqing, 22 tỉnh và 5 khu tự trị. Cấp tỉnh được
xếp ngang hàng với cấp bộ ở chính phủ Trung ương. Vị trí đứng đầu ở tỉnh là bí thư tỉnh ủy, tiếp sau là
chủ tịch tỉnh. Điều đó thể hiện tính song trùng giữa đảng cộng sản và tổ chức chính phủ ở mỗi bậc
trong hệ thống đẳng cấp chính trị ở Trung Quốc.
Trung Quốc bắt đầu công cuộc đổi mới rộng khắp của nó từ năm 1978. Như ở hầu hết các nền kinh tế
chuyển đổi, cải cách đặt ra một mâu thuẫn cơ bản giữa một bên là các đơn vị hành chính và kinh tế đòi
hỏi quyền tự chủ cao hơn, với bên kia là nhà nước trung ương, bị mất quyền kiểm soát, và muốn hạn
chế nhịp độ tự do hóa. Cụ thể là, quyền lực của cơ quan trung ương giám sát có hiệu quả hoạt động của
các đơn vị trực thuộc tại các tỉnh bị suy giảm mạnh. Trong hoàn cảnh như vậy, việc đẩy quá nhanh nhịp
độ tự do hóa tất yếu sẽ dẫn đến nạn cướp bóc tài sản công trên mức độ rộng khắp như ở nước Nga, hay
việc quan chức địa phương tùy tiện ức hiếp doanh nghiệp tư nhân như ở tỉnh Liaoning, Trung Quốc.
Thách thức trên đây đã đưa cải cách ở Trung Quốc đi theo một hướng khá đặc thù. Phi tập trung hóa
cho phép cấp tỉnh ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong quản lý kinh tế so với cấp bộ ở trung
ương, thể hiện tầm quan trọng chiến lược của lãnh đạo cấp tỉnh trong cải cách. Theo Qian (giám đốc
trung tâm nghiên cứu Trung Quốc, đại học Berkely), cán bộ cấp tỉnh được trao quyền tự chủ ngày càng
cao trong việc điều tiết nguồn lực kinh tế ở địa phương của họ. Những quyết định chính trị và kinh tế
của họ ảnh hưởng quan trọng đến thành tựu kinh tế của những địa phương đó. Bởi vậy, họ cũng chịu
hoàn toàn trách nhiệm cho hệ quả của những quyết định của mình. Ở mức độ nào đó, cán bộ cấp tỉnh
cũng giống như người quản lý các cấp ở tập đoàn hay công ty lớn với nhiều bộ phận. Họ phải chịu
trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị mình.
Đặc thù cơ bản của cải cách của Trung Quốc, do vậy, là việc trao quyền tự chủ cao trong quản lý, gắn
kết với việc kiểm tra chặt chẽ và đánh giá nhân sự sát sao. Nhìn kỹ hơn, sự gắn kết đó đòi hỏi phải có
cải cách hệ thống quản lý nhân sự đi kèm với cải cách kinh tế, ngay từ khi khởi đầu quá trình chuyển
đổi. Bước ngoặt quan trọng nhất trong quản lý nhân sự là sự thay đổi toàn diện chỉ tiêu đánh giá viên
chức nhà nước. Sự trung thành chính trị, mà nó là chỉ tiêu duy nhất trước cải cách cho sự thăng tiến,
nhường bước cho năng lực quản lý kinh tế và các chỉ tiêu đo lường khác về nghiệp vụ. Mặc dù rằng sự
trung thành chính trị vẫn hết sức quan trọng, ba yếu tố mới được đưa vào quá trình đánh giá: Viên
chức phải trẻ về độ tuổi, có trình độ học vấn đích thực, và thể hiện được sự thành thạo trong quản lý
hành chính. Trên tất cả, thành tựu kinh tế địa phương trở thành chỉ tiêu quan trọng bậc nhất cho việc
cán bộ cấp cao đánh giá nhân viên cấp dưới. Việc nhân viên các cấp lúc nào cũng quan tâm xem mình
được đánh giá thế nào về thành tựu quản lý so với đồng nghiệp thể hiện thực tiễn đó. Báo cáo chính
phủ hoặc sách niên giám thống kê thường xuyên chứa đựng những thông tin chi tiết về việc xếp hạng
đánh giá các tỉnh, bằt đầu từ mức tăng trưởng GDP, cho tới sản lượng thép, cây số đường được xây
dựng, số vốn đầu tư thu hút được, và khả năng tạo công ăn việc làm.
