1001 thu1
VỀ BẬC THẦY TÂM LINH ECKHART TOLLE
Eckhart Tolle là bậc thầy tâm linh đặc sắc và gây hứng thú của thời đại chúng ta. Ông không phải là người ủng hộ một tôn giáo hay một truyền thống đặc biệt nào đó, và không bài trừ tôn giáo nào từ chúng. Luận thuyết của ông đã giúp hàng ngàn người tìm được an bình bên trong và hoàn thành nhiều hơn trong cuộc đời của họ. Bản chất luận thuyết của ông là biến đổi nhận thức tập thể và cá nhân của nhân loại – đây là sự thức tỉnh tâm linh toàn cầu.
BẬC THẦY TÂM LINH ECKHART TOLLE
GIỚI THIỆU VỀ ECKHART TOLLE
Eckhart Tolle là một trong những bậc thầy tâm linh đặc sắc và gây hứng thú nhất của thời đại chúng ta. Ông giảng dạy và du hành khắp thế giới.
Eckhart Tolle không phải là người ủng hộ một tôn giáo hay một truyền thống đặc biệt nào đó, nhưng ông cũng không bài trừ một tôn giáo nào từ chúng. Luận thuyết sâu sắc của ông, đồng thời cũng đơn giản và có tính thực hành, đã giúp cho hàng ngàn người tìm được an bình bên trong và hoàn thành nhiều hơn trong cuộc đời của họ. Bản chất luận thuyết của ông là biến đổi nhận thức tập thể và cá nhân của nhân loại - đây là sự thức tỉnh tâm linh mang tính toàn cầu.
Eckhart Tolle sinh năm 1948 tại Đức và hoàn thành đại học tại trường Tổng hợp Cambridge của Anh. Vào độ tuổi 29, sự biến đổi tâm linh sâu sắc thực tế đã làm tan biến nhân cách già cũ của ông và làm thay đổi đường hướng cuộc đời một cách triệt để. Ông dành một số năm tiếp theo cho sự tìm hiểu, thống nhất và làm sâu sắc hơn sự biến đổi đó, và được ghi nhớ như một điểm khởi đầu của cuộc du hành bên trong mãnh liệt. Sau này ông bắt đầu làm việc với những người riêng rẽ và những nhóm nhỏ với tư cách người tư vấn và thầy dạy tâm linh.
Eckhart Tolle là tác giả của cuốn sách “Sức Mạnh Của Hiện Tại” (The Power of Now, bản tiếng Việt đã được NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh ấn hành quý I năm 2008, 400 trang, giá bìa 62.000/cuốn) - lưu ý: dịch giả Ngô Trung Việt còn dịch tên sách là “Quyền Năng Của Bây Giờ“. Cuốn sách này đã được New York Times coi là bán chạy nhất. Nó được thừa nhận rộng rãi như một trong những cuốn sách tâm linh có ảnh hưởng nhất của thời đại chúng ta. Sách đã được dịch ra trên 30 ngôn ngữ và đã được xuất bản với số lượng in hơn 2 triệu bản.
Ngoài ra, Eckhart Tolle còn có 2 tập sách khác là “Tiếng Nói Của Im Lặng” (Stillness Speaks) và “Đất Mới” (A New Earth). Dưới đây chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu nội dung của cuốn “Tiếng Nói Của Im Lặng” - bản dịch từ tiếng Nga.
Eckhart Tolle
TIẾNG NÓI CỦA IM LẶNG
(Stillness Speaks)
MỤC LỤC
Chương 1. Im lặng và an bình
Chương 2. Sau giới hạn của trí tuệ biết suy nghĩ
Chương 3. Cái tôi vị kỷ
Chương 4. Thời điểm hiện tại
Chương 5. Bạn thực sự là ai?
Chương 6. Chấp nhận và buông xuôi
Chương 7. Thiên nhiên
Chương 8. Các mối quan hệ
Chương 9. Cái chết và vĩnh hằng
Chương 10. Nỗi khổ và kết thúc nỗi khổ
MỞ ĐẦU
Một người thầy tâm linh thực sự không cần phải dạy điều gì đó theo ý nghĩa thông thường của từ này. Ông ta không cần trao hay bổ sung cho bạn gì cả - không cần tới thông tin, không cần tới niềm tin, không cần tới hình mẫu hành vi của bạn. Chức năng duy nhất của người thầy như vậy là giúp cho bạn phế bỏ những gì ngăn cản bạn khỏi chân lý, rằng bạn đã là ai, và rằng bạn đã biết thực chất của mình ở chiều sâu nhất. Người thầy tâm linh được cần đến để khai mở và làm lộ diện cho bạn cái nhịp điệu của chiều sâu bên trong, nó cũng là sự tĩnh tại.
Nếu bạn tới người thầy tâm linh - hoặc tới cuốn sách này - để tìm kiếm những ý tưởng kích thích, tìm kiếm các lý thuyết, niềm tin, tìm kiếm những cuộc tranh luận lý trí, thế thì bạn sẽ thất vọng. Nói cách khác, nếu bạn tìm kiếm thức ăn cho tâm trí thì bạn sẽ không tìm thấy. Ngoài ra, khi đó bạn sẽ để mất cái thực chất nhất của luận thuyết này, thực chất của cuốn sách, nó không ở trong những từ ngữ của cuốn sách, nó ở trong bản thân bạn. Quả là tốt, nếu bạn hiểu được điều này và cảm nhận được nó, khi đó bạn sẽ đọc cuốn sách này. Bạn nên nhớ rằng, các từ ngữ - không có gì nhiều hơn là những thứ chỉ dẫn. Cái gì mà các từ ngữ chỉ tới không thể tìm thấy trong thế giới các ý nghĩ, thế mà chỉ bên trong nhịp điệu riêng của mình, nó trải rộng sâu sắc hơn nhiều so với ý nghĩ và nó vĩ đại vô cùng. An bình sống, rung động - đây chỉ là một trong những thuộc tính đặc trưng của phép đo đó. Như vậy, nếu như trong thời gian đọc, bạn cảm thấy rằng trong mình tràn ngập sự tĩnh tại bên trong - điều này có nghĩa là cuốn sách làm được công việc của mình và thực hiện chức năng của mình tựa như người thầy của bạn: cuốn sách nhắc nhở bạn về điều bạn là người thế nào, và chỉ cho bạn con đường quay trở lại, về nhà!
Đây là cuốn sách mà không nên đọc nó một mạch từ đầu đến cuối, rồi cho qua. Bạn hãy sống cùng với cuốn sách, bạn hãy cầm nó thường xuyên hơn. Nhiều độc giả sẽ cảm thấy rằng, sau mỗi một số dòng sẽ trở nên khao khát hoàn toàn tự nhiên ngừng nghỉ việc đọc, tạo ra một khoảng trống, tái thể hiện các dòng đã đọc qua và đắm chìm trong sự an bình của họ. Mọi lần, khi điều đó diễn ra, tốt nhất là nên dừng việc đọc lại. Cứ để cho cuốn sách này làm phận sự của mình, cứ để cho nó thức tỉnh bạn, lôi kéo bạn ra khỏi bánh xe già cũ của tư duy ước định buồn chán và lặp đi lặp lại vô cùng.
Hình thức cuốn sách này có thể được xem như sự phục sinh của một trong những dạng cổ nhất của các học thuyết tâm linh, tồn tại đến ngày nay ở dạng các bản ghi - các bản kinh (sutra) của Ấn Độ cổ. Sutra - đó là những chỉ dẫn rất hàm súc và rõ ràng hướng tới chân lý, nó có dạng các châm ngôn hoặc cách ngôn, trong đó không chứa quan niệm phức tạp nào. Ở dạng sutra đã được ghi lại những học thuyết thiêng liêng thời kỳ đầu. Các kinh Veda, Upanishad, những lời nói của Đức Phật cũng đã được ghi lại như vậy. Các châm ngôn, ngụ ngôn của Đức Chúa, nếu chúng được tẩy bỏ văn cảnh trần thuật, cũng có thể liệt vào sutra. Dạng như vậy cũng có mặt ở luận thuyết nổi tiếng chứa trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử - một cuốn sách anh minh của Trung Hoa cổ đại. Ưu thế của sutra nằm ở chỗ ngắn gọn. Nó không lôi kéo trí não suy nghĩ nhiều hơn là điều đó cần thiết. Lưu ý rằng, những gì mà sutra không nói ra có thể còn quan trọng hơn những điều được đề cập đến. Các điều và các đoạn văn của cuốn sách này, được thực hiện ở dạng sutra, đặc biệt được trình bày nổi bật trong chương 1 (“Im lặng và an bình”), chỉ chứa đựng những châm ngôn, ý tưởng, câu nói... mở đầu ngắn gọn nhất. Thực chất của cả cuốn sách nằm ở chương 1, hoàn toàn có khả năng là một số độc giả bị cuốn hút chính tại đó.
Cũng như các sutra cổ, các đoạn viết chứa trong cuốn sách này là thầm kín và xuất phát từ trạng thái tri giác mà chúng ta gọi là an bình, yên bình, im lặng hoặc yên tĩnh. Nhưng khác với các sutra cổ, các đoạn viết ở đây không thuộc một tôn giáo nào và không liên quan đến một tập tục tâm linh nào. Tuy vậy, toàn bộ nhân loại có sự tiếp cận trực diện nhất tới nội dung của chúng. Đồng thời, ở đây có bổ sung thêm sắc thái khẩn thiết vào các đoạn văn. Sự chuyển hoá ý thức nhân loại không nhiều hơn là sự xa xỉ, có nghĩa là đạt đến điều đó chỉ đối với một số cá nhân riêng rẽ. Sự chuyển hoá đó là cần thiết, nếu chỉ khi nhân loại không thèm khát huỷ diệt chính mình. Hiện thời đang mạnh lên cả tính rối loạn chức năng của tư duy cũ lẫn sự tăng nhanh tư duy mới. Thật là nghịch lý, nhưng trên hành tinh chúng ta mọi thứ đang xảy ra đồng thời cả tốt hơn và xấu hơn, cho dù những điều trở thành xấu hơn - rõ nét hơn, bởi vì có nhiều “tiếng ồn” tạo ra.
Đương nhiên, cuốn sách này cũng sử dụng các từ ngữ, mà trong quá trình đọc thì trí tuệ của bạn sẽ biến thành những ý nghĩ. Nhưng đó sẽ không phải là những ý nghĩ bình thường - không có điểm cuối lặp lại, khuấy động, chỉ dùng cho chính bản thân, lớn tiếng yêu cầu chú ý tới bản thân. Cũng như một người thầy tâm linh thực sự, cũng như các bản kinh cổ, những ý nghĩ trong cuốn sách này không lên tiếng “Hãy nhìn lên tôi”, mà chúng nói “Hãy nhìn vào tôi”. Bởi vì những ý nghĩ đó tới từ im lặng, và ở chúng có một sức mạnh - sức mạnh có thể dẫn bạn quay trở lại thứ im lặng mà từ đó ý nghĩ đã tới. Im lặng như vậy - đây còn là sự tĩnh tại bên trong, mà im lặng và tĩnh tại là bản chất Tồn Tại của bạn. Chính an bình bên trong đó sẽ chuyển hoá và cứu vớt thế giới này.
Chương 1
IM LẶNG VÀ AN BÌNH
Khi bạn mất tiếp xúc với im lặng bên trong, thế thì bạn mất tiếp xúc với bản thân mình. Khi bạn mất tiếp xúc với bản thân mình, thế thì bạn mất bản thân trong thế giới này.
Chính cảm giác bản thân thầm kín của bạn, cảm giác - bạn là người như thế nào, không tách rời khỏi im lặng. Đó là thực chất Tôi Là, nó sâu sắc hơn nhiều so với tên gọi và hình dạng.
~
Im lặng - đó là bản chất tự nhiên của bạn. Im lặng là gì? Đó là không gian nhận biết của bạn, trong nó các từ ngữ của trang này được tiếp thụ và trở thành những ý nghĩ. Thiếu sự nhận biết đó sẽ không có sự tiếp thụ, không có những ý nghĩ, không có thế giới.
~
Bạn là nhận biết, được trá hình thành một cá nhân.
~
Tiếng ồn suy nghĩ bên trong là cái tương đương của nhiễu tạp bên ngoài. Cái tương đương của im lặng bên ngoài - đó là an bình bên trong.
Khi xung quanh bạn bắt đầu bất cứ một sự im lặng nào thì bạn hãy lắng nghe nó. Điều này có nghĩa đơn thuần là để ý đến nó. Hãy tập trung chú ý lên nó. Việc nghe im lặng khêu gợi bên trong bạn nhịp điệu an bình, bởi vì bạn có thể nhận biết im lặng chỉ qua an bình.
Lưu ý rằng, vào thời điểm khi bạn nhận thấy im lặng xung quanh mình thì bạn đừng suy nghĩ. Bạn nhận biết, nhưng đừng suy nghĩ.
~
Khi bạn bắt đầu nhận biết im lặng, ngay lập tức xuất hiện trạng thái sẵn có bên trong. Bạn hiện diện. Bạn ra khỏi giới hạn hàng ngàn năm của sự ước định nhân loại.
~
Bạn nhìn lên cây, nhìn lên bông hoa, nhìn lên thảo mộc. Cứ để nhận biết của bạn buông xuống chúng. Chúng an bình làm sao, gốc rễ chúng ăn sâu vào Thực Tại làm sao. Hãy cho phép thiên nhiên dạy bạn về an bình.
~
Khi bạn nhìn lên cây và cảm thấy nó an bình, thế thì bạn trở nên an bình. Bạn liên kết với nó ở mức độ rất sâu sắc. Bạn cảm thấy thống nhất với cái mà bạn tiếp nhận trong an bình và qua an bình. Cảm nhận thống nhất của mình với tất cả - đó là tình yêu thực sự.
~
Im lặng - một trợ thủ tốt, nhưng để tìm được an bình thì bạn không cần đến nó. Ngay cả khi có sự ồn ào nào đó, bạn vẫn có thể nhận biết an bình, nó ở phía sau tiếng ồn, nó là không gian mà từ đó phát sinh tiếng ồn. Đó chính là không gian bên trong của nhận biết thuần khiết, tự ý thức về bản thân.
Bạn có thể bắt đầu nhận biết cái ý thức là nền tảng đầu tiên của tất cả tri giác cảm nhận của bạn, của tất cả suy nghĩ của bạn. Nhận biết ý thức - đó là sự xuất hiện an bình bên trong.
~
Một tiếng ồn bất kỳ, làm cho bạn ra khỏi trạng thái bình tâm, có thể có ích như im lặng. Tại sao? Qua sự gạt bỏ kháng cự bên trong của mình đối với tiếng ồn đó, qua sự cho phép tiếng ồn hiện diện như nó vồn thế. Sự chấp nhận đó cũng đưa bạn vào xứ sở của thế giới bên trong, điều đó cũng là an bình.
Khi bạn chấp nhận thời điểm đó một cách sâu sắc như nó vồn thế - không quan trọng là nó có hình dạng nào - bạn sẽ an bình, bạn sẽ tĩnh tại toàn bộ.
~
Bạn hãy chú ý đến các khoảng trống - khoảng thời gian giữa hai ý nghĩ, không gian im lặng ngắn ngủi giữa các từ trong khi nói chuyện, giữa các âm thanh của đàn piano hoặc sáo, hay khoảng thời gian giữa hơi thở vào và thở ra.
Nếu bạn chú ý đến các khoảng trống đó, nhận biết “cái gì đó” hình thành - đơn thuần bằng nhận biết. Nhịp điệu vô định hình của ý thức thuần khiết xuất hiện ngay từ bên trong bạn và thay thế sự đồng nhất với hình dạng.
~
Thông minh thực sự hoạt động một cách im lặng. An bình - nó ở nơi có sáng tạo và lời giải các vấn đề.
~
Phải chăng im lặng chỉ là vắng mặt tiếng ồn và nội dung? Không phải vậy, đó là bản thân thông minh - đó là dạng nhận biết, nó làm cơ sở cho mọi thứ mà từ đó sinh ra tất cả hình dạng. Làm sao điều đó có thể bị tách rời khỏi điều bạn là ai?
Hình dạng mà bạn suy nghĩ, bạn là - phát sinh từ điều đó và được duy trì bởi nó.
Đó là bản chất của các thiên hà, của ngọn cỏ bất kỳ, của tất cả bông hoa, của cây cối, của chim chóc và của những hình dạng khác.
~
Im lặng - đó là thứ duy nhất trong cả vũ trụ không có hình dạng. Đó là cái tịnh không, và nó không tách rời khỏi thế giới này.
~
Khi bạn nhìn lên cây cối hay con người - nhìn trong an bình, thế thì ai đang nhìn? Cái gì đó sâu sắc hơn một cá nhân. Nhận biết nhìn lên vật sáng tạo của mình.
Trong Kinh Thánh nói rằng, Thượng Đế đã tạo ra thế giới và nhìn thấy nó tốt đẹp làm sao. Chính là điều đó bạn thấy khi nhìn từ sự an bình, không kèm theo suy nghĩ.
~
Bạn cần biết nhiều hơn? Lẽ nào một dung lượng thông tin lớn hơn hay một máy tính nhanh hơn, hoặc sự phân tích thông minh, khoa học hơn sẽ cứu vớt thế giới? Lẽ nào bây giờ nhân loại không cần sáng suốt nhiều hơn?
Nhưng sáng suốt là gì và tìm nó ở đâu? Sáng suốt đến cùng với khả năng có an bình. Bạn đơn thuần nhìn và nghe. Không cần làm gì nhiều hơn. Khi bạn an bình, khi bạn đơn thuần nhìn và nghe, điều đó sẽ đẩy mạnh thông minh bên trong bạn thoát khỏi những khái niệm. Cứ để cho an bình dẫn dắt bạn trong từ ngữ và công việc.
Chương 2
SAU GIỚI HẠN CỦA TRÍ TUỆ BIẾT TƯ DUY
Trạng thái của con người: đã bị lầm lẫn trong những ý nghĩ.
~
Đa số các cá nhân trải qua toàn bộ cuộc đời mình trong sự giam cầm - trong ngục thất của những ý nghĩ riêng tư. Những người đó không bao giờ rời khỏi các giới hạn cảm nhận riêng tư hạn hẹp về mình, được tạo nên bởi trí tuệ, đó là cảm nhận được sinh ra bằng quá khứ.