Vào năm 1980, lần đầu tiên trong lịch sử, ban chấp hành trung ương chính thức phế bỏ việc giữ trọng
trách suốt đời của cán bộ đảng và nhà nước và yêu cầu cán bộ phải về hưu truớc tuổi 65 nếu họ không
được đề cử vào những chức vụ cao hơn. Theo chính sách mới, nhiều cán bộ có thâm niên cao ở tỉnh
được thuyết phục rời bỏ vị trí để nhường bước cho lớp trẻ. Trên thực tế, việc về hưu bắt buộc, cũng như
nhiều chính sách khác, không phải lúc nào cũng được chấp hành nghiêm chỉnh.
Mặc dù vậy, cải cách kinh tế và chính trị đã buộc lãnh đạo cấp tỉnh phải làm việc trong một khung khổ
về chuẩn mực nghề nghiệp, được xác định một cách rõ ràng trong lòng cấu trúc chính trị nhiều cấp ở
Trung Quốc. Cơ hội thăng tiến được đặt ra trước cho bí thư tỉnh ủy, thành viên của hội đồng tỉnh, và ủy
ban hành chính tỉnh. Tỉnh trưởng, ở cấp dưới ngay sau bí thư đảng ủy, cũng có thể được bổ nhiệm vào
chức bí thư tỉnh, hoặc vị trí tương đương ở cấp bộ hay ủy ban ở trung ương.
Bên cạnh việc thăng tiến, cho thôi việc, bao hàm cả việc cho về hưu hoặc giáng chức, cũng được sử
dụng như một nhân tố kích thích. Cũng cần phải nêu thêm rằng, khác với các nước phương tây, nếu
một viên chức ở Trung Quốc bị cho thôi việc, thì gần như chẳng còn đường để anh ta kiếm việc ở nơi 5
khác nữa. Điều đó gợi ý rằng, đe doạ bị thôi việc có ảnh hưởng mạnh đến hành vi của viên chức, buộc
họ phải thận trọng khi ra các quyết định quản lý.
Sử dụng dữ liệu thống kê, một nghiên cứu gần đây của khoa kinh tế, đại học Stanford, kết hợp với
trường quản trị Thanh Hoa (Guanghua school of management), đại học Bắc Kinh, đã chỉ ra rằng, cơ hội
thăng tiến của lãnh đạo cấp tỉnh ở Trung Quốc tăng cùng với thành tựu kinh tế của địa phương họ; và
khả năng bị thôi việc giảm đi cùng với thành tựu kinh tế đó. Điều này có phần trùng hợp với nghiên
cứu của Besley và Case, theo đó, thành tựu kinh tế của từng tiểu bang so với các bang kế cận ở Mỹ có
ảnh hưởng tích cực tới triển vọng được bầu lại của thống đốc bang.