Trong bạn cũng như trong những sinh thể người khác, có một dạng nhịp điệu nhận biết sâu sắc hơn tư duy rất nhiều. Đó chính là bản chất của điều bạn là ai. Chúng ta có thể gọi cái bản chất đó là hiện hữu, nhận biết, tri giác vô điều kiện. Trong những học thuyết cổ, cái đó là Chúa ở bên trong hoặc bản tính Phật của bạn.
Bạn sẽ tìm thấy nhịp điệu đó - bạn giải phóng mình và thế giới khỏi nỗi khổ mà bạn gây cho bản thân và những người khác, khi nó được tạo ra bởi trí tuệ của “cái tôi bé nhỏ” - đó là tất cả những gì bạn biết, nhưng nó cai quản cuộc đời bạn. Tình yêu, niềm vui, sự phát triển sáng tạo, cùng với sự tĩnh tại bên trong vô hạn, không thể đi vào cuộc đời bạn bằng cách khác ngoại trừ qua nhịp điệu vô điều kiện của tri giác.
Nếu như bạn có khả năng thấu hiểu, cứ cho là ngẫu nhiên, rằng các ý nghĩ tới bạn trong tâm trí - cái đó đơn thuần là các ý nghĩ, nếu bạn theo dõi được, bạn sẽ trở thành nhân chứng của điều sau đây: diễn ra như thế nào sự phát sinh các hình mẫu cảm xúc nhất thời phản ứng riêng tư của mình - có nghĩa là nhịp điệu đó ở bạn đã được nâng lên. Nó xuất hiện ở bạn như sự nhận biết mà bên trong sinh thành các ý nghĩ và cảm xúc - như một không gian bên trong ngoài thời gian, trong đó cuộc sống của bạn bị đảo tung và lấp đầy nội dung.
~
Dòng ý nghĩ có thời điểm quán tính khó tin là có thực và có thể dễ dàng lôi cuốn bạn đi theo. Mỗi ý nghĩ cố đạt được điều là trở thành quan trọng nhất. Mỗi ý nghĩ muốn thu hút về mình tất cả sự chú ý của bạn.
Đây là thực hành tâm linh mới cho bạn: không tiếp thụ các ý nghĩ của mình một cách quá nghiêm túc.
~
Con người rơi vào bẫy nhà tù quan niệm của mình mới dễ dàng làm sao.
Vì mong muốn biết, hiểu và kiểm soát trí tuệ con người về lỗi lầm, ý kiến của mình chấp nhận quan điểm thành chân lý. Trí tuệ nói: đó là cái như nó có. Bạn phải nhiều hơn ý nghĩ. Để cho điều đó, bạn cần hiểu rằng, dù bạn chìm sâu vào sự diễn giải “đời sống của mình” hoặc đời sống của ai đó nữa, hoặc phẩm tính của ai đó, dù bạn đã quen đánh giá một tình huống bất kỳ - điều đó không hơn là một quan điểm, một quan điểm từ tập hợp những quan điểm có thể. Điều đó không hơn gì xích xiềng được làm từ những ý nghĩ. Nhưng thực tại toàn vẹn, thống nhất và không phân chia đến nỗi, trong đó tất cả được đan xen tới mức không một thứ gì tồn tại trong bản thân hoặc tồn tại tự thân. Tư duy phân chia thực tại thành những khúc đoạn - tư duy băm nhỏ thực tại thành những mẩu quan niệm.
Trí tuệ, có khả năng suy nghĩ - đó là một công cụ to lớn và hữu ích, nhưng nó cũng là thứ hạn chế rất mạnh. Nếu bạn không hiểu rằng, trí tuệ - tất cả chỉ là phương diện băm vụn của dạng tri giác mà bạn có, khi đó trí tuệ điều khiển hoàn toàn cuộc đời của bạn.
~
Sáng suốt không phải là kết quả suy nghĩ. Sáng suốt - đó là hiểu biết sâu sắc, nó tới qua hành động rất đơn giản - trao đầy đủ tất cả chú ý của mình cho ai đó hoặc cái gì đó. Chú ý - đó là thông minh có từ xưa, từ lúc khởi đầu; đó là bản thân nhận biết. Nó loại bỏ các vật cản, được tạo nên bởi tư duy quan niệm, còn với tư duy như vậy cần chú ý điều sau đây: không có gì tồn tại trong bản thân hoặc tồn tại tự thân. Chú ý liên kết người quan sát và điều được quan sát thành một trường nhận biết thống nhất. Chú ý chữa khỏi sự phân chia.
~
Đắm chìm trong suy nghĩ ép buộc, bạn lẩn tránh điều mà nó là. Bạn không muốn ở nơi mà bạn có mặt. Nơi đó là Ở Đây, Bây Giờ.
~
Các giáo điều - tôn giáo, chính trị, khoa học - xuất phát từ niềm tin giả tạo cho rằng, các ý nghĩ có thể bao toàn bộ thực tại hoặc chân lý. Các giáo điều - đó là những nhà tù quan niệm tập thể. Và quả là điều lạ lùng - mọi người đều yêu quý những xà lim giam cầm của mình, bởi vì chúng cho họ cảm giác an toàn và cảm giác giả tạo “hiểu biết”.
Không gì khác gây cho mọi người nỗi khổ lớn thế như các giáo điều của họ. Sự tình là ở chỗ, một giáo điều bất kỳ sớm hay muộn rồi cũng bị sụp đổ, bởi vì cùng với thời gian thực tại sẽ phơi bày sự giả tạo của nó. Tuy vậy, trong lúc này sự lầm lẫn cốt yếu vẫn được chấp nhận cho điều mọi thứ thực ra là gì, một giáo điều này sẽ được thay thế bởi một giáo điều khác.
~
Thế thì lầm lẫn cốt yếu là gì? Đó là đồng nhất với ý nghĩ.
~
Thức tỉnh tâm linh - đó là thức tỉnh khỏi giấc ngủ ý nghĩ.
~
Xứ sở ý thức lớn hơn nhiều những gì mà ý nghĩ thường có khả năng hiểu được. Khi bạn không còn tin cậy vào những gì mà bạn suy nghĩ, thế thì bạn ra khỏi giới hạn ý nghĩ và bạn thấy rõ rằng, người suy nghĩ - đó hoàn toàn không phải là người mà bạn là.
~
Trí tuệ cư trú trong trạng thái “không đầy đủ”, vì vậy nó luôn mong muốn nhiều hơn nữa. Khi bạn đồng nhất với trí tuệ, thế thì bạn rơi vào buồn chán rất nhanh và bạn bắt đầu bất an. Buồn chán chứng tỏ về điều là trí tuệ thiếu thốn, nó cần các tác nhân kích thích nhiều hơn nữa, nhiều thức ăn hơn nữa cho suy nghĩ, nhưng sự thiếu thốn của nó không bao giờ được thoả mãn.
Nếu bạn cảm thấy buồn chán, thế thì bạn có thể làm dịu cơn đói của tâm trí mình bằng cách lần giở tạp chí, gọi cho ai đó, mở tivi, lướt mạng Internet hoặc đi dạo các cửa hiệu, vân vân - và điều này là cái gì đó cố hữu cho đa số - chuyển địa chỉ cảm giác không đầy đủ nhất thời và nhu cầu của tâm trí vào cái gì đó còn lớn hơn - thân thể, rồi nhanh chóng làm thoả mãn nó bằng cách nuốt nhiều thức ăn hơn.
Hoặc bạn cũng có thể tiếp tục chịu đựng buồn chán và bất an, nhưng đồng thời quan sát xem chính điều gì làm cho bạn buồn chán và bất an. Ngay khi bạn đưa nhận biết vào các cảm giác của mình thì xung quanh nó xuất hiện một không gian an bình nào đó, tựa như nó đã tồn tại. Từ đầu không gian đó không lớn lắm, nhưng khi làm sâu sắc cảm nhận không gian bên trong thì cường độ và ý nghĩa của cảm giác buồn chán giảm xuống. Vì vậy, buồn chán cũng có thể dạy cho bạn, chỉ cho bạn rằng bạn là ai và ai không phải là bạn.
Bạn phát hiện ra rằng, “cá nhân buồn chán” - đó không phải là bạn. Buồn chán - đó chỉ là sự chuyển động ước định của năng lượng bên trong bạn.
Buồn chán, giận dữ, u sầu hoặc sợ hãi - không thuộc bạn, chúng không có tính cá nhân. Đó là các trạng thái của trí tuệ con người. Chúng đến và đi.
Một cái gì đó mà nó đến rồi đi, là không phải bạn.
“Tôi buồn chán”. Ai biết điều này?
“Tôi giận dữ, buồn rầu, tôi sợ”. Ai biết điều đó?
Bạn là bản thân cái biết, chứ không phải trạng thái mà bạn biết.
~
Sự hiện diện một định kiến bất kỳ nói lên rằng, bạn bị đồng nhất với trí tuệ suy nghĩ. Điều này có nghĩa rằng, bạn không thấy một người khác lớn hơn, bạn chỉ thấy ý niệm riêng của mình về người đó. Việc hạ thấp độ đo tính tràn đầy của con người khác bằng đời sống đến mức ý niệm về người đó đã là một dạng bạo lực.
~
Sự suy nghĩ, không thoát khỏi những gốc rễ của mình ăn sâu vào nhận thức, đang trở thành phi chức năng và chỉ phục vụ tự thân. Sự rõ ràng mà mất đi tính sáng suốt thì cực kỳ nguy hiểm và phá hoại. Đó là trạng thái đương đại của phần lớn nhân loại. Việc phổ biến tư duy ở dạng khoa học và công nghệ, điều này tự thân không tốt và không xấu, cũng đang trở thành phá hoại bởi vì việc làm đó không có gốc rễ trong nhận thức,
Bước tiếp theo của sự tiến hoá nhân loại là ra khỏi các giới hạn của suy nghĩ. Hiện nay cái đó là nhiệm vụ cấp thiết của chúng ta. Điều này không có nghĩa là sẽ không còn cần suy nghĩ. Nó chỉ có nghĩa rằng, không quá đồng nhất với ý nghĩ, không bị ám ảnh bởi ý nghĩ.
~
Bạn hãy cảm nhận năng lượng của cơ thể bên trong mình. Tiếng ồn nhất thời rồi sẽ im lặng hoặc biến mất. Bạn hãy cảm nhận năng lượng trong cánh tay, trong bàn chân, trong bụng, trong ngực. Bạn hãy cảm nhận sự sống mà bạn đang là, cái sự sống đang làm cho cơ thể bạn sinh tồn. Có thể nói, khi đó cơ thể sẽ trở thành những cổng vào sự cảm nhận sâu sắc hơn rất nhiều của toàn bộ đời sống diễn ra dưới những cảm xúc và suy nghĩ bất ổn.
~
Đó là sức sống mà bạn có thể cảm nhận bằng cả sinh thể của mình, chứ không phải chỉ cảm nhận nó trong đầu. Mỗi tế bào sinh sống bên trong sự hiện diện mà về nó bạn cũng không cần ngẫm nghĩ. Đồng thời, khi bạn ở trong trạng thái như vậy và nếu vì những mục đích thực tế nào đó mà bạn cần có ý nghĩ - thì nó tới ngay. Tâm trí vẫn như trước có thể làm việc, khi đó nó được sử dụng nhiều hơn bởi một trí tuệ rộng lớn hơn - chính là bạn được thể hiện qua nó và nó thực sự làm việc tuyệt vời.
~
Bạn có thể đã không lưu ý đến những thời điểm ngắn mà tại đó bạn “đã nhận biết, nhưng không suy nghĩ”, và trong cuộc đời của bạn điều đó đã từng xảy ra với bạn một cách tự nhiên và tự phát. Bạn có thể đã thực hiện một công việc nào đó bằng tay hoặc đi dạo trong phòng, hoặc đứng chờ ở quầy bán thức ăn tại sân bay. Trong trường hợp đó bạn hiện hữu một cách toàn bộ đến mức mà tiếng ồn ngắn nhất thời thông thường của ý nghĩ ngừng lại và nó được thay thế bởi sự hiện diện nhận biết. Bạn có thể đã để ý khi bạn nhìn lên bầu trời hoặc khi bạn nghe ai đó mà không có sự phán xét của lý trí. Sự tiếp thụ của bạn trở thành thuần khiết như tinh thể, không bị vẫn đục bằng những ý nghĩ.
Đối với tâm trí, tất cả điều đó đều vô nghĩa, bởi vì ở nó có các việc “quan trọng hơn” mà tâm trí cần phải suy nghĩ về chúng. Những điều như vậy không được lưu giữ ở trí nhớ, cho nên bạn có thể đơn thuần không nhận ra.
Chân lý được thể hiện ở chỗ, rằng đó là bản thân cái có ý nghĩa, rằng nó chỉ có thể xảy ra với bạn. Điều này là điểm khởi đầu chuyển dịch từ suy nghĩ tới sự hiện diện nhận biết.
~
Bạn hãy đi vào trạng thái tự do và phi ép buộc “không suy nghĩ”. Điều đó đưa bạn rời khỏi các giới hạn tâm trí, bởi vì tâm trí luôn cố tạo ra những kết luận và diễn giải. Vì vậy, nếu bạn được thả lỏng và tĩnh tại đến mức mà bạn không cần hiểu biết điều gì - bạn đã rời khỏi các giới hạn của tâm trí. Khi đó từ trạng thái này sẽ dâng lên sự hiểu biết phi quan niệm sâu sắc hơn rất nhiều.
~
Sự sáng tạo của các diễn viên, các vận động viên, những người khiêu vũ, các nhà giáo, các luật sư hoặc nghệ thuật trong bất kỳ một lĩnh vực hoài bão đều ngầm hiểu rằng, trí tuệ biết suy nghĩ không bị cuốn hút vào đó nhiều lắm hoặc nó chỉ chiếm vị trí thứ yếu. Năng lực và trí tuệ lớn hơn bạn rất nhiều, và đồng thời cũng không tách rời khỏi bạn về mặt bản chất của mình. Chúng trở nên chiếm ưu thế hơn. Quá trình khởi tạo và tiếp nhận những quyết định được chấm dứt; những hành động cần thiết bắt đầu diễn ra một cách tự thân, nhưng “bạn” không phải thực hiện chúng. Nghệ thuật sống mâu thuẫn với sự kiểm soát. Bạn được điều chỉnh lên một ý thức lớn hơn rất nhiều và trở thành cùng nó trên một tuyến. Ý thức đó hành động, nói và làm mọi việc.
~
Vào lúc nguy hiểm sẽ xảy ra việc ngừng tạm thời dòng tư duy, điều đó cho bạn khả năng nếm thử hương vị của cái ở trong sự hiện diện, có sẵn, nhận biết.
~
Chân Lý này chứa trong nó lớn hơn rất nhiều so với trí tuệ có thể hình dung được. Không một ý nghĩ nào có thể bao toàn bộ Chân Lý này. Nó chỉ có thể được ý nghĩ trỏ tới trong trường hợp tốt nhất. Ví dụ, ý nghĩ có thể thốt ra “Tất cả là một”. Đây là một chỉ dẫn, chứ không phải lý giải. Sự hiểu biết các từ này có nghĩa là cảm nhận mình ở chiều sâu của Chân Lý mà nó được trỏ tới.
Chương 3
CÁI TÔI VỊ KỶ
Tâm trí luôn có chiều hướng không chỉ trong việc tìm kiếm dinh dưỡng cho suy nghĩ, nó còn tìm kiếm thức ăn cho sự đồng nhất riêng tư, cho cảm nhận bản thân mình. Đó là cách bản ngã xuất hiện và duy trì sự tồn tại của mình, nó liên tục trỗi dậy tự thân như vậy.
~
Khi bạn suy nghĩ hay nói về mình, khi bạn phát âm “Tôi”, thế thì bạn thường chú ý ngay rằng - “tôi và lịch sử của tôi”. Đó là “cái Tôi” đã được tạo ra từ điều mà bạn yêu thích hoặc không yêu thích, bạn sợ hoặc mong muốn. Đó chính là “cái Tôi” mà không bao giờ có thoả mãn lâu dài. Điều đó là cảm giác được tâm trí tạo ra về cái bạn là ai, nó được ước định bởi quá khứ và tìm kiếm sự thể hiện trong tương lai.
Bạn thấy không, rằng “cái Tôi” có tính thoáng qua, bề mặt, rằng nó là hình thái tạm thời giống như hoạ tiết sóng trên mặt nước?
Ai nhìn thấy điều này? Ai nhận biết tính thoáng qua, tính bề mặt của hình dạng tâm lý và vật lý của bạn? Đó chính là cái Tôi. Nó sâu sắc hơn rất nhiều “cái Tôi”. Ở cái Tôi không có gì chung với quá khứ và tương lai.
~
Điều gì còn lại nếu sẽ không có những nỗi sợ và mong muốn liên quan tới tình huống cuộc sống có vấn đề của bạn và ngày nào chúng cũng thu hút phần lớn nhất sự chú ý của bạn? Một vạch kẻ - với độ dài 2-3 phân Anh, dấu gạch nối giữa hai ngày tháng (sinh và tử) trên bia mộ của bạn.
Đối với “cái tôi” vị kỷ, đó là một ý nghĩ rất khó chịu. Còn đối với bạn - nó là ý nghĩ giải phóng.
~
Nếu một ý nghĩ nào đó hoàn toàn thu hút chú ý của bạn, điều đó có nghĩa là bạn bị đồng nhất với tiếng nói vang lên ở bạn trong đầu. Khi ấy, ý nghĩ đó nhận được sự tiếp ứng từ cảm giác tự thân của bạn. Đó là bản ngã, đó là “cái tôi” được tạo nên bởi tâm trí (chú ý, trên đây đã nói tới 3 cái tôi: “cái tôi” bản ngã, “cái Tôi” = “cái tôi” + lịch sử cá nhân, cái Tôi phi bản ngã - ND). Có thể thấy rằng, “cái tôi” được thiết kế nhất thời cảm nhận mình không đủ giá trị và sống vất vưởng bằng những mẩu thức ăn ngẫu nhiên. Chính vì thế mà cảm giác sợ hãi và mong muốn của nó không chỉ là cảm xúc có tính chi phối và thống trị, mà còn là một sức mạnh có nguyên cớ.
Khi bạn hiểu rằng, ở bạn trong đầu có tiếng nói cố đạt được điều là trở thành bạn và không bao giờ chấm dứt tiếng ồn huyên thiên của mình, thế thì bạn được thức tỉnh khỏi sự đồng nhất vô ý thức với dòng ý nghĩ đó. Khi bạn bắt đầu chú ý tới tiếng nói đó, khi ấy bạn bắt đầu hiểu ra, rằng bạn - không phải là tiếng nói đó, bạn không phải là người suy nghĩ - nhưng ai là người nhận biết nó?
Biết được rằng, bạn là nhận biết nằm phía sau tiếng nói - đó chính là tự do.
~
“Cái tôi” vị kỷ chỉ hành động, nó tìm kiếm cái gì đó. Nó tìm kiếm nhiều hơn nữa cái này, cái kia. Để cộng thêm cho bản thân. Để cảm thấy bản thân toàn vẹn hơn. Cái đó được giải thích bởi điều là vì sao bản ngã bận tâm đến tương lai và vì sao nó yêu thích bản thân đến vậy.
Nếu bạn nhận biết mình “sống trong khoảnh khắc tiếp theo”, có nghĩa lối ra của bạn khỏi những giới hạn thuộc lược đồ hành động của tâm trí vị kỷ đã được tạo thành, và đồng thời cùng với điều đó ở bạn xuất hiện khả năng lựa chọn - chuyển toàn bộ sự chú ý của mình vào khoảnh khắc này hay bỏ mặc nó trong đó.
Việc chuyển toàn bộ chú ý vào thời điểm hiện tại cho phép trí lực - lớn hơn rất nhiều so với tâm trí vị kỷ - đi vào đời sống của bạn.
~
Khi bạn sống qua bản ngã, thế thì bạn luôn hạ thấp thời điểm hiện tại đến mức mục tiêu và phương tiện. Khi đó bạn sống vì tương lai, và khi bạn đạt được những mục tiêu của mình thì chúng đã không làm vừa lòng bạn lâu dài trong mọi trường hợp.
Khi bạn dành sự chú ý nhiều hơn cho điều bạn đang làm so với điều mà bạn muốn đạt được, thế thì bạn đập vỡ tính ước định vị kỷ già cũ.
Khi đó điều mà bạn làm sẽ trở nên không chỉ hiệu quả rất nhiều, mà còn cho bạn những khả năng vô hạn để tự thể hiện mình và vui sướng.
~
Hầu như ở mỗi bản ngã có chứa một thành phần mà chúng ta có thể gọi được là “đồng nhất với hình ảnh nạn nhân”. Một số người mang trong mình hình ảnh bản thân nạn nhân, mà đối với họ bản ngã trở thành điểm tựa trung tâm, trụ cột. Phần bản chất nhất thuộc cảm giác bản thân của họ được tổng hợp và hình thành từ sự phẫn uất và xúc phạm.
Ngay cả nếu những xúc phạm của bạn hoàn toàn “có cơ sở” thì cũng vậy thôi, sự đồng nhất mà từ xúc phạm bạn kiến thiết cho mình giống nhiều hơn với nhà tù mà các chấn song của nó được làm từ những hình dạng ý nghĩ. Khao khát nhìn thấy những gì mà tự bạn làm cho mình, hay đúng hơn, những gì mà trí tuệ của bạn làm cho bạn. Bạn hãy cảm nhận sự gắn bó xúc cảm đối với lịch sử nạn nhân của mình mà nó có ở bạn, và nhận biết sự đòi hỏi ám ảnh thường xuyên của mình suy nghĩ và nói về nó. Cứ là người chứng kiến sự hiện diện trạng thái bên trong của mình. Bạn không cần làm gì cả. Cùng với nhận biết sẽ có sự biến đổi và tự do.
~
Than phiền, biểu hiện sự bất mãn và phản ứng - đây là những hình mẫu ưa thích của tính cách mà từ đó bản ngã khai thác sức lực của mình. Một phần rất lớn hoạt tính xúc cảm nhất thời của đa số mọi người bao gồm từ sự bất mãn cách này hay cách khác và phản ứng lên chúng. Do đó, bạn làm cho người khác “bất công”, làm cho hoàn cảnh “không đúng”, còn bản thân mình - “có lý”. Thông qua “lẽ phải”, bạn cảm thấy ưu thế của mình, còn qua cảm giác ưu thế đó bạn tăng thêm cảm giác về bản thân. Cái chính là trong thực tế, toàn bộ bạn chỉ tăng thêm ảo giác cho bản ngã.
Bạn đã có khả năng quan sát những hình mẫu đó của tính cách phát sinh từ bản thân, và nhận biết giọng nói bất mãn đó có ở bạn trong đầu?
~
Một cảm giác vị kỷ của bản thân cần đến sự xung đột, bởi vì cảm giác riêng tách khỏi những người khác khai thức sức lực và củng cố trong cuộc đấu tranh chống lại cái này hay cái khác, ngoài cái đó ra nó còn chứng tỏ: đây là “tôi”, còn kia không phải là “tôi”.
Không hiếm khi các dòng họ, các dân tộc, các tôn giáo được tăng thêm cảm giác đồng nhất tập thể của mình từ điều mà họ có kẻ thù. Đó là “tín đồ” gì, nếu như có những người “tín ngưỡng”?
~
Bạn có thể phát hiện điều sau đây được không: bạn tương tác ra sao với những người khác, cho dù chút ít cảm giác rõ rệt của ưu thế hoặc sút kém so với họ? Nếu đúng, khi đó bạn hãy nhìn vào bản ngã, cái tồn tại qua so sánh.
Ganh tị - đó là một sản phẩm phụ của bản ngã, nó cảm nhận mình bị tổn thương nếu như ở ai khác diễn ra điều gì đó tốt đẹp hay hơn mình, hoặc người đó biết hơn hoặc có khả năng hơn bạn. Sự đồng nhất bản ngã phụ thuộc vào các kết quả so sánh và sẽ có thức ăn của nó nhiều hơn. Nó tóm lấy tất cả những gì rơi vào tay nó. Nếu như không nhận được gì khác, thế thì bạn có thể làm tăng cảm giác giả tạo của bản thân bằng cách coi mình ít gặp may hơn hay là nạn nhân từ cuộc đời hoặc còn đau khổ hơn ai đó.
~
Cần thiết ở chỗ phải tranh cãi, phản kháng, không cho phép hoặc từ chối ai đó nhằm mục đích bơm vào hoặc tăng thêm cảm giác biệt lập mà từ giá trị của nó lệ thuộc. Bạn có thể tiếp tục được không sự tồn tại của mình và sống sót? Sự cần thiết được đưa vào tất cả những lược đồ hành động của “cái tôi” vị kỷ. Có nghĩa là “cái tôi” chống lại “nó”, “chúng tôi” chống lại “chúng nó”.
Bản ngã cần thiết trong việc xung đột với ai đó hoặc với cái gì đó. Điều này giải thích vì sao bạn tìm cả yên bình, vui sướng và tình yêu, nhưng bạn không thể kiếm được chúng đủ lâu. Bạn nói rằng, bạn mong muốn hạnh phúc nhưng bạn lại ngồi trên đầu nhọn của sự bất hạnh.
Cuối cùng, tất cả sự bất hạnh của bạn được sinh ra không phải từ những hoàn cảnh của cuộc đời bạn, mà là sinh ra trong tâm trí ước định của bạn.
~
Bạn có mang trong mình cảm giác lầm lỗi vì một điều gì đó đã gây ra - hoặc đã không biết làm - trong quá khứ? Và đây là điều chắc chắn: khi đó bạn đã hành động tương ứng đầy đủ với mức nhận biết hoặc phi nhận biết của mình. Nếu như bạn đã có nhận biết tốt hơn, có ý thức nhiều hơn, thế thì bạn đã hành động theo cách khác.
Cảm giác lầm lỗi - đây còn là một cố gắng của bản ngã tạo ra sự đồng nhất cá nhân, cảm giác bản thân. Đối với bản ngã, hoàn toàn không quan trọng là sẽ được cảm giác nào tích cực hay tiêu cực. Điều mà bạn đã làm hoặc không biết làm đã là sự biểu hiện của tính vô ý thức - tính vô ý thức của con người. Tuy thế, bản ngã nhân cách hoá nó và nói “Tôi đã làm cái đó” và như vậy, bạn bắt đầu mang trong mình hình ảnh nhất thời của bản thân như “người tồi”.
Trong suốt toàn bộ lịch sử của mình, mọi người đã gây ra cho nhau vô số nỗi khổ đau, tiến hành bạo lực và tội ác, và tiếp tục thực hiện như vậy mỗi ngày. Chẳng lẽ tất cả họ đáng căm thù; chẳng lẽ tất cả họ lầm lỗi? Hoặc những hành vi đó đơn thuần là biểu hiện của tính vô ý thức, biểu hiện của một giai đoạn tiến hoá mà từ đó bây giờ chúng ta đang trưởng thành?
Lời của Chúa “Hãy tha thứ cho họ, vì họ không biết họ đang làm gì” vẫn còn hữu ích cho mỗi người.
~
Nếu vì giải thoát bản thân, nâng cao ý nghĩa lớn của mình hay tăng cảm giác quan trọng riêng tư mà bạn đặt ra những mục tiêu vị kỷ thì ngay cả khi đạt được chúng, bạn vẫn không được thoả mãn.
Hãy đặt ra những mục tiêu, nhưng hãy biết kết cục của chúng - điều đó chưa phải là tất cả những gì có ý nghĩa. Khi cái gì đó sinh ra từ sự hiện diện, nó có nghĩa là thời điểm hiện tại không phải là phương tiện đạt tới mục tiêu: việc làm tự thân vào mỗi thời điểm của mình là sự thực hiện đầy đủ nhất. Bạn không nên đưa thời điểm đó đến mức phương tiện đạt tới mục tiêu, đến mức ý thức vị kỷ.
~
“Không có tôi. Không có các vấn đề” - một bậc Thầy Phật giáo đã nói như vậy khi người ta yêu cầu ông lý giải về ý nghĩa sâu xa của đạo Phật.
Chương 4
THỜI ĐIỂM HIỆN TẠI
Nếu nhìn một cách bề mặt thì tưởng rằng, thời điểm này - chỉ là một trong vô số thời điểm. Mỗi ngày cuộc sống của bạn trông có vẻ như nó bao gồm từ hàng ngàn khoảnh khắc mà trong đó diễn ra những thứ khác nhau. Đồng thời, nếu bạn nhìn sâu hơn, chẳng lẽ điều đó không phải là tất cả cái nháy mắt duy nhất đích thực? Chẳng lẽ cuộc sống - không phải là “chính thời điểm này”?
Chính thời điểm này - Bây Giờ - thời gian duy nhất mà từ đó bạn không thể chạy khỏi, đó là hằng số duy nhất, yếu tố bất biến duy nhất của cuộc đời bạn. Không quan trọng là điều gì xảy ra, không quan trọng là cuộc sống của bạn thay đổi mạnh mẽ như thế nào, một thứ bất biến: cái đó luôn luôn diễn ra ở thời điểm Bây Giờ.
Do bạn không thể chạy khỏi thời điểm hiện tại, thế thì vì cớ gì mà bạn không chào đón nó, vì sao mà bạn không kết thân với nó?
~
Khi bạn với thời điểm hiện tại trở thành người bạn, thế thì dù ở đâu bạn cũng cảm thấy mình như ở nhà. Khi ở thời điểm hiện tại mà bạn không cảm thấy mình như ở nhà, thế thì dù bạn đi đâu, sự bất an và âu lo cũng sẽ trở thành bạn đồng hành cùng bạn.
~
Thời điểm hiện tại có mặt như nó vốn thế. Mãi mãi. Bạn có thể cho nó có mặt được không?
~
Tâm trí đã nghĩ ra cách chia đời sống thành quá khứ, hiện tại và tương lai, nhưng sự phân chia như vậy tuyệt đối có tính nhân tạo. Quá khứ và tương lai - đó là các hình tư tưởng, ảo giác, trừu tượng lý trí. Bạn có thể nhớ lại quá khứ chỉ vào Thời Điểm này. Sự kiện mà bạn nhớ lại đã xảy ra vào Thời Điểm đã có, và nó được bạn nhớ lại cũng vào Thời Điểm này. Tương lai khi nó tới thì tới vào Thời Điểm xác định. Như vậy, thứ duy nhất và chỉ nó là thực, cái duy nhất mà luôn có - đó là Thời Điểm hiện tại.
~
Nếu sự chú ý của bạn dành cho Thời Điểm hiện tại, điều đó hoàn toàn không có nghĩa rằng phải phủ nhận những gì mà bạn cần cho cuộc sống. Điều đó đơn thuần thấu hiểu cái gì là đầu tiên. Khi đó bạn với sự an bình sâu sắc có thể tương tác với những gì là thứ yếu. Điều này không có nghĩa là phải nói: “Bây giờ tôi sẽ không làm thêm điều gì nữa, bởi vì tất cả những gì có chỉ là Thời Điểm này”. Không phải thế. Đầu tiên bạn hãy tìm cái gì là trước nhất và bạn hãy làm cho Thời Điểm hiện tại trở thành người bạn của mình, chứ không phải là kẻ thù. Hãy nhận biết nó, hãy tri ân nó, hãy ăn mừng nó! Khi Thời Điểm hiện tại trở thành nền tảng và tâm điểm đầu tiên của đời bạn, khi đó cuộc sống sẽ được triển khai với sự nhẹ nhàng đến kỳ lạ.
~
Khi bạn mong muốn dễ chịu, thế thì bạn thực hiện theo chiến lược kinh doanh, bạn lên kế hoạch cho một chuyến du lịch - điều gì quan trọng hơn: cái làm hay kết quả mà bạn mong muốn đạt được qua việc đó? Thời điểm này hay một thời điểm nào đó trong tương lai? Có thể là bạn đối xử với thời điểm này như thể sự cản trở cần phải vượt qua? Có thể ở bạn còn có một thời điểm nào đó trong tương lai để đến gần cái điều quan trọng hơn?
Chính bằng cách này mà hầu như mỗi người chúng ta sống phần lớn thời gian. Bởi vì tương lai luôn luôn tới chỉ như hiện tại và không thể khác được, nên cách sống kiểu đó mang tính rất phá hoại. Nó tạo ra một dòng chảy ngầm không dứt từ nỗi âu lo, căng thẳng và bất mãn. Nó không tri ân và ăn mừng cuộc sống đang diễn ra Bây Giờ và không khi nào tồn tại khác Bây Giờ.
~
Bạn hãy cảm nhận niềm rạo rực của cuộc sống bên trong thân thể mình. Đó là cái mỏ neo của bạn vào thời điểm Bây Giờ.
phan 3
Trong phần này sẽ giới thiệu tiếp 3 chương cuối của cuốn sách "Tiếng nói của im lặng". Cuối cùng sẽ có ít lời của dịch giả nói về những khía cảnh cốt lõi cần được quan tâm suy ngẫm...
Chương 8
CÁC MỐI QUAN HỆ
Quả là chúng ta thật nhanh chóng tạo ra mối quan hệ con người và đi tới một số kết luận nào đó về mối quan hệ ấy. Tâm trí vị kỷ ưa thích gắn nhãn lên những người khác, phân chia họ thành những cá nhân trừu tượng, gán cho họ những phẩm chất đặc trưng và suy diễn điều này điều nọ khá chủ quan.
Mỗi con người bị tiêm nhiễm bởi phản xạ có điều kiện - phản xạ suy nghĩ và thể hiện mình một cách nhất định. Mỗi con người ở mức độ di truyền bị ước định và thấm nhuần bởi môi trường văn hoá mà trong đó anh ta trưởng thành, cũng như ấn tượng thiếu thời của mình.
Cách thức nói trên hoàn toàn không phải là về điều mà những người đó là ai, mà là họ phải trông có vẻ ra sao. Nói lên xét đoán về ai đó, bạn tiếp nhận một cách sai lầm những hình ảnh suy diễn ước định về những người mà họ là ai. Việc đưa ra những ý kiến như vậy tự thân đã là cách quy chụp ước định và vô ý thức sâu sắc. Bạn gán cho họ những phẩm chất cá nhân, được tạo ra bởi tâm trí bạn, và cá nhân giả tạo đó sẽ trở thành nhà tù không những đối với người đó, mà còn đối với cả bạn nữa.
Giải phóng khỏi những xét đoán, chấm dứt nói lên chúng - không có nghĩa là không nhận xét gì về những điều mà mọi người làm. Nó chỉ có nghĩa rằng, bạn nhận thức tính cách của họ đơn thuần như là sự biểu hiện của tính ước định. Bạn nhìn thấy nó và bạn tiếp nhận nó như một hình dạng. Và bạn không tạo ra nhân cách của người đó chỉ dựa trên hình dạng như vậy.
Điều đó sẽ giải phóng bạn và người khác khỏi sự đồng nhất với suy diễn, đồng nhất với hình dạng, đồng nhất với lý trí. Khi đó, bản ngã sẽ không còn điều khiển các mối tương giao của bạn nữa.
~
Bởi vì bản ngã cai quản đời sống của bạn, cho nên hầu hết các ý nghĩ, các cảm xúc và các hành động của bạn đều được sinh ra bởi mong muốn và nỗi sợ. Khi đó, trong các mối tương giao với mọi người thì bạn hoặc là mong muốn cái gì đó từ họ hoặc là bạn lo sợ người này người khác.
Những gì mà bạn mong muốn từ người khác có thể là niềm vui thích, lợi ích vật chất, sự thừa nhận, lời khen hoặc sự chú ý, còn có thể mong muốn tăng thêm cảm giác “cái tôi” riêng tư bằng cách so sánh hoặc khẳng định điều mà bạn khá hơn họ, rằng bạn có nhiều hơn hoặc bạn biết nhiều hơn. Những gì mà bạn sợ có thể là cái gì đó đối lập. Qua nó, bằng một cách nào đó họ có thể hạ thấp cảm giác “cái tôi” riêng tư của bạn.
Khi bạn làm cho thời điểm hiện tại thành điểm hội tụ chủ yếu của sự chú ý - chứ không phải biến nó thành phương tiện để đạt được mục tiêu - thế thì bạn rời khỏi những giới hạn của bản ngã. Cùng với cái đó, bạn tiến thêm một bước ra khỏi những giới hạn tuyệt vọng vô ý thức sử dụng mọi người như một phương tiện để đạt được mục tiêu, như một phương tiện phóng đại ý nghĩa riêng tư vì người khác. Khi bạn thể hiện toàn bộ sự chú ý của mình đối với người mà bạn tương tác, thì bạn sẽ loại bỏ từ những mối quan hệ đó tất cả những điều quá khứ và tương lai - chúng không giúp ích gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ thực tế. Khi bạn hoàn toàn hiện diện với những người mà bạn gặp gỡ, thì bạn sẽ bỏ qua các phẩm chất của họ do tâm trí bạn đã tạo ra - những diễn giải của bạn về điều mà họ là thế nào, về những gì mà họ đã làm trước đây - và bạn trở nên có khả năng tương tác với họ vắng bóng những xét đoán vị kỷ, phát sinh từ mong muốn và nỗi sợ của bạn. Chú ý, tức là tính sẵn sàng thường trực và điềm tĩnh - đó chính là chìa khoá trong quan hệ.