Mối quan hệ giữa sự thăng tiến của các cấp lãnh đạo với thành tựu kinh tế của địa phương đã được nêu
lên sớm nhất bởi Tiebout (đại học Chicago) từ năm 1956. Nếu sự thăng tiến chính trị được ràng buộc
với thành tựu kinh tế, thì có nghĩa là sẽ có sự cạnh tranh giữa các bang hoặc tỉnh thành, nhằm thu hút
nguồn lực cho phát sự phát triển kinh tế của địa phương mình. Ở Mỹ, học thuyết đó được biết đến với
cái tên là “người dân bầu bằng bước chân của mình!” (people vote by their feet!) Tại mỗi bang, để cực
đại nguồn thu thuế, chính quyền bang phải cung cấp các dịch vụ công, từ hệ thống giao thông thuận lợi,
cho đến các luật lệ bảo đảm quyền sở hữu trên thực tế của người kinh doanh. Khi đó, nếu viên chức địa
phương của một bang tìm cách nhũng nhiễu đòi hối lộ, thì cá nhân nhà kinh doanh sẽ tìm đến bang
khác, mà quyền sở hữu của họ được bảo vệ hữu hiệu hơn bởi luật pháp tiểu bang. Ngược lại, khi sự
phát triển của một tiểu bang thu hút mạnh nguồn lao động và tài chính tới nó, thì các tiêu chuẩn sàng
lọc cũng được đặt ra chặt chẽ hơn, cho phép tuyển chọn những nguồn lực hiệu quả nhất chảy vào địa
phương. Kết quả là kinh doanh phát triển lên theo cùng nhịp với sự tiến bộ về thể chế. Và nguồn thu
thuế cũng tăng lên cùng với lợi nhuận. Sức mạnh kinh tế đem lại sức mạnh chính trị cho lãnh đạo địa
phương.
Ở Trung Quốc, sự thi đua giữa các cá nhân và tổ chức nhà nước bao hàm rằng, nếu một viên chức tìm
cách đòi hối lộ, thì viên chức hay tổ chức khác, hoặc địa phương khác, có thể sẽ cung cấp cùng một
dịch vụ tốt hơn, nhằm thu hút nhiều “người mua” hơn đến với mình. Vì rằng, những thành tựu quản lý
đó sẽ được ghi lại rất tỉ mỉ, và có tác động trực tiếp tới cơ hội thăng quan, hay khả năng bị giáng chức
của họ. Qian (Berkely) và Maskin (Harvard) còn chỉ ra rằng, Trung Quốc cho đến bây giờ vẫn kiểm
soát khá chặt thị trường vốn và ngoại hối. Vốn đầu tư có thể tự do chảy vào Trung Quốc, nhưng không
dễ dàng chảy ra. Một khi đã nằm trong nền kinh tế, nguồn vốn đó có thể tự do chảy tới nơi, mà nhà đầu
tư cho là có triển vọng lợi nhuận tốt nhất. Cũng hệt như vậy, lao động ở Trung Quốc có thể dịch
chuyển khá năng động tùy thuộc vào khả năng của cá nhân đáp ứng cơ hội về việc làm. Như vậy, ở địa
phương mà tham nhũng hoành hành, thì vốn và lao động năng suất cao có xu hướng bị “đuổi” khỏi đó,
và chảy về nơi, mà cơ sở hạ tầng và pháp lý cho kinh doanh phát triển hơn. Điều này cũng lý giải tại
sao những cơ chế hạch toán rõ ràng, minh bạch, cho phép xếp hạng môi trường kinh doanh giữa các
tỉnh thành lại được hoàn thiện và làm cho phổ biến nhanh tới như vậy ở Trung Quốc. Vai trò chính của
những thể chế đó là định hướng các dòng chảy của vốn, lao động, và phối hợp nỗ lực quản lý giữa các
khu vực.
4. Kết luận
Như North đã nói: Sự phát triển và giàu có của một quốc gia không phải chủ yếu là do nó có tài
nguyên giàu có như dầu mỏ. Cũng không phải chỉ do sự cần cù của số đông người lao động. Mà chủ
yếu là do những yếu tố kích thích, gắn kết bên trong những thể chế về quản lý và tổ chức, cho phép
thúc đẩy đầu tư và phát triển. Một sự phát triển lâu bền không thể dựa trên một thể chế quản lý bị lũng
đoạn bởi tham nhũng. Và một nền kinh tế lạc hậu không phải là không bao giờ có thể đuổi kịp các nước
tiên tiến. Vấn đề là phải tạo lập cho được hệ thống công quyền tích cực, nhằm bảo đảm quyền sở hữu
của các cá nhân, và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com