Bước qua ranh giới mong muốn và nỗi sợ trong những mối quan hệ quả là lành mạnh làm sao. Tình yêu thực sự không muốn gì và cũng không sợ gì.
~
Trong quá khứ của tình yêu là quá khứ của bạn, nỗi đau của tình yêu trong nỗi đau của bạn, mức ý thức của tình yêu - đó là mức ý thức của bạn, bạn suy nghĩ và hành động cũng đúng như nó. Với nhận biết điều này sẽ tới sự tha thứ, đồng cảm và an bình.
Bản ngã không muốn nghe thấy điều này, bởi vì nếu nó không còn có thể được đáp lại và tôn sùng, thì nó sẽ mất sức mạnh.
~
Nếu bạn chấp nhận bất kỳ ai đi vào không gian của Thời Điểm Hiện Tại như một người tìm kiếm cao quý, nếu bạn cho phép tất cả là những người mà họ vốn thế, thì họ bắt đầu được thay đổi.
~
Để hiểu biết người khác, hiểu biết người đó là ai về mặt thực chất, bạn chắc gì cần hiểu biết điều gì đó Về người ấy - quá khứ, lịch sử, huyền thoại. Chúng ta nhầm lẫn sự hiểu biết Về với sự hiểu biết chiều sâu mà tâm trí không đạt tới. Sự hiểu biết Về và sự hiểu biết chiều sâu - những thể thức hoàn toàn khác nhau. Sự hiểu biết Về có quan hệ với hình dạng, còn sự hiểu biết chiều sâu - phi hình dạng. Sự hiểu biết đầu hoạt động qua tâm trí, còn sự hiểu biết sau - qua im lặng.
Sự hiểu biết Về có lợi trong những khía cạnh thực tế. Tại mức độ đó chúng ta không thể qua được mà không có nó. Nhưng nếu trong các quan hệ nó là thể thức chủ đạo, thì điều đó sẽ trở thành một yếu tố hạn chế, thậm chí có tính phá hoại. Các ý nghĩ và quan niệm tạo ra giữa mọi người một rào cản nhân tạo và tình trạng biệt lập. Trong trường hợp đó ở mối tương giao của các bạn không có gốc rễ với Thực Tại, chỉ có cơ sở hợp lý. Khi không còn những rào cản quan niệm, thì trong bất kỳ mối tương giao con người nào tình yêu sẽ hiện diện một cách tự nhiên nhất.
~
Phần lớn mối tương giao con người được quy về sự trao đổi bằng lời nói - các đối tượng của xứ sở ý nghĩ. Điều quan trọng là cuộc sống cũng đòi hỏi đưa một ít im lặng và an bình vào những mối quan hệ gần gũi.
Không có các mối quan hệ nào có thể nẩy nở hoa mỹ mà thiếu cảm giác về một không gian phát sinh cùng im lặng. Các bạn hãy thiền cùng nhau hoặc cùng nhau im lặng nghỉ ngơi trong thiên nhiên. Thông qua dạo chơi, ngồi trong ôtô hoặc khi ở nhà, các bạn hãy để cho sự hiện diện im lặng của mình trở thành an bình và lợi lạc. Im lặng không cần và không đòi hỏi tạo ra nó. Các bạn đơn giản hãy thụ cảm cái im lặng mà nó đã có, bởi vì bình thường nó hay bị che lấp bởi tiếng ồn nhất thời.
Nếu im lặng không gian không đầy đủ thì trong các mối quan hệ tâm trí sẽ chiếm ưu thế, và khi đó im lặng có thể dễ dàng bị mất đi bởi những vấn đề và xung đột. Nếu như có im lặng thì trong nó có thể có những gì mong muốn.
~
Nghe chân thật - đây là cách khác đưa im lặng vào trong các mối quan hệ. Khi bạn nghe ai đó một cách thực sự, khi đó sẽ xuất hiện chiều sâu im lặng và an bình, nó sẽ trở thành phần bản chất nhất của các mối quan hệ. Nhưng kỹ năng nghe thực sự - đây là một hiện tượng hiếm hoi. Thông thường, phần chú ý lớn nhất của mọi người hay bị xâm chiếm bởi suy nghĩ riêng tư của mình. Trong trường hợp tốt nhất, họ có thể cho lời nói của bạn sự đánh giá hoặc chuẩn bị để họ nói tiếp. Hay qua chìm đắm trong những ý nghĩ riêng tư, họ có thể không nghe điều gì cả.
Việc nghe chân chính vượt xa khỏi những giới hạn tri giác bằng tai. Nó chính là xuất hiện sự chú ý thường trực và sống động, xuất hiện một không gian hiện hữu nào đó mà bên trong nó các từ sẽ được cảm thụ. Bấy giờ các từ trở thành yếu tố thứ phát. Chúng có thể chứa đầy ý nghĩa và có thể không có ý nghĩa nào. Điều quan trọng hơn nhiều không phải là những gì mà bạn nghe thấy, mà là bản thân sự nghe như là một hành động, như là một không gian hiện diện có ý thức xuất hiện khi bạn nghe. Đây là không gian mà ở đó bạn hội nhập với người khác, nó là trường liên kết nhận biết mà trong đó không còn những rào cản chia cắt, được tạo ra bởi cách suy nghĩ quan niệm và suy diễn. Và bây giờ người khác đã không còn là “người khác” nữa. Trong không gian này các bạn được liên kết cùng nhau như nhận biết, như ý thức.
NHÂN ĐIỆN VÀ HIỆN TƯỢNG MA ÁM
(Gửi vào: 6/10/2008 9:43:49 PM)
KNTL - Dưới đây là bài viết của một độc giả với bí danh “Bác Mù” nhằm cảnh báo những hậu quả khôn lường từ cõi Âm đối với người học cách chữa bệnh bằng "nhân điện" tuỳ tiện. Sau khi tìm hiểu kỹ nội dung của bài này, chúng tôi thấy có nhiều khía cạnh đáng chú ý phù hợp với sự hiểu biết về thế giới tâm linh hiện nay và những bệnh Âm thường gặp. Vì vậy, chúng tôi cho phổ biến bài viết này kèm thêm một số chi tiết bàn luận xung quanh cách chữa bệnh bằng nhân điện.
Tôi không mong mỏi bạn tin tưởng một phần hay hoàn toàn vào những điều tôi viết sau đây, vì những điều này quả thật khó tin. Tôi cũng không có đủ khả năng, thời gian và công sức để dấn thân vào một cuộc tranh luận về những điều tôi viết là sự thật hay mê tín, là một vấn đề thuộc về bệnh tâm thần chứ chẳng phải vấn đề tâm linh. Tôi chỉ là một người băn khoăn với sự an nguy của hai đứa em gái thân yêu trong gia đình hiện đang phải đối phó với những kẻ thù ma mãnh, có hồn mà chẳng có thân xác, đang chiếm ngự thân xác của các em tôi. Tôi cũng rất quan tâm đến sự an nguy của những người có thể là nạn nhân tương lai của việc học “Nhân Điện Khoa Tự Động” mà đánh liều viết bài này với tất cả tâm thành. Tôi cố gắng trình bày chuyện đã xảy ra trong gia đình, hy vọng bạn đọc qua kinh nghiệm đau thương của gia đình tôi mà không bước vào vết xe đổ này nữa. Những chuyện tôi viết sau đây là chuyện thật sự xảy ra, không một lời thêm bớt, theo trí hiểu biết hạn hẹp của bản thân tôi.
Khoảng đầu tháng 4 năm 2007, qua lời giới thiệu của một người cháu ruột, hai em gái tôi (tạm gọi là em A và em B) đã đến thọ giáo với thầy MVN, địa chỉ… thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, điện thoại… Thầy MVN dạy học trò môn “Nhân Điện Khoa Tự Động”, thầy không có tính tiền học phí gì cả. Thầy chỉ dạy học trò trong 6 ngày, chứ không như các môn phái “nhân điện” khác thường phải mất nhiều thời gian hơn, có thể đến 6 tháng. Khi đến học, thầy đặt tay lên đầu, lên trán để mở luân xa số 7 và số 6 bằng “nhân điện” của chính thầy. Thầy cũng mở những luân xa 5, 4, 3 và 2 bằng cách để tay lên vị trí những luân xa này trên sống lưng. (Quý vị có thể tìm hiểu thêm về những luân xa này qua quyển Journey to the East của giáo sư Spalding – Bản dịch rất hay của Nguyên Phong là “Hành Trình Về Phuơng Đông”, chương nói về “Cõi Giới Vô Hình”. Thầy CE Hằng Trường cũng có giảng về những luân xa này (trong số các băng giảng của thầy mà tôi không nhớ tên).
Luân xa 6 và 7 là cửa ngõ để thể xác của con người có thể tiếp xúc được với thế giới tâm linh và cõi giới vô hình mà mình không thấy đuợc. Theo tôi hiểu, đó cũng chính là cánh cửa bảo vệ những người đang sống trong thế giới này khỏi phải tiếp xúc với những hồn ma bóng quế của thế giới những người đã chết.
Trong trường hợp em B của tôi, chỉ 5 phút sau khi thầy MVN dùng “nhân điện” của thầy để mở luân xa cho em, B rùng mình một cái rồi 2 tay em tự động chắp lại, không hề theo sự điều khiển của B, vái lạy tứ phương và em có thể quay người dẻo như người lên đồng, múa lên những động tác mà em tôi, một người thường bị đau lưng kinh niên, không bao giờ có thể làm được. Bệnh đau lưng, mệt mỏi trong B do đi làm vất vả lại thêm cuộc hành trình xuống nhà thầy MVN từ Saigon trên cái xe không êm ái, trên đoạn đường kẹt xe như nêm cối, thốt nhiên biến sạch. Còn em A, thì sau 4 ngày tập luyện, sang ngày thứ 5 thì em cũng thấy tự nhiên 2 tay em chắp lại, vái lạy tứ phương rồi đi vào những điệu múa mà dù em đang tỉnh táo 100% vẫn không sao chủ động ngừng lại đuợc. Cần nhắc lại là em A của tôi đã bị mổ gai cột sống vài tháng trước và 2 tay đang bị hiện tượng như Carpel Tunnel Syndrome và Tennis Elbow, không cử động được 2 bàn tay, 2 cổ tay, đau nhức dần lan tới 2 vai, bác sĩ Tây y đã đề nghị mổ cả 2 tay rồi. Với “nhân điện” học được, cả 2 em gái tôi tuy mới đầu cũng cảm thấy lạnh tóc gáy, sởn gai ốc vì việc vái lạy tự động cùng các động tác siêu nhiên mà 2 em không làm chủ được – nhưng vẫn đủ sáng suốt để tự quan sát những động tác quái lạ này, vẫn cảm thấy rất hài lòng với những kết quả y học thần kỳ trên cơ thể của mình. Hai em rất vui vẻ, sung sướng nghe lời thầy MVN dạy là khi muốn chữa bệnh cho mình hoặc người khác, chỉ cần kêu “6, 7 hãy chữa bệnh này đi” là luân xa 6 và 7 sẽ làm đúng y như vậy. Em A còn hân hoan khoe với tôi qua điện thoại là: “6, 7 của em rất giỏi; có 1 hôm em sơ ý bị một hộp thịt đã mở cắt đứt tay rất sâu, máu chảy dầm dề. Em bèn kêu 6, 7 cầm máu lại, là máu ngưng chảy liền”. Em kể cho tôi nghe rất hăng hái, khuyên tôi nên về Việt Nam để đi học “nhân điện” ở thầy MVN để chữa bệnh tiểu đường vốn đã làm bạn đồng hành với tôi từ nhiều năm. Thú thật với các bạn, tôi nghe những thông tin này mà chỉ cười thầm là sao 2 em tôi, có ăn học tử tế, là những người tốt nghiệp đại học hoặc tương đương, rất thành công trong công ăn việc làm với chủ nhân là những công ty nước ngoài, lại có thể nói những chuyện không tưởng như thế này. Nhưng tôi biết cả 2 em tôi là những người rất thẳng thắn, không nói trăng nói cuội, không mê tín dị đoan, do đó tôi không bài bác gì cả, chỉ im lặng lắng nghe và nghĩ thầm: “Muốn chữa bệnh hoạn thì phải thay đổi lối sống của mình, phải ăn đồ ăn tốt, nhiều rau cỏ, bớt thịt đỏ, mỡ màng, tập thể dục đều đặn, đi bác sĩ khám định kỳ chứ sao lại có cái vụ ‘Nhân Điện Khoa Tự Động’ cứ như chuyện Liêu Trai Chí Dị thế này!”.
Bẵng đi đến khoảng cuối tháng 6 năm 2007, em trai tôi ở Saigon bỗng gởi Email cho cả đại gia đình bên Mỹ cho biết rằng: Em A và em B nay đã phát hiện ra “6, 7” của chúng thực chất là 2 hồn ma vất vưởng, vốn đã chết từ mấy chục năm nay, qua sự mở luân xa số 6 và số 7 của thầy MVN, đã xâm nhập vào thân thể của 2 em và đang mở chiến dịch chiếm hữu đầu óc, rồi dần dần cả thân xác của 2 em. Em B hiện đang rất vất vả đối phó với con ma trong B; còn con ma trong A thì êm ả hơn, nhưng dùng cách nói ngọt như mía lùi để chiếm hữu lòng tin của em A.
Đọc thơ em trai mà tôi ngỡ như trong mơ. Ông xã và tôi lập tức xin nghỉ phép ở Sở và mua vé bay về Việt Nam để xem tình hình thế nào. Trong lúc chờ đợi visa và vé máy bay, tôi vào Internet đọc tất cả những tài liệu hoặc nghe băng giảng của các thầy Hằng Truờng về Thân Trung Hữu, thầy Nhật Từ về Quyết Nghi về Ngoại Cảm và Cõi Âm; Cận Tử Nghiệp của thầy Tâm Thiện, những bài nói chuyện của nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, sách “Hành Trình Về Phương Đông” của Nguyên Phong dịch từ cuốn “Journey To The East” như đã nói ở trên. Sau này về tới Saigon, tôi đọc thêm sách “Hiệu Ứng Sinh Học” của Kỹ sư Đỗ Thanh Hải, sách “Con Người Thoát Thai Từ Đâu” của nhà khoa học Nga Mundasep v.v... để tìm hiểu về thế giới của những người đã khuất và hồn ma bóng quế là gì. Theo những gì tôi góp nhặt được từ những nguồn tài liệu vừa nêu, thì con người chúng ta được cấu tạo bởi phần xác (physical body hay khung cộng hưởng sinh học theo chữ dùng của Kỹ sư Hải) và phần hồn (mind – sóng sinh học theo Kỹ sư Hải). Khi chúng ta chết thì chỉ có phần xác tan rã thôi, nhưng phần sóng sinh học vẫn còn hiện diện dưới dạng sóng năng lượng. Với những người khi chết đi với tấm lòng thanh thản, không có gì nuối tiếc lưu luyến với cõi Trần vừa tạm sống, các sóng sinh học của nguời mới chết sẽ dễ dàng siêu thoát để đi đầu thai kiếp khác hay lên cõi Thiên Đàng, cõi Trời nào đó. Còn những nguời chết oan ức, chết bất đắc kỳ tử, chết trong đau đớn hay lo sợ, trong tiếc nuối về những công chuyện còn dở dang trên Trần thế thì sóng sinh học của họ sẽ không bay cao đuợc, mà cứ là là trên mặt đất, thành những hồn ma vất vưởng lang thang, thân xác đã mất mà lòng ham muốn, tham-sân-si, ngã mạn vẫn còn đó. Cho đến khi các sóng sinh học hay vong linh này hiểu ra rằng, mình đã chết và tất cả các mong muốn trần tục của mình chỉ là số không thì họ sẽ bay cao lên các tầng trên để trở lại đầu thai cho kiếp mới. Thế nhưng cũng có những vong linh dù đã chết hàng trăm năm hay vài chục thế kỷ vẫn không giác ngộ được lý vô thuờng của cuộc đời, lại muốn tìm đường tắt mà đi, bèn tìm cách nhập vào thân xác của những người còn sống đã bị mở luân xa 6, 7 như 2 em của tôi, hoặc có vong linh có sóng sinh học cộng hưởng với sóng sinh học của người còn sống thì sẽ nhập vào thân xác của những người đó, rồi tìm cách chiếm hữu trí não của người bị xâm nhập trước, từ đó sai khiến các hành động của người này theo ý của vong linh. Các vong linh này là ma ác, rất khó giác ngộ và người bị xâm nhập sẽ rất vất vả để đánh đuổi “quân xâm lược” này ra khỏi thân xác của họ. Các vong linh có tính khí hệt như tính khí của họ lúc còn sống, dù đã chết cách đây bao nhiêu năm. Đa số các vong linh thì hiền lành hơn, không hề có ý định xâm nhập cơ thể của bất kỳ ai. Cũng có những vong linh, nếu có xâm nhập một cơ thể người sống nào thì cũng chỉ ở tạm trong một thời gian rất ngắn để nhờ người này giúp mình hoàn thành tâm nguyện mà vong linh đã không hoàn thành được khi còn sống, rồi vui vẻ ra đi khi tâm nguyện đã thành.
Khi về tới Saigon, tôi quan sát cả 2 cô em và hiểu rõ ràng rằng mỗi em đã bị một hồn ma xâm nhập. Trong môi truờng làm việc bên Mỹ của tôi, tôi cũng đã có dịp tiếp xúc với một số bệnh nhân có bệnh tâm thần. Do đó, đây là điều tôi để ý truớc khi làm việc với 2 em của tôi để xem hai em tôi có bị chứng Disassociative Identity Disorder (formerly Multiple Personality Disorder) – dường như dịch sang tiếng Việt là bệnh tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng. Một trong những tiêu chí của bệnh này theo DSM-IV (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – Fourth Edition) là bệnh nhân không nhớ được những gì mình đã làm khi nhân cách thứ hai chiếm hữu thần trí và cơ thể họ. Thí dụ, chị Jane có 2 nhân cách trong người thường xuất hiện nhiều lần: một là “chị Jane” hiền lành, nhút nhát, không thích đi shopping; còn nhân cách thứ hai là “anh John” thì rất kiêu ngạo, thích sắm đồ thể thao. Khi “John” xuất hiện trong thể xác của chị Jane thì “anh ta” đi Big 5 mua sắm nào là quần áo bơi, kiếng lặn, ống lặn v.v... Đến khi “Jane” trở lại làm chủ bản thân mình thì “chị ta” cứ ngẩn ngơ ra, không thể hiểu tại sao tự nhiên trong nhà mình lại có mấy cái đồ mua từ Big 5 như vậy. Bản thân chị Jane thường xuyên bị quên, không nhớ nổi những chuyện mình đã làm khi hành động với nhân cách thứ hai của mình.
Trường hợp của hai em tôi thì khác hẳn, cả hai đều biết rất rõ mình là ai, không hề bị lẫn lộn nhân cách ngay cả khi người Âm trong 2 em nói chuyện với hai em bằng tư tưởng. Xin nói rõ hơn là người Âm trong hai em tôi không hề nói thành tiếng được bằng miệng các em tôi, mà họ chỉ gởi tư tưởng chạy trong đầu như kiểu Email, tôi gọi la Ethoughts (Electrical thoughts) cho hai em hiểu. Con ma trong em B thì rất lắm mồm, nói huyên thuyên suốt ngày, toàn chuyện hắn ta và gia đình bị giết như thế nào ở Campuchia trong thời kỳ Khơ Đỏ (1975 - 1979) và cũng dùng những ngôn ngữ thô tục để sách nhiễu tình dục em B. Em B rất cương quyết chống đối lại những sách nhiễu này và cương quyết không tham dự vào bất cứ cuộc nói chuyện nào của con ma trong em. Do đó, hắn ta rất giận dữ và thường phản ứng lại bằng cách gởi những luồng điện mạnh vào khoảng 1,5 vôn để châm chích vào những huyệt đạo trong người em B, nhằm tạo những cảm giác nhức nhối như kiến cắn trong vòng 1/2 tới 1 giây đồng hồ. Sau đó hắn ta cũng hết điện, phải tích điện vài giờ mới có thể tấn công tiếp. Qua thông tin của hắn, em B kể lại cho tôi biết rằng con ma này bị bè lũ Pon Pot bắn chết hoặc cắt cổ chết năm 1975 (hắn không nhớ rõ chết như thế nào, vì có lẽ quá kinh hoàng khi bị giết) khi mới 24 tuổi cùng với nguời vợ đang có thai 4 tháng. Trong 32 năm qua, hắn đã nhập vào 7 người, trong đó em B tôi là nạn nhân thứ 7. Chúng tôi đã nhờ nhiều sư tăng, ni sư và một cha bên Công giáo nói chuyện với hắn bằng bút đàm để khuyên nhủ và hỏi xem chúng tôi có thể làm gì để giúp hắn siêu thoát. Thoạt đầu hắn còn đóng vai trò tử tế, nào xin lễ cầu siêu ở chùa, rồi lễ rửa tội ở nhà thờ. Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu này cho hắn, nhưng cuối cùng hắn tuyên bố là hắn chỉ đòi hỏi thế để câu giờ mà thôi, chứ hắn hoàn toàn không có ý định nào để xuất ra khỏi người em B cả. Hiện nay chúng tôi đang nhờ chị K theo Công giáo ở Houston (Texas) theo lời giới thiệu của vị linh mục T khả kính chuyên lo việc trừ tà, hàng đêm chị K gọi điện thoại trừ tà qua phone. Cha T sống và làm việc ở một nhà thờ tại Việt Nam, nhưng cha hiện đang công tác dài ngày bên Mỹ. Khi chúng tôi liên lạc được với cha để nhờ giúp đỡ, thì cha giới thiệu chị K sẽ giúp em B hàng đêm qua phone. Thực tình khi nghe cha T nói như thế, tôi rất thất vọng và lẩm bẩm làm sao mà có thể trừ tà qua phone được, nghe cứ như chuyện hoang đường. Ấy thế mà là sự thực đấy các bạn ạ. Chị K đã giúp em B qua phone bằng cầu nguyện, đọc kinh Tân Ước, xức dầu thánh, uống nước thánh và con ma trong B ngày càng yếu dần đến độ, không thể gởi Ethoughts cũng như năng lượng của hắn với số lần châm chích em B ngày càng giảm dần đi. Chị K tin tưởng rằng, em B sẽ đánh bật kẻ “xâm lược” ra khỏi cơ thể em trong một thời gian ngắn. Hy vọng thời gian chữa trị không quá 20 ngày. Chi K cho tôi biết rằng thời gian vừa qua, có một số nữ tu Công giáo từ Mỹ về Việt Nam cũng đến học “nhân điện” với thầy MVN ở Biên Hòa. Khi về Mỹ, tất cả các nữ tu đó đều có hiện tượng ma nhập, từ chối vào giáo đường, la hét, ói mửa khi đọc kinh hoặc lên cơn động kinh, múa may những động tác siêu nhiên trong nhà thờ. Cha T, chị K và một người nữa có khả năng trừ tà đã và đang giúp số nữ tu này bình phục trở lại. Do đó chị K có rất nhiều kinh nghiệm đối phó với những hồn ma không hiểu vô tình hay cố ý mà thầy MVN đã tạo cơ hội cho chúng nhập vào các nạn nhân ngây thơ “đến nộp mình cho quỷ”, mà lúc đầu họ cứ tưởng rằng chỉ đi học “nhân điện” để mong tự trị bịnh cho mình. Xin Chúa ban phước lành cho những người như chị K. Chúng tôi rất cảm kích truớc sự giúp đỡ nhiệt thành của chị K và cha T.
Về phần em A thì chúng tôi có khó khăn hơn nhiều so với em B. Lý do là con ma nhập vào em A tự xưng là một vong nữ có tên rất đẹp, tôi không tiện nêu lên ở đây. Con ma này nói rằng cô ta sinh năm 1901, là con một của một gia đình gốc Việt giàu có bên Campuchia. Cô ta là nữ sinh trường Marie Curie, nói tiếng Pháp rất giỏi. Thuở sinh tiền, cô thuộc loại con gái nhà giàu hư hỏng, dùng tiền cha mẹ ăn chơi nhảy đầm trác táng, cuối cùng chết vì bịnh hen suyễn (hay ho lao) năm 1943 trong sự tiếc thương của cha mẹ cô. Cô ta nói chuyện hết sức ngọt ngào, rất nịnh bợ em A của tôi, nào là em A tử tế, tốt bụng, nào là các con của em thông minh, học giỏi, ngoan ngoãn, lại hết sức chăm sóc sức khoẻ cho em A mỗi khi trái nắng trở trời. Khi tôi về Saigon, cô ta cũng dùng bút đàm khen tôi, nào là hay là tốt đủ kiểu. Cô ta ngọt ngào đến nỗi em rể tôi (chồng của A), cũng thấy rằng sự hiện diện của con ma trong em A chỉ là điều tốt cho gia đình, vì sức khoẻ của A rõ ràng được cải thiện. Rất khó cho tôi để thuyết phục A là em đang bị con ma nữ này dùng chiến thuật “mật ngọt chết ruồi” để dần dần chiếm trọn đầu óc A, rồi một ngày nào đó các con của A sẽ chỉ có cái xác của mẹ, còn hồn và hành động sẽ là của con ma trú ngụ. Mỗi lần nói chuyện này với A là em tôi lại nổi nóng lên, vì cho rằng em hoàn toàn làm chủ thân xác và ý tuởng của mình, còn con ma thì hiền lành giống như “bà tiên” vậy! Nhìn em A và nghe em nói như thế, tôi chỉ âm thầm khóc và lo sợ mà chả biết làm gì khi cả gia đình riêng của em tôi không hề coi đó là chuyện nghiêm trọng. Em A rất thương và lo lắng cho em B trong việc đánh đuối kẻ “xâm lược” trong B, nhưng chưa hề có ý định nào đánh đuổi cái vong nữ trong thân xác của chính mình.
Phước nhà còn dày, cho nên vào khoảng đêm thứ 4 sau khi chị K từ Texas bắt đầu giúp em B đánh đuổi tà ma trong người em, chị K than phiền với gia đình tôi là tại sao qua phone chị đã đánh con ma trong B tơi tả và nó đang yếu đi rõ ràng, thì tự nhiên lại có một sức mạnh ngoại nhập ở đâu đó giúp con ma trong B mạnh trở lại. Chúng tôi bèn dùng phương pháp loại suy để xem những người nào hiện diện với em B khi em đang nhận điện thoại từ chị K. Chúng tôi phát hiện ra rằng, khi con ma trong B kêu rên khóc lóc (tức là em B kêu khóc chút xíu, rồi em lại trở lại là B 100%), tức thì em A lại lo đấm bóp cho B một cách không bình thường như kiểu ma nhập, tức là mặt A hơi dại đi, tay chân dẻo quẹo xoa bóp cho B. Lúc đó tôi có hỏi sao A lại làm vậy, thì em trả lời là “6, 7” của em ghét con ma trong B lắm và muốn xoa bóp giúp B đỡ mệt. Chúng tôi có ngờ đâu là con ma nữ này đang truyền “nhân điện” giúp con ma trong B hồi phục lại. Khi nghe chị K than phiền, tôi bèn nói A không được phép ở trong phòng B và đụng chạm vào người B nữa. Em A bực mình bèn hạch hỏi con ma nữ trong em. Con ma này bèn viết một lá thư dài 2 trang giấy xin lỗi cả gia đình tôi là quả thật nó có giúp đỡ con ma trong B, vì thấy con ma này bị chị K đánh tả tơi, nó cầm lòng không đậu nên ra tay tiếp thêm nội lực cho nó. Con ma nữ xin lỗi cả nhà tôi, đặc biệt là với tôi, vì nó nói tôi vẫn đối xử với nó lịch sự lắm, không ngờ nó lại làm tôi thất vọng như vậy. Nó cũng hứa là sẽ xuất khỏi A nếu chúng tôi đưa nó lên tịnh xá Linh Quang ở 40/60 Nguyễn Khoái, quận 4 Saigon để nó xuất gia đầu Phật sau đó 2 ngày, tức là vào ngày 28 tháng 7 năm 2007. Em trai tôi cho biết là trước đó, con ma nữ này cũng đã hứa nhăng hứa cuội nhiều lần là đưa nó lên chùa này chùa nọ để nó xuất ra, mà lần nào cùng chỉ toàn dối trá, nhưng vấn đề là em A của tôi vẫn một mực tin yêu và cho rằng con ma này có tâm hồn nhân hậu, chỉ một phút yếu lòng mà giúp đỡ con ma trong B thôi. Tôi bèn nhân cơ hội này bảo với em A rằng, thôi đuợc rồi, tôi tin lời hứa của con ma, tôi vẫn tiếp tục đối xử tử tế với nó, sẽ tha thứ lỗi lầm của nó nếu như nó giữ đúng lời hứa là sẽ ra xuất ra vào ngày nói trên. Riêng bản thân tôi, tôi hứa sẽ trọn đời cầu nguyện cho linh hồn đó hàng đêm sau khi cô ta thực hiện lời hứa của mình. Nhưng nếu đến ngày đó, sau khi mình đã làm đủ theo yêu cầu của cô ta mà cô ta không đi khỏi thì em A phải quyết tâm đánh đuổi con ma ra và cắt đứt mọi liên lạc với nó. Em A bằng lòng như thế với tôi. Còn con ma cũng ra vẻ rất nhiệt tình và rất cảm động truớc lời hứa này.
Hai ngày sau, tôi đưa em A lên chùa Linh Quang. Chúng tôi đến từ lúc 10 giờ 30 phút sáng, dự lễ cầu an cho người sống tới 11 giờ, rồi ăn cơm chay tại chùa. Rất nhiều người đến chùa để được chữa bệnh, có người thì bệnh vật lý như ung thư, nhức mỏi; có người bị bệnh tâm thần, nhưng cũng có rất nhiều người bị ma ám như em A của tôi (thái độ của người bị ma ám rất khác với người bệnh tâm thần, tôi cảm nhận được nhưng không diễn tả được). Đến 12 giờ 30 phút trưa, người có bệnh xếp hàng ngồi thành 2 hàng dài dằng dặc trong đại điện, dễ có đến hơn 150 người. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, đợi khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ thì tới phiên em tôi được vị sư già mặc áo tăng bào vàng hơi đỏ, vai áo bên phải để trần (chắc là vị sư này thuộc phái Nam Tông), chữa bệnh. Tôi quỳ ngay sau lưng em A, nghe loáng thoáng em nói vắn tắt với thầy là có một vong nữ trong mình, có nhờ em đưa lên chùa hôm nay vì vong nữ này muốn xuất ra khỏi người em hôm nay, mong thầy giúp đỡ. Vị sư bèn để 3 ngón tay lên đầu em A, miệng lầm rầm niệm chú, rồi để một cái mõ nhỏ lên đầu em, gõ lóc cóc vài cái. Làm xong, thầy quay sang bên cạnh, lấy ly nuớc nhỏ do người đệ tử trao cho, co mấy ngón tay lại trên miệng cốc, lẩm nhẩm niệm chú gì đó rồi đưa cốc nuớc cho em tôi uống. Thế là xong, em tôi ra khỏi hàng đến quỳ truớc bàn thờ Phật Bà Quan Âm ngay cạnh đó. Tôi bèn nhảy ra khỏi hàng, hỏi em A: Chuyện gì xảy ra vậy, con ma đã xuất ra chưa? Thốt nhiên, tôi thấy em tôi xoè bàn tay phải ra, giơ thẳng bàn tay ra trước mặt rồi dùng hết sức lực đấm thình thịch vào ngực, đỉnh đầu và trán của em liên tiếp mấy chục cái. Sức đấm mạnh đến nỗi người em tôi lảo đảo sau từng cú đấm. Tôi kinh hoàng, hỏi em: “Em ơi, chuyện gì vậy, sao em lại tự đánh em như thế?” Em tôi trả lời: “Bà ấy muốn ra, em đang làm thế để giúp bà ấy ra”. Tôi nhìn nét mặt của em, thật tình tôi không biết lúc này đó là em A hay là con ma nữa. Tôi chỉ cảm thấy toàn thân mình đau đớn như đang bị đánh, những cú đánh của em tôi vào nó mạnh mẽ vang lên trong tim trong óc tôi. Cả bao nhiêu người trong đại điện, cả vị sư già ngồi cách em tôi chừng nửa thuớc, chả ai thèm để ý đến em tôi cả, dường như những sự việc ma nhập, tự hành hạ thân xác như thế đã diễn ra quá thường xuyên ở đây. Không biết làm gì, tôi nhảy trở vào hàng người đang xếp hàng, bây giờ đã ngắn đi rất nhiều, để hỏi vị sư già đầu đuôi câu chuyện. Chỉ khoảng 5 phút sau, đã đến lượt, tôi bèn quỳ chắp tay hỏi rằng: “Thưa thầy, em gái của con vừa rồi có thưa với thầy là cái vong nữ trong người nó nói rằng nhờ đưa lên chùa hôm nay để vong này xuất ra; còn em của con đã đuợc gặp thầy và đang ngồi kia – tôi chỉ tay về phía em A – xin thầy giảng cho con biết chuyện gì đang xảy ra vậy?”. Vị sư già nhìn tôi cười – tôi không thể biết đó là nụ cuời thương hại hay mai mỉa – bảo tôi rằng: “Cô không biết người ta đã nói là dối như ma à? Người ta đã nói dối với cô và đang lừa dối em cô đó. Muốn chữa khỏi bệnh này, em cô phải đi chùa rất nhiều lần, chứ một lần làm sao hết”. Nói xong, vị sư già quay qua chữa bệnh cho người kế tôi. Tôi quay sang em tôi và hỏi: “Em có nghe thầy nói chưa, mình lại bị lừa dối nữa đó!”. Nhìn vẻ mặt đau đớn của em A, tôi không cầm được nước mắt, tôi biết em tôi vừa cảm nhận được sự thật phũ phàng là “bà tiên” trong thân xác nó thực chất chỉ là một ma nữ thâm trầm, nham hiểm, nói dối như cuội và vừa rồi, con ma này đã lợi dụng lòng tin của em tôi để đánh A một trận nhừ tử bằng chính bàn tay của em. Cầm tay tôi, em A bảo: “Chị đừng lo, em sẽ quyết đánh cho con ma nữ giảo hoạt, dối trá ra khỏi người em. Em sẽ nhất quyết không cho nó nói chuyện hay viết lách gì với em nữa!”. Nhìn vẻ mặt của em A, tôi biết em đã cương quyết lập chí dành lại “độc lập” cho thân xác mình. Tôi vừa đau đớn vừa mừng rỡ nghĩ rằng, ít nhất em tôi đã vuợt qua đuợc một giai đoạn khó khăn trong cuộc “chiến tranh” với ma quỷ là lập quyết tâm đánh đuổi kẻ thù. Hiện nay, em tôi hàng ngày lên chùa Linh Quang để con ma có cơ hội nghe kinh kệ và nhờ thần lực, tín tâm của sư tăng trong chùa và trong chính em để kêu gọi con ma xuất khỏi em tôi. Em A cũng hứa rằng, nếu sau 3 tuần đi chùa mà con ma vẫn không nhúc nhích di chuyển gì cả thì em sẽ đổi qua biện pháp mạnh hơn để trục ma ra khỏi người mình.
Tôi xin tóm lược như sau những ý chính mà tôi muốn nêu lên trong bài này, bởi vì trong khi xúc động tôi đã không viết được rõ ràng và mạch lạc:
1. Xin mọi người hãy hết sức thận trọng khi đi học “Nhân Điện Khoa Tự Động” ở những người như thầy MVN. Tôi không đủ dữ liệu để kết luận rằng, liệu thầy MVN có liên quan trực tiếp đến vấn đề tạo cầu nối giúp những hồn ma nhập vào cơ thể các học viên của mình hay không? Tôi chỉ biết là 2 cô em gái của tôi đều bị ma nhập ngay trong lúc đang học “nhân điện” với thầy sau khi thầy mở luân xa số 6 và số 7 cho 2 em tôi. Chị K cũng cho tôi biết là một số nữ tu Công giáo cũng bị hiện tượng ma nhập sau chuyến du hành từ Mỹ về Việt Nam khi cùng tham gia khóa học “nhân điện” với thầy MVN. Tại sao lại có sự trùng hợp đặc biệt như thế?
2. Bản thân tôi sẽ không bao giờ để ai sờ lên đầu lên cổ của mình, ai mà biết được là họ có khả năng mở luân xa số 6, số 7 hay không?
3. Đến thời điểm ai đó phải lìa cõi Trần ra đi, xin hãy ra đi với lòng thanh thản, dù còn có bổn phận trách nhiệm với người sống cũng nên hiểu rằng phận sự của mình đến thời điểm đó là kết thúc, đừng nuối tiếc gì cả, để phần tâm linh của mình có thể nhẹ nhàng siêu thoát, không trở thành vong linh vất vưởng lang thang. Về phần nguời sống, xin đừng khóc than níu kéo người đã mất, hãy nói cho những người hấp hối biết là họ đã làm tròn nhiệm vụ của mình trên Trần thế này, người ở lại cũng sẽ nghĩ tốt về họ, để người chết thanh thản ra đi.
4. Xin hãy đối xử tử tế với những người bị ma nhập, đừng xa lánh họ. Con ma chẳng có nhiều quyền lực gì cả, trừ trường hợp người bị ma nhập không hiểu được bản chất của nó thì sẽ rất sợ hãi trước những lời hăm dọa của ma, chẳng hạn như “Tao sẽ giết mày nếu mày không nghe lời tao!”. Những lời hăm dọa đó khó trở thành thực tế, con ma vốn chỉ là những sóng sinh học Âm, sức lực chỉ bằng cục pin 1,5 vôn. Con ma sẽ rất mạnh mẽ khi tâm hồn và thể xác của người bị nhập yếu đuối, sợ hãi và không có đuợc sự giúp đỡ thương yêu của gia đình cũng như bạn bè. Con ma sẽ dùng chiến thuật tâm lý, ngọt bùi cay đắng có cả, để thoạt đầu mua chuộc lòng tin của người bị nhập, dần dần chiếm đoạt toàn bộ lý trí của họ và tiến đến khống chế toàn bộ thể xác – Bản thân con ma chỉ là phần tinh thần của người đã chết, nay mong muốn chiếm đoạt thân xác và tâm trí của người còn sống để hành xử theo ý riêng của mình. Con ma cũng có thể nhăn răng, múa vuốt (qua cử chỉ của người bị nhập) như kiểu trong phim Exorcist, nhưng cường độ yếu hơn nhiều, chứ không như kỹ xảo Hollywood, để hăm dọa người chung quanh, làm cho họ cảm thấy sợ hãi mà xa lánh người bị ma nhập. Những kỹ xảo của con ma chỉ làm tôi bật cuời, thương hại cho kẻ lực bất tòng tâm và yêu thương em tôi hơn.
5. Phải có lòng tin nơi Thượng Đế, Chúa hay Phật để đối phó với các thế lực đen tối của thế giới bên kia. Chính nghĩa bao giờ cũng thắng tà ma; tôi đã mục kích con ma trong em B rất sợ những câu trong Kinh Thánh cũng như các câu niệm Phật Bà Quan Âm hay mật chú Tây Tạng.
Hy vọng các bạn đọc bài viết này của tôi và rút tỉa được vài điều nào đó để có thể giúp ích cho bạn bè hay người thân thêm thông tin về thế giới bên kia, một thế giới mà chúng ta hiện nay không hiểu rõ. Tôi mong bài viết này có thể đóng góp chút nào đó trong việc ngăn ngừa những trường hợp không may có thể xảy ra sau khi học “Nhân Điện Khoa Tự Động”. Nếu có thể, tôi mong các bạn post bài viết này ở bất cứ website hay báo chí nào để hy vọng thông tin của tôi sẽ giúp ích cho các độc giả. Xin cảm ơn các bạn.
Bác Mù (Aug. 24, 2007)
GHI CHÚ: Một cộng tác viên của Website chúng tôi cho biết rằng, câu chuyện trên đây đã được nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải xác nhận là có thực. Chính ông đã trực tiếp gặp thầy MVN cũng như hai phụ nữ A và B nói trên để tìm hiểu sự việc đã diễn ra như thế nào sau khi có hiện tượng vong nhập vào những người đó.
Tham khảo thêm:
CON NGƯỜI VÀ NGUỒN NĂNG LƯỢNG PRANA
Từ hàng ngàn năm nay, nhiều người có khả năng chữa bệnh huyền bí và một số nhà nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực tâm linh đã tập trung sự chú ý đặc biệt đến cái được gọi là nguồn năng lượng Prana hay gọi tắt là Prana. Theo thuật ngữ Ấn Độ, Prana có nghĩa là Nguyên lý năng lượng mà người xưa đã giả định là tất cả các dạng năng lượng và lực đều phát sinh từ đó. Còn thuyết cổ phương Đông lại cho rằng, Prana có biểu hiện trí tuệ và là phần không thể tách rời của Tạo hoá.
Các mô tả của một số người có tri giác tâm linh phát triển dường như khẳng định là mọi vật hữu tri và vô tri trên hành tinh luôn chìm ngập trong một đại dương năng lượng mà mắt thường không nhìn thấy, đó chính là Prana. Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chữa bệnh không dùng thuốc đang nỗ lực thực nghiệm ứng dụng Prana dựa trên ý tưởng về sự tồn tại trường năng lượng vũ trụ mà nhờ tập luyện, con người có thể cảm nhận được một cách khá cụ thể.
Có nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề cảm nhận và ứng dụng Prana trong cuộc sống thường ngày. Bản chất của Prana là gì? Tập luyện để cảm nhận và thu nạp Prana như thế nào? Vì sao con người cần đến nó? Cách đơn giản sử dụng Prana để chữa bệnh và tăng cường sức khoẻ?
Cho đến nay, chưa thể khẳng định được chắc chắn về bản chất đích thực của Prana là gì. Người ta coi Prana là một dạng đặc biệt của vật chất, có biểu hiện trung gian giữa trạng thái năng lượng và đông kết. Có thể các hạt cấu tạo nên Prana mịn hơn vật chất thông thường nên tri giác con người rất khó cảm nhận chúng.
Việc tập luyện để cảm nhận và thu nạp Prana thường được tiến hành theo các mức khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Người tập luyện trước hết phải có lòng tin vào sự tồn tại Prana và tin vào khả năng mình, đồng thời phải luôn duy trì đức tính nhẫn nại trong thực hành. Cách tập luyện đơn giản đòi hỏi trải qua 5 bước chủ yếu sau đây:
1- Xác định tư thế: Người tập thực hiện một trong các tư thế thoải mái tuỳ chọn là ngồi (ngồi xếp bằng, ngồi trên ghế để chân xuống chỗ dựa), nằm ngửa (hai chân duỗi hay co song song) hoặc đứng thẳng (hai tay để dọc thân, lòng bàn tay hướng về phía trước). Nên tạo cho tư thế ổn định, lưng và đầu luôn thẳng nhau, hai bàn tay để ngửa ở vị trí thuận tiện với các ngón tay như đang cầm một vật, lưỡi uốn cong chạm vào vòm hàm trên, còn hai mắt khép nhẹ. Thường sau một thời gian tập luyện nhất định, mỗi người có thể tự tìm ra cho mình một tư thế tiện lợi và có hiệu quả nhất.
2- Thư giãn và tập trung: Để loại bỏ hầu hết mọi cảm xúc và ý nghĩ tự phát không cần thiết, người tập thả lỏng toàn thân và tập trung sự chú ý vào hơi thở, làm cho quá trình hô hấp hoạt động ở mức cao hơn và nhịp nhàng (thở vào sâu và chiếm khoảng thời gian như thở ra, thời gian nín thở xấp xỉ thời gian giữ hơi thở). Vào lúc khởi đầu, nên thở vào qua mũi mấy lần thật sâu và thở ra qua mồm để loại bỏ tạp khí.
Việc thư giãn và tập trung vào hơi thở có thể được thực hiện không mấy khó khăn. Thường sau 15-20 phút thì người tập bắt đầu có cảm giác là quá trình thở dường như trở nên thông thoáng và dễ chịu hơn. Điều này là dấu hiệu để chuyển sang bước tiếp theo.
3- Thu nạp Prana: Trong khi vẫn ở trạng thái thư giãn và giữ cho hơi thở đều, người tập phát lệnh thu Prana vào cơ thể bằng ý nghĩ lặp đi lặp lại nhiều lần như “Hãy thu nạp Prana!” hoặc “Cơ thể, hãy thu năng lượng!” Khi đạt được kết quả, toàn thân sẽ có cảm giác râm ran êm dịu, tựa như có vô số điểm li ti khắp bề mặt cơ thể bị châm nhẹ. Từ hai bàn tay, hiện tượng bức xạ năng lượng có thể trở nên mạnh rõ rệt khi đặt lòng bàn tay đối diện nhau trên khoảng cách 5-10 cm.
Trong quá trình thu Prana, người tập có thể mở mắt nhưng vẫn cần duy trì sự hô hấp sâu và đều. Cường độ thu Prana có thể được điều chỉnh bởi mức nhanh và sâu của hơi thở. Khi lưu lượng Prana vào cơ thể đủ lớn, có thể xuất hiện cảm giác ngứa cục bộ hoặc nhói đau nhẹ tại một số khu vực ngoài hoặc trong cơ thể. Nên cố gắng chịu đựng trong chốc lát.
4- Điều khiển Prana sinh học: Sau khi vào cơ thể, Prana được biến đổi thành Prana sinh học (còn nhiều tên khác như năng lượng sinh học, plasma sinh học, năng lượng con người, nhân điện, tâm năng hay sinh lực). Người tập có thể phát lệnh bằng ý nghĩ để vận hành Prana sinh học đi khắp cơ thể, đặc biệt tới những chỗ đau với mục đích chữa bệnh hoặc củng cố sức khoẻ. Cần chú ý dùng tư tưởng điều khiển Prana sinh học bức xạ từ hai bàn tay để tăng cường quá trình trao đổi năng lượng giữa cơ thể và môi trường xung quanh.
Tại bước này, người tập có thể cảm nhận được rất rõ về các tia năng lượng bức xạ từ bề mặt cơ thể, đặc biệt là từ các đầu ngón tay.
5- Kết thúc: Khi cần kết thúc sự chủ động thu nạp Prana, người tập nên thực hiện thở chậm dần, cử động tay chân, dùng tay tự xoa vuốt mặt, đầu tóc, hai tai, cổ và gáy... Sau cùng, nên thở sâu bằng mũi mấy lần để xả hơi qua mồm trước khi chấm dứt buổi tập.
Khoảng thời gian cho mỗi lần tập tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể, dao động trong khoảng 1-2 giờ hoặc lâu hơn. Trước khi tập không nên uống rượu, bia và tránh những cảm xúc mạnh. Việc tập luyện ở mức cao hơn đòi hỏi phải tìm hiểu nhiều kiến thức bổ trợ, đặc biệt về các cơ thể “hào quang” của con người và hệ thống luân xa tương ứng.
Mặc dù từ rất xa xưa, con người đã cảm nhận được lợi ích thực sự của Prana đối với các cơ thể sống, nhưng ngay cả trong thời đại chúng ta vẫn chưa có câu trả lời chính thức về sự tồn tại của Prana và ý nghĩa của nó đối với thế giới sinh vật nói chung. Có giả thuyết coi Prana là một loại chất liệu siêu mảnh với vai trò thiết yếu trong việc nuôi dưỡng và ổn định các cơ thể “hào quang” – phần cấu trúc không nhìn thấy bằng mắt thường mà dường như chi phối toàn bộ thân thể của mỗi người.
Thực tế chứng tỏ rằng, nếu thường xuyên có ý thức chủ động tập luyện thở đều trong trạng thái tĩnh tâm (cần phải luôn tỉnh táo, chứ không được vô thức như một số tài liệu hướng dẫn), hoặc tiếp sau đó tiến tới việc thu nạp Prana theo cách nêu trên thì người tập luyện sẽ đạt hiệu quả rõ rệt về tăng cường sức khoẻ và tự khỏi bệnh nhanh chóng đối với các loại thường gặp như mệt mỏi toàn thân, đau đầu, mất ngủ, cảm cúm.
$ Hồn Vua Quang Trung nói về tu đạo
(Gửi vào: 6/3/2011 9:16:15 PM)
(Kynguyentamlinh.com) - Chúng tôi vừa nhận được một bài thơ giáng bút nhân danh Hồn Vua Quang Trung. Đây là điều đặc biệt, vì trước nay Ngài chưa từng đọc bài nào cho bà Phạm Thị Xuyến ghi. Đáng chú ý là trong bài này có đưa lại lời của một vong sư, do tu sai nên sau khi chết đã bị tù hồn...
HỒN VUA QUANG TRUNG NÓI VỀ TU ĐẠO
(Ngày 2 tháng 1 năm 2011)
1. Lời Vua ban là bàn với Nước,
Lời Vua ước là được cho Đời.
Ước cho Đất nước muôn nơi,
Lo cho việc Đất, việc Trời nước Nam.
Lo việc tìm Mộ tới sang
Cho tròn cho vẹn, cho an Mộ phần.
Cho Đất nước được Hồng ân,
Cho Đời muôn thuả phúc phần mai sau.
Cho dòng Tộc Nước dài lâu,
Cho muôn vàn Thế hệ sau nối dòng.
Đời đời mãi nước Nam Hồng,
Có một Lịch sử Tiên Rồng cho ta.
Cho Dân trăm Họ Nước nhà,
Cho Đời phồn thịnh, thái hoà muôn năm.
2. Vua muốn ban lời trối trăng
Của một người đã vĩnh hằng từ lâu.
Hồn người sở nguyện ý cầu,
Hồn người mong ước từ lâu việc Thần.
Hồn người cầu nguyện ân cần,
Cầu Thần Đất nước độ phần Âm - Dương.
Hai ngả cách xa đoạn trường,
Nhưng hồn vẫn hướng về Dương Nước nhà.
Có một người sư tu ra,
Theo đạo Phật giáo Nước nhà từ xưa.
Người vong là Thích Đàm Vân,
Người vong khổ hạnh muốn thưa với Thần.
Muốn thưa với nước Nam trần,
Rằng người tu đạo không phần ích chi.
Sống đời khổ hạnh quy y,
Ở chùa quét lá, ngày thì tụng kinh.
Khi chết vào ngục Âm mình,
Hồn phải tù ngục, cực hình gian nan.
Hồn phải tội với Thiên Đàng,
Tội với Phật Thánh, Thần Quan Nước nhà.
Tội với Tiên tổ Ông bà,
Những người sư chết phải là tù vong.
Bởi vì làm việc bất công,
Làm việc bất nghĩa với Ông Cha mình.
Làm việc không đúng thực tình,
Không làm đúng Luật Thiên đình nước Nam.
Làm việc tu cho ngoại sang,
Không tu cho nước Việt Nam tý gì.
Hỏi tu chùa có ích chi?
Hàng ngày kinh tụng ích gì Nước, Dân?
Hỏi bao công sức của trần
Không đem lại lợi ích phần nước Nam?
Không biết Người có công Vàng,
Không biết Thánh nước Việt Nam thế nào.
Không biết Cha Mẹ Thiên cao,
Không biết Tổ Nước thế nào, không hay.
Không biết Thần Quan Nước này,
Không biết Liệt sĩ xưa nay giúp Đời.
Chỉ đi gõ mõ cầu người,
Không công - trịnh trọng thỉnh mời lên ban.
Không biết Thánh đã hạ màn
Mười năm không có trên ban phật người.
Chỉ có Liệt sĩ ngồi cười
Khi sư sãi với dân đời tụng kinh!
Thật là lỗi Đạo Thiên đình,
Lỗi người tu đạo trá hình xưa nay.
Sống tu sai Đạo Nước này,
Sai Đạo Tổ Nước, sai nay Đạo Trời.
Chết cực khổ cho vong đời,
Người tu sai Đạo chết thời khổ vong.
3. Hãy nghe dòng Tộc Tổ Tông,
Hãy tu theo Đạo Cha Ông Nước nhà.
Nước ta có Phật trên Toà,
Ba ngôi Chính giác, chính là Ba Ông.
Ba Ông Phật Tổ Trúc Lâm,
Phật Tổ thứ Nhất có công tu trì.
Tu được đắc Đạo quy y,
Ông được Trời tặng, Trời ghi công trần.
Ông được Nhà Trời ban phần
Phật Tổ thứ Nhất của phần nước Nam.
Được đứng Nhất, được song hàng
Thích Ca, Bồ Tát phải hàng song song.
Hơn bảy trăm năm, Phật Ông
Nhân Tông đứng Trưởng, có công nhất Toà.
Dân ta không biết, la đà
Theo sư, coi rẻ Phật nhà Ba Ông.
Người tu theo đạo cuồng ngông,
Không công - trịnh trọng bệ Rồng ngôi cao.
Phạm Luật Trời Đất ban vào,
Người trần mắt thịt ai nào biết chi.
Vì đi nghe kẻ ngu si,
Không ai nghe được Trời ghi công Thần.
Trần không có Luật Trời phân,
Không biết việc Thần ai thấp, ai cao.
Hãy nghe Trời đọc Luật vào
Vua Quang Trung được đọc trao Luật Trời.
Nước Việt Nam có một Người
Thành Tiên, đã được Lệnh Trời ban ra.
Là Phật Trời, là Tiên Sa
Là Phật trên Toà, cao nhất trên Thiên.
Là Hồ Chủ tịch thiêng liêng,
Là đức Ngọc Phật ở trên Đời này.
Ở nước Việt Nam xưa nay,
Từ nay ở khắp cả nay Hoàn cầu.
Ở khắp Trái đất một mầu,
Cho toàn Nhân loại sở cầu việc Thiên.
4. Còn Ba Vị được Phật riêng,
Cho riêng từng nước có riêng Phật nhà.
Thích Ca, Phật Bà, Nhân Tông
Ba Phật ngang chức, ngang công, ngang thờ.
Không ai hơn ai bây giờ,
Và cho mãi mãi ngôi thờ ngang nhau.
Nhưng không ai được đi đâu,
Chiếm ngự cung lầu, chùa lớn, nhỏ, to.
Phật nước nào, nước ấy lo
Phật không được phép tự do ra, vào.
Đi đâu có Lệnh Trời cao,
Đi họp bàn vào có giấy phép ghi.
Cũng như Dương trần một khi,
Đi đâu phải có nội quy xuất hành.
Có giấy xuất cảnh rõ rành,
Có Lệnh điều hành ai được đi đâu.
Âm có Âm, Dương có Dương
Phải có Luật Lệnh Thiên sâu, Hạ giới.
Đây là Sử Trời tiến tới,
Hai Nghìn lẻ Một (2001) đã có thông qua.
Đã có văn bản Trời ra,
Cho Phật các nước, cho là Thần Quan.
Phật Thần Toàn cầu quy hàng,
Theo Đạo Trời giáng, Trời ban điều này.
Chỉ có Trần chưa hiểu nay,
Còn các phật các nước này đã thông.
Không ai thắc mắc chi chung,
Họ đã về nước, họ không phàn nàn.
Chỉ có Trần không hiểu sang,
Cứ làm như cũ, rõ ràng là sai.
5. Nay Vua đọc lời ban bài,
Cho Dân, cho Nước, cho người đi tu.
Tu phải hiểu được công phu,
Tu phải hiểu được chữ tu cho mình.
Tu cho Non nước, gia đình
Tu để bất bình, tu vậy tu chi?
Tu phí công, tu làm gì?
Tu hại Dân Nước, tu đi sai đường.
Tu phản lại Luật Thiên vương,
Tu phạm Luật Đạo, chủ trương Thánh Thần.
Tu không ích Nước, lợi Dân
Tuyên truyền sách đạo không phần của ta.
Tu theo người ngoài la đà,
Không cầu dòng Tộc Quốc gia của mình.
Không ca ngợi Đảng quang vinh,
Không cầu Phật Thánh Thần linh Nước nhà.
Không theo Tiên Tổ Ông Bà,
Chết gửi chùa vội, bỏ nhà cúng cơm.
Thật là lỗi Đạo Thiên vương,
Sống theo phật họ, chết nương ăn mày.
Hồn đi Tây Trúc, phương Tây
Hồn bỏ Nước này, bỏ Tổ bỏ Tông.
Thật là lỗi Đạo Cha Ông,
Đạo Tổ Đền Hùng, Đạo nước Âm Thiên.
Đạo Trời cho một Đạo truyền,
Đạo tu cho Nước, Dân yên đời dời.
Tu làm Cách mạng sáng ngời,
Tu cho bầu trời nước Việt Nam ta.
Tu cho ích Nước, lợi nhà
Tu cho nhân quả Nước ta trưởng thành.
Thờ Tổ Trời Đất đích danh,
Thờ Tổ Đất nước ngọn ngành đầu đuôi.
Thờ Gia tiên - Tổ của người,
Nhà ai nhà ấy có người Tổ riêng.
Đó là dòng Tộc thiêng liêng,
Chùa đền thờ Phật Thánh riêng Nước nhà.
Không thờ phí công la đà,
Luật thờ thay đổi cho là Nước, Dân.
Đừng thờ tốn của công trần,
Thờ sai Luật Đạo, phí phần thờ sai.
Các chùa thờ trong, thờ ngoài
Hoàn toàn sai Luật, thờ sai Luật Trời.
Bài này ghi rõ Luật Trời,
Dẫn chứng vong đời sai Luật, khổ vong.
Sống sai, chết phải lưng còng
Tù gông mạt kiếp, khổ vong tu chùa./.
#$
Các sự cố thiên tạo từ 2012 đến 2030
(Gửi vào: 11/30/2009 3:49:20 PM)
(Kynguyentamlinh.com) – Các Đấng Sáng Tạo cho biết những sự cố Thiên tạo hay những chu kỳ cốt tử sẽ diễn ra vào giai đoạn 2012-2030. Một trong những bí ẩn đã được hé lộ có vẻ khó tin: con người trên Trái đất nói riêng và Vũ trụ chúng ta nói chung chính là các sản phẩm thực nghiệm của Đấng Sáng Tạo. Sự thể thế nào sẽ biết rõ sau mấy năm nữa…
Các sự cố thiên tạo từ 2012 đến 2030
Mấy năm trước, trong thời gian tôi thiền định bắt đầu có sự viếng thăm của những sinh thể ánh sáng thuần khiết rất lớn với màu trắng-lam nhạt. Họ không có hình người, họ giống những ngôi sao hay quả cầu ánh sáng. Họ chính là các Đấng Sáng Tạo. Họ cho biết rằng, họ tới Trái đất chỉ vào thời kỳ chuyển tiếp trước những chu kỳ vũ trụ cốt tử. Trong những thông điệp của mình, họ đưa ra những chi tiết cụ thể liên quan đến các chu kỳ - bao giờ các chu kỳ xảy ra, xảy ra như thế nào và vì sao lại xảy ra. Các Đấng Sáng Tạo tuyên bố: mục đích của thông tin này là trợ giúp nhân loại chuẩn bị cho thời gian đang sắp tới gần. Xuất phát từ những điều mà chúng ta nhìn thấy xung quanh mình và những thay đổi diễn ra bên trong ta, rõ ràng là nhân loại đang ở trong thời kỳ mà các vị đó tiên đoán.
Chu kỳ đầu tiên từ những chu kỳ cốt tử, được bàn luận trong các thông điệp này, đã được ghi nhận trong lịch của người Maya và những nơi khác. Đây chính là sự thẳng hàng tiến động vào ngày 21 tháng 12 năm 2012 - sự cố hai cực Trái đất và tâm Thiên hà cùng nằm trên một đường thẳng. Nhưng như sau này sẽ được bàn luận chi tiết, tồn tại chu kỳ lớn hơn, có ảnh hưởng không những đến hành tinh chúng ta mà còn cả Hệ mặt trời nữa.
Độc giả hãy lưu ý: các Đấng Sáng Tạo lấy làm tiếc về điều là các ngôn ngữ Trái đất chúng ta đặc biệt không thích hợp khi mô tả những quan điểm phân đoạn hồn, các tổ hợp nhóm hồn, các tuyến thời gian phải chọn v.v... có mặt trong các thông điệp. Trong khi đó, một số ý tưởng có thể được tìm thấy trong tạp chí về vật lý lượng tử và trong những học thuyết của các trường phái huyền bí mà một người bình thường khó nắm bắt phần lớn các quan điểm từ chúng. Vì vậy, có những ý tưởng ở đây được lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần được trỏ đến một khía cạnh khác.
Chúng ta là những con người thực chất bị mù trước phần lớn Sự Sáng Tạo hùng vĩ mà ta đang sống trong đó. Chúng ta chỉ thể hiện một phần nhỏ tiềm năng của mình. Các thông điệp ở đây theo đuổi hai mục đích: (1) giáo hoá trí tuệ trong lĩnh vực những thay đổi diễn ra trên hành tinh chúng ta và trong nhân loại; (2) trợ giúp hiện thực hoá phần lớn tiềm năng sâu rộng của chúng ta.
Các Đấng Sáng Tạo là nhóm những sinh thể từ bình diện được gọi là chiều thứ 12. Chiều thứ 12 - một môi trường sáng tạo khổng lồ, tồn tại cao hơn rất nhiều những điều mà con người bình thường có thể nắm bắt được. Các Đấng Sáng Tạo thuộc kênh này là những quả cầu ánh sáng đồ sộ với màu trắng-lam nhạt, một số vị dần dần hạ xuống bầu khí quyển Trái đất để chuyển thông tin và giáo hoá nhân loại. Chính các vị đó đã tự mô tả tỷ mỷ về mình.
Để các Đấng Sáng Tạo nói chung có thể giao tiếp với người Trái đất, họ buộc phải hạ thấp một phần rung động của mình từ cái được gọi là mức mật độ thứ 12 (nói gọn là mật độ hay mức 12) xuống mật độ 7 trước khi cố gắng chất tải thông tin vào trí tuệ cao cấp của tôi.
Để chất tải các ý tưởng vào trí tuệ siêu ý thức của sinh thể người, các Đấng Sáng Tạo sử dụng cách truyền tin “thần giao cách cảm”. Các vị kể lại: với mục đích giao tiếp bằng cách này, họ hạ thấp rung động phần nhỏ của mình. Đầu tiên thông tin chảy vào trí tuệ cao hơn, sau đó được giải mã và được dịch thành ngôn ngữ Trái đất để các trí tuệ ý thức của con người hiểu được.
Các Đấng Sáng Tạo thường nhắc độc giả rằng, đó không phải là một quá trình dễ dàng. Rất khó lý giải những ý tưởng và những quan điểm được thể hiện thông qua vốn từ giới hạn của các ngôn ngữ Trái đất. Nhưng phần lớn nội dung thông tin có thể được lĩnh hội ở mức năng lượng ngay cả khi trí tuệ khó hiểu. Qua đọc các thông điệp này, hãy chú ý đến mức năng lượng của thân thể mình và hãy nhận xét, những ấn tượng gì tiếp nhận được “ngoài các dòng”. Dưới đây là phần tự giới thiệu của các Đấng Sáng Tạo.
Xin chào! Chúng tôi là các Đấng Sáng Tạo. Chúng ta hãy bắt đầu làm quen. Chúng tôi là những sinh thể mà người Trái đất gọi là Thần Tạo Hoá. Chỉ một phần nhỏ năng lượng của chúng tôi đi tới qua kênh này. Chúng tôi chiếu một cách khó khăn vào thế giới Trái đất chỉ một phần rất bé của bản thân. Vì vậy, chúng tôi ưa thích thực hiện điều đó bằng phương pháp truyền dẫn “thần giao cách cảm”. Chính nhờ phương pháp này mà phần lớn năng lượng của chúng tôi được “chất tải” vào những trí tuệ cao hơn thuộc các kênh khác nhau.
Người Trái đất khó hiểu sự cảm nhận thời gian của chúng tôi. Tuy vậy, chúng tôi đang xuất hiện trên tần số rất gần với thời gian thực, vì vậy ở chúng tôi có những thông điệp quan trọng cho loài người. Trong một dạng thức như vậy, chúng tôi chỉ tới đây vào cuối hoặc đầu mỗi chu kỳ vĩ đại trên Trái đất. Người Trái đất có thể biết điều sau đây: mỗi lần chúng tôi thăm các thực nghiệm của mình là để xem công việc đang tiến triển như thế nào. Vũ trụ này chính là một thực nghiệm!
Bây giờ, người Trái đất có thể phản ứng lại điều đó và tuyên bố: “Tôi là một sinh thể độc lập, được tạo ra theo hình thể tương tự của Chúa Trời. Tôi không phải là một thực nghiệm”.
Chúng tôi hiểu phản ứng của người Trái đất. Nhưng tuy thế, Vũ trụ cục bộ cụ thể này mà chúng tôi đang theo dõi cùng với những nhóm Thần Tạo Hoá khác chỉ là một thực nghiệm lớn hơn mà thôi. Có thể nói thế này: Thượng Đế Tính là người lãnh đạo thực nghiệm. Tất cả các thứ còn lại giống như trường đại học - tạo ra các hội đồng những người quan sát để theo dõi công việc khoa học và nghiên cứu, được tiến hành bởi các nhà hoá học trong phòng thí nghiệm. Trường đại học cấp kinh phí cho nhà khoa học. Nhưng trường đại học ít khi mặt đối mặt với công việc của mình; nói một cách ẩn dụ và có thể cũng đúng thực chất: có ai đó luôn đứng cạnh nhà khoa học.
Vì vậy, trong ý nghĩa khi Thượng Đế Tính phó thác cho chúng tôi sáng tạo ra hình dạng loài người thì chúng tôi đã rất cố gắng, mặc dù đến một mức độ nào đó đã tác động bằng phương pháp “thử và sai”. Đây là một dự án khá hãnh diện. Chúng tôi hiểu rõ Vũ trụ đang được mở rộng và lan truyền như thế nào, nó tái hiện bản thân nhờ hình thức và khuôn mẫu ra sao. Chúng tôi hiểu một cách cặn kẽ nhất các định luật vạn năng và các nguyên lý vạn năng. Tuy thế chúng tôi biết rằng, chúng tôi sẽ đụng chạm với vấn đề sáng tạo cấu trúc nguyên tử để trong một cơ thể nó tổ hợp được kết cấu vũ trụ của ý chí tự do và kết cấu vũ trụ của sự tiền định. Chúng tôi đã hướng tới sáng tạo hình thể sống, nói chính xác hơn là cấu trúc sáng tạo với khả năng có các cơ chế cảm giác (thân thể), để sao cho có sự tiếp cận ảo tới tất cả 12 mức của Sự Sáng Tạo.
Vai trò hiện nay của chúng tôi là tới các hành tinh vào cuối những chu kỳ vũ trụ hoặc cuối những sự cố tuần hoàn cốt tử, mục đích là “thu dọn mùa màng” hoặc “nâng cấp tâm linh”. Lý trí của chúng tôi có khả năng giúp đỡ các hồn tiến hoá với mong muốn trải qua quá trình nâng cấp.
Đối với chúng tôi, đây là cuộc viễn du khá khó khăn bởi vì hoàn toàn không tương hợp với những dao động của người Trái đất. Điều này có nghĩa là: rất ít hồn của người Trái đất đã đạt đến ý thức của mật độ 5, trong khi chúng tôi thuộc mật độ 12.
Các sự cố xảy ra trong vòng 30 năm tới sẽ gây nên sự ảnh hưởng to lớn lên tất cả những dạng sống đang cư trú trên Trái đất. Trong các thông điệp của mình, chúng tôi sẽ đề cập đến những chi tiết của nhiều thay đổi và diễn giải điều đó từ một số viễn cảnh, để người Trái đất có thể hiểu tốt hơn những gì xảy ra. Chúng tôi bắt đầu từ viễn cảnh Đấng Sáng Tạo.
Sự nén đặc hồn diễn ra ở dạng phân chia hay phân đoạn, tuỳ thuộc vào điều là hồn được tạo thành như thế nào. Sự phân chia hồn - đây là quá trình mà trong đó từ một siêu hồn xuất hiện các hồn cá nhân. Quá trình này diễn ra trong những mật độ khác nhau, nhưng thường ở mức 8, để từ đó chuyển sang mức 7. Có nghĩa là, siêu hồn gửi các khía cạnh cá nhân của mình - các hồn thuộc mật độ 7 - để thăm dò các bình diện hay các môi trường sống thuộc chiều thứ 7.
Thông thường, siêu hồn thuộc mật độ 8 sinh ra 12 mảnh con cá nhân, chúng sẽ trở thành các hồn thuộc mật độ 7. Tuy vậy, tại mật độ 8 và ở các mật độ khác của vũ trụ vẫn có những ngoại lệ. Một số siêu hồn chỉ được phân chia thành 6, 4, 3 hoặc 2 mảnh con, nhưng cấu hình phổ biến nhất là 12 mảnh con từ một siêu hồn. Mỗi một mảnh con khi được sinh ra không ngừng liên lạc với siêu hồn và qua đó với cả Chúa Trời. Mỗi mảnh con của siêu hồn - một sinh thể tự chủ hoàn chỉnh và nguyên vẹn, cũng giống như một tế bào sau khi phân chia sẽ trở thành những tế bào hoàn chỉnh và nguyên vẹn.
Thường thì các hồn xuất hiện từ Thượng Đế Tính bằng những sóng khác nhau. Vào lúc khởi đầu Sự Sáng Tạo, một số hồn đi ngay vào mật độ 12, nhưng phần lớn các hồn thoạt đầu đã thăm dò tính cá nhân tại mật độ 7. Thực chất, quá trình phân chia hay phân nhánh hồn đã diễn ra hầu như đồng thời từ mức 12 đến mức 7. Vì vậy, chúng tôi có thể nói rằng, người Trái đất đã xuất hiện trực tiếp từ Thượng Đế Tính như những sinh thể thuộc mật độ 7 (các hồn cá nhân). Đến bao giờ người Trái đất tăng rung động đến mức 7 và bắt đầu đi theo đường xoắn ốc tiến hoá (từ mật độ 7 đến mật độ 12), thì họ sẽ thăm dò mức tâm linh của siêu hồn, bậc thầy siêu hồn và Chúa Trời giống như đã từng thăm dò các vị đó khi lần đầu tiên ra khỏi Thượng Đế Tính.
Trước khi chúng tôi bắt đầu bàn luận đến những điều Chúa Trời cho phép, quan trọng là nhắc lại sự tương tự sau đây. Trên Trái đất tồn tại quan điểm sai lầm về vấn đề các hồn đạt đến Sự Thống Nhất với Chúa Trời ra sao. Cần phải khẳng định rằng, tất cả chúng ta đều là Một với Chúa Trời, không phụ thuộc vào mức rung động của mình. Không thể không là Một với Chúa Trời, bởi vì Chúa Trời là tất cả, còn chúng ta - một phần của cái tất cả. Ý tưởng sau đây là không đúng: các hồn ngày càng được nâng cao theo mức rung động để cuối cùng hoà nhập với Chúa Trời. Sự tương tự tốt nhất để lý giải quá trình này chính là quá trình sinh ra con người. Người Trái đất xuất hiện từ trong bụng mẹ, rồi chậm chạp lớn lên và phát triển thành người lớn như bố mẹ mình. Rồi chính họ lại trở thành bố mẹ qua việc phổ biến nòi giống. Nhưng khi trở thành người lớn, thì đương nhiên là họ không ở trong bụng mẹ nữa.
Tồn tại khía cạnh của Chúa Trời mà tất cả vẫn còn được phát triển. Điều tương tự siêu hình và bóng bẩy cực kỳ đơn giản như sau. Trong quá trình thăm dò Sự Sáng Tạo của mình, Chúa Trời học tập nhờ phương pháp thử và sai, hành động hoặc phi hành động trong mối liên hệ với hồn. Để sửa “sai” trong dự án đầu tiên, các “hiệu chỉnh” được thực hiện theo chu kỳ ở dạng những điều Chúa Trời cho phép. Có thể nói rằng, những điều Chúa Trời cho phép là sự phản ứng của Chúa Trời lên những vấn đề đặc trưng cho các vũ trụ được ban tặng ý chí tự do.
Nhiều hồn khó chấp nhận luận điểm sau đây: trong sự hoàn thiện Đấng Sáng Tạo có những điều chưa hoàn thiện. Chính nhờ cách này mà hầu hết các hồn thăm dò Sự Sáng Tạo được thể hiện. Quan trọng là ra khỏi sự xét đoán và đơn thuần chấp nhận rằng, Sự Sáng Tạo có những điều chưa hoàn thiện. Hãy cho phép chúng tôi lợi dụng một ví dụ về chương trình dùng cho các máy tính của người Trái đất. Các vị biết rằng, để sửa chữa những vấn đề thuộc các phiên bản trước của chương trình thì cần phải đổi mới theo chu kỳ. Không thoá mạ các phiên bản đã có, các vị đơn thuần chấp nhận thực tế đổi mới hệ thống máy tính của mình.
Một sự tương tự thích hợp khác - những sửa đổi các hiến pháp để quản lý nhiều quốc gia riêng lẻ trên Trái đất. Tại một số dân tộc phát triển đã có những sửa đổi đối với các tài liệu ban đầu, chúng xuất hiện khi mà trong các luật lệ và các nguyên tắc đầu tiên phát sinh những vấn đề.
Trong sự sáng suốt và lòng trắc ẩn vô hạn của mình, Chúa Trời đã ban ra nhiều chỉ lệnh và tuyên bố để thay đổi những định luật và nguyên lý phổ quát hoặc chứa đựng những ngoại lệ. Dưới đây là những điều cơ bản mà Chúa Trời cho phép, chúng có vai trò quan trọng cho sự phát triển của nhân loại trên Trái đất. Danh sách những điều Chúa Trời cho phép được sắp xếp theo thứ tự thời gian.
(1) Trả lời cho sự phân cách (rơi khỏi thiện cảm);
(2) Những biến chuyển thiên hà, mỗi lần diễn ra sau khoảng 108 triệu năm trong Hệ mặt trời này;
(3) Thẳng hàng tiến động của trục Trái đất, mỗi lần diễn ra sau khoảng 25 920 năm;
(4) Bánh xe tái sinh;
(5) Đường xoắn ốc nâng cấp;
(6) Nâng cấp đại chúng;
(7) Sự can thiệp từ các Đấng Cứu Trợ của Chúa Trời vào những nền văn minh cốt yếu và những chu kỳ vũ trụ;
(8) Sự xuất hiện những đứa trẻ hồi tỉnh (các sinh thể thuộc mật độ cao hơn hiện thân trong dạng người).
Nhà tiên tri Juselino
(Gửi vào: 7/29/2008 7:50:53 PM)
(Kynguyentamlinh.com) - Juselino là một nhà tiên tri đương đại đã và đang đưa ra những lời tiên đoán kinh hoàng về vận mệnh nhân loại và số phận của cả Trái Đất chúng ta sắp tới. Đã có hàng trăm website và blog đăng tải thông tin của ông. Nếu những người có trách nhiệm của các quốc gia vẫn cố tình làm ngơ thì rất có thể dân chúng sẽ phải gánh chịu những thảm họa vô cùng khốc liệt...
TIÊN TRI VỀ VẬNMỆNH NHÂN LOẠI
Nhà tiên tri Juselino (hay Jucelino) sinh năm 1960 tại thành phố Maringa, thuộc tiểu bang Parana của Brazil. Ông có gia đình với 4 con gái, hiện là giáo sư môn Anh văn. Ông đang sinh sống tại vùng ngoại ô Sao Paulo.
Ông bắt đầu có khả năng tiên tri vào lúc 9 tuổi. Cho đến nay, ông đã đưa ra trên 80 ngàn dự đoán từ bé đến lớn.
Cần lưu ý rằng, không phải bất kỳ điều gì do ông nêu ra đều diễn biến hoàn toàn chính xác như vậy. Thời gian và mức độ thể hiện của vụ việc có thể sai khác ít nhiều. Nguyên nhân có thể là do những điều tiên tri được thu nhận từ các giấc mơ và mọi biến cố bị tác động bởi các yếu tố ngoại cảnh.
Ông từng dự đoán nhiều sự kiện và các thảm họa lớn đã xảy ra trên thế giới bao gồm: sự kiện 11-9-2001 tại Mỹ; chiến tranh Iraq 2003 và sự bại trận của Tổng thống Saddam Hussein cùng kết cục bị bắt giữ và xử tử ông ta; trận động đất gây ra sóng thần tại quần đảo Indonesia 2004; cái chết thảm thương của công nương Diana; sự tạ thế của đức Giáo hoàng John Paul Đệ nhị năm 2005 ...
Những dự đoán trong tương lai gần
Năm 2008: Sẽ tìm ra thuốc hiệu quả để chữa bệnh HIV và sốt rét.
Vào ngày 18 tháng 7, tại Philippin sẽ xảy ra động đất mạnh 8,1 độ Richter, làm chết mấy ngàn người.
Vào tháng 9, sẽ xảy ra cuộc tấn công khủng bố tại toà nhà cao nhất Empire State Building ở New York.
Vào ngày 13 tháng 9, tại Trung Quốc sẽ có một trận động đất mạnh trên 9,1 độ Richter. Địa điểm xảy ra động đất là Nam Ninh (hay Nam Kinh?) và đảo du lịch Hải Nam là trung tâm địa chấn. Cơn sóng thần cao đến 30 mét có thể làm chết hàng triệu người. Rất có thể, Nhật Bản cũng bị thiệt hại.
Vào ngày 17 tháng 12, tại Mỹ sẽ có khủng bố xảy ra.
Tuy sau Thế vận hội Olympic mới có động đất này, nhưng trước đó sẽ có những chấn động báo hiệu bằng các cơn động đất nhỏ. Vì chính phủ Trung Quốc đang dồn mọi sức lực để lo việc tổ chức Thế vận hội, cho nên sẽ phớt lờ những cơn tiền chấn này, không chuẩn bị trước các sách lược để đối phó. Chính phủ Trung Quốc cũng có ý muốn ém nhẹm sự kiện này. Những hành động đó của chính phủ Trung Quốc (nếu đúng như vậy), thì sẽ mang đến tai họa thảm khốc và trùng hợp với câu trích dẫn của ông John Titor rằng “Thế vận hội Olympic 2004 tại Hy Lạp sẽ là cái cuối cùng của thế giới".
Năm 2009: Trong tháng giêng và tháng 11 sẽ có hai trận động đất lớn, làm chết hàng ngàn người.
Động đất 8,9 độ Richter tại Osaka và Kobe của Nhật Bản vào ngày 25 tháng Giêng.
Vào ngày 24 tháng 7, một trận động đất mạnh 8,9 độ Richter sẽ xảy ra tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ).
Vào ngày 16 tháng 12, động đất 7,8 độ Richter tại Sumatra (Indonesia).
Năm 2010: Tại nhiều quốc gia ở châu Phi, nhiệt độ sẽ lên cao đến 58 độ C và đồng thời có sự khan hiếm nước trầm trọng. Vào ngày 15 tháng 6, thị trường chứng khoán Dow Jones của New York sẽ bị sụp đổ và kinh tế toàn cầu rơi vào tình trạng nguy hiểm.
Năm 2011: Phương pháp trị liệu ung thư sẽ thành công, nhưng đồng thời có một loại bệnh độc lạ xuất hiện. Người nào bị nhiễm căn bệnh này thì sẽ chết ngay sau đó 4 giờ.
Bệnh cúm gia cầm H5N1 sẽ lan rộng giữa mọi người và vào năm 2013 sẽ có khoảng 730.000 người chết do bệnh này.
Năm 2012: Ngày 16 tháng 12 sẽ bắt đầu “kỷ nguyên mây đen”, người ta gọi nó là hỗn loạn thời tiết.
Do nhiều loại bệnh tật, nhân loại bắt đầu chết dần chết mòn.
Năm 2013: Ngoại trừ bệnh ung thư não, phương cách trị liệu các bệnh ung thư khác đều thành công. Tại vùng quần đảo Canary của Tây Ban Nha, từ ngày 1 cho đến ngày 25 tháng 11, do sự bộc phát của núi lửa nên sẽ phát sinh địa chấn. Tiếp sau đó sẽ có một cơn sóng thần với độ cao 150 mét. Khi dồn vào đến quần đảo Canary, nó còn cao đến 80 mét. Tại Mỹ và Brazil cũng phải chịu ảnh hưởng của cơn sóng thần này, nước biển sẽ tràn sâu vào đất liền khoảng từ 15 đến 20 dặm Anh (1 dặm Anh = 1609 mét). Ngoài biển, trước cơn sóng thần đó, nước biển sẽ rút xuống 6 mét và các loài chim bay đầy bầu trời.
Năm 2014: Có một tiểu hành tinh đến gần và sẽ có va chạm với Trái Đất. Vụ va chạm này có thể mang đến sự cố diệt vong nhân loại.
Năm 2015: Trong tháng 10, nhiệt độ trung bình của Trái Đất sẽ lên đến 59 độ C, nhiều người sẽ bị chết đồng loạt do quá nóng, khắp thế giới sẽ phát sinh sự hỗn loạn và hoảng sợ.
Năm 2016: Vào trung tuần tháng 4, bão nhiệt đới dữ dội sẽ phát sinh tại Trung Quốc; một số thành phố lớn sẽ bị phá hoại và chết nhiều người.
Năm 2026: Vào tháng 7, tại San Francisco sẽ xảy ra một trận động đất kinh thiên động địa (The Big One), vô tiền khoáng hậu. Đất tại lằn nứt Saint Antonio bị phá và làm cho tiểu bang California bị sụp đổ. Rất nhiều núi lửa sẽ phát sinh và các cơn sóng thần cao trên 150 mét.
Từ những dự đoán của Juselino, nhiệt độ của Trái Đất đến năm 2012 tại châu Phi sẽ đạt đến 58 độ C và nạn thiếu nước trầm trọng sẽ xảy ra. Sự gia tăng nhiệt độ tiếp tục kéo dài, đến năm 2015 sẽ đạt tới 59 độ C; nhiều người bị nóng chết và nhân loại trên toàn cầu bị rơi vào khủng hoảng. Bất luận thế nào, sự gia tăng nhiệt độ của Trái Đất diễn ra nhanh chóng hơn nhiều so với suy đoán của các nhà khoa học trên thế giới.
Juselino còn lưu ý rằng, nếu mọi người vẫn tiếp tục sống ở trạng thái như hiện nay, thì trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2012 họ sẽ rơi vào tâm trạng sợ hãi và hoảng loạn. Dấu hiệu tai hoạ lớn sẽ là những đám “mây đen” ngày càng lan rộng trong không gian. Nếu ở mọi người không diễn ra “biến chuyển trong ý thức” và họ tiếp tục ở trong trạng thái dửng dưng, thì những ngày đen tối và khổ đau sẽ chờ đón họ, và thời kỳ tận cùng sẽ tới rất nhanh.
Sự nghiệp tiên tri của Juselino
Juselino là một người rất thẳng thắn, công minh. Tất cả những lờì tiên đoán về những đại nạn phát sinh mà ông đưa ra đều được ghi chép ngày, tháng, năm đầy đủ và rõ ràng. Mục đích là để cho bất cứ người nào mong muốn cũng đều có thể xác minh được tính chân thực của các dự đoán. Juselino đã đem đăng ký những lời tiên đoán của mình tại Bưu điện Brazil để làm phương tiện xác minh khi cần.
Những dự đoán của Juselino liên tục phát sinh. Nếu trong giấc mơ của mình thấy được những chuyện mà đối tượng là một cá nhân bình thường, thì ông chỉ nói riêng với cá nhân đó. Nhưng nếu đối tượng là một nguyên thủ quốc gia hay là nhân vật có địa vị trong xã hội có sức ảnh hưởng rất lớn đến xã hội, thì ngoài cá nhân người đó ra, ông cũng thông báo cho các sơ quan sở tại, như các cơ quan thông tin nhà nước và quần chúng.
Juselino và các nhà tiên tri khác có chỗ không giống nhau: những gì Juselino thấy được trong giấc mơ thì hoàn toàn được bộc lộ và trực tiếp truyền đạt đến đương sự. Ngoài ra như đã nói ở trên, những sự kiện tiên đoán đều được lưu giữ và có những chỉ dẫn rõ ràng cho người nào muốn đến sao lục tìm hiểu các lời tiên đoán đó. Juselino cũng gửi bằng điện tín lời tiên đoán đến cho các đương sự.
Thường thường, Juselino phải mất 3-4 giờ mỗi ngày để giải quyết việc sắp xếp các hồ sơ tiên tri thu nhận được. Có khi Juselino cũng phải chi trả nhiều tiền cho các dịch vụ đăng ký, đăng bộ, gửi thư, đánh fax mà tất cả tiền bạc đều chỉ từ bản thân cá nhân ông, từ sự tiết kiệm trong cuộc sống thanh bần dạy học của ông.
Có người hỏi Juselino ở độ tuổi nào thì ông bắt đầu có sự tiên tri từ giấc ngủ của mình, Juselino cho biết việc đó đã khởi sự từ năm ông lên 9 tuổi (năm 1969). Trong mỗi giấc ngủ, ông thường có thể thấy 3 sự kiện và lúc nhiều nhất lên tới 9 sự kiện. Juselino nói rằng, trong những giấc mơ ông hoàn toàn ở trạng thái vô thức. Ông không có khả năng tự chủ với các giấc mơ như vậy.
Vào lúc ông 19 tuổi, Juselino đã có dịp gặp nhà tiên tri nổi tiếng. Francisco Shabiz. Người này đã 2 lần được đề nghị trao giải Nobel. Ông là người có đặc dị công năng (phép thần thông), đồng thời cũng là một nhà từ thiện. Từ sau sự gặp gỡ đó cho đến ngày nay, tổng số các sự kiện mà Juselino dự đoán đã lên đến hơn 80 ngàn.
Hồi tưởng lại một sự kiện mà Juselino đã dự đoán và đã trở thành thực tế là vụ ám sát công nương Dianna. Vào ngày 4-3-1997, từ sở Bưu điện Bazil, một thư cảnh báo đã gửi cho Dianna. Trong thư, Juselino viết rằng: “Tôi đã nhận được thông tin từ Thượng Đế cho biết có người ác ý đang sắp đặt mưu sát Bà bằng một vụ tai nạn xe hơi. Bảy vị Thiên sứ đã nói với tôi rằng, trong vụ xe hơi này thì sinh mạng của Bà sẽ không còn nữa. Các chuyên gia sẽ cho đó là một tai nạn bình thường, không phải là vụ ám sát, nhưng mà họ hoàn toàn sai lệch. Kẻ hung thủ giết người chính là người thân cận của Bà. Việc này sẽ xảy ra trước năm 2000”.
Juselino cũng đem sự cảnh báo này đến cho những tờ báo lớn nhất của nước Anh như Times, Daily Telegrah và Gardian. Nhưng thông tin đó đã bị bỏ qua, không được đăng tải lên các trang báo. Sau đó 5 tháng, vào tháng 8-1997, khi vụ tai nạn xe hơi đã xảy ra như lời tiên đoán của Juselino thì báo chí Anh mới làm rùm beng việc này. Và đúng như Juselino đã cho biết, chính quyền Anh xem vụ việc xảy ra chỉ là một tai nạn xe hơi không đáng quan tâm. Sự chính xác của lời tiên đoán không chỉ làm cho thế giới chấn động, mà còn gây chú ý đặc biệt theo hướng một vụ mưu sát từ phía Hoàng gia Anh.
Mặc dù Juselino đã dự đoán vụ việc nói trên xảy ra trước năm 2000, nhưng ông cũng đã gửi thư cho Tổng thống Brazil Cardodo 2 năm trước đó (thư có đóng dấu đăng ký) nói rõ là trong khoảng hai năm 1997-1998, vương phi Dianna sẽ bị tử nạn.
Vụ việc nổi tiếng khác đã được Juselino dự đoán chính xác có liên quan đến Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York. Ngày 26 tháng 10 năm 1989, Juselino đã gửi thư cảnh báo đến Tổng thống Hoa Kỳ và Lãnh sự quán Anh tại Mỹ. Lá thư này có đăng ký tại Panama trong văn phòng thị thực của ông Klicheeba.
Trong thư cảnh báo Juselino cho biết rằng: vào năm 1993 Trung tâm Thương mại Thế giới sẽ bị tấn công lần thứ nhất, nhưng không xác định ngày tháng cụ thể. Tuy nhiên, ông đã cho biết vụ tấn công lần thứ 2 sẽ xảy ra vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Đúng như lời tiên đoán của Juselino, sau đó ba năm, vào ngày 26 tháng 2 năm 1993, một vụ nổ ở bãi đậu xe đã làm cho khá nhiều người bị thiệt mạng. Và lần thứ hai - 12 năm sau - sự kiện ngày 11-9-2001 tại Mỹ đã làm kinh động thế giới.
Điều làm cho mọi người kinh ngạc hơn là các tiên đoán của Juselino về những sự cố diễn ra sau đó - bùng nổ chiến tranh với Afganistan và Iraq; Iraq bị thua trận và tổng thống Saddam Hussein chạy trốn đến miền Trung Iraq là thành phố Dawool để lẩn trốn trong hầm ngầm.
Thư cảnh báo về những sự cố nói trên đã gửi cho Tổng thống Mỹ Bush (cha) ngày 28 tháng 10 năm 1989. Thư cảnh báo cũng đã gửi cho Bill Clinton. Trong thư gửi cho Bill Clinton, Juselino đã trình bày nỗi quan ngại đến sự khủng bố tại Manhantan. Ông viết: “Hai toà nhà sẽ bị một quả cầu bao vây. Có thể có người sẽ coi điều tiên đoán này là trò đùa, không trở thành hiện thực. Vì thế tôi mới gửi thư đến các tờ báo Mỹ hy vọng để được đăng tải”.
Như trên đã chỉ rõ, với tất cả những sự cố phát sinh trong xã hội biết được từ tiên tri, Juselino đều công khai thông báo. Ông không chỉ thông báo mà còn đem nội dung cụ thể đến cho các nhà báo.
Nhưng cho đến nay, không có một đài truyền thông nào tiếp nhận một cách công khai và công bố các sự kiện như vậy cho thế giới biết. Nhà báo Helleroot đã có gửi thư trả lời Juselino, trong thư có đoạn viết: “Cơ quan thông tin của chúng tôi có nhận được thư của ông vào ngày 26 tháng 10 năm 1989. Trong thư ông có tiên đoán là Trung tâm Thương mại ở Manhantan sẽ bị khủng bố vào ngày 11 tháng 9 năm 2001. Chúng tôi đánh giá cao sự tiên đoán này. Tiếp đó, ông cũng có dự đoán Mỹ sẽ có chiến tranh với Iraq và Saddam Hussein sẽ bỏ chạy tới miền Trung Iraq là Dawool. Những tình tiết đã xảy ra rất chính xác, nhưng chúng tôi không dám tiết lộ vì sợ gây ra sự hoảng loạn trong dân chúng”.
Sự phán xét tội lỗi đối với cựu tổng thống Saddam Hussein và cuộc nội chiến Iraq tất cả đều đúng như tiên đoán do Juselino đưa ra. Trong bức thư thứ 3 mà ông đã gửi đến đài phát thanh Pass FM ngày 29 tháng 5 năm 2006 có viết: “Quốc hội Iraq phán xét Saddam Hussein phạm tội, có thể bị tử hình vào ngày 30 tháng 12 năm 2006. Cả nước Iraq vì việc này mà xảy ra xung đột và cướp đi nhiều sinh mạng”.
Trong các giấc mơ, Juselino cũng nhìn thấy những vụ thiên tai kinh hoàng trên thế giới. Về cơn sóng thần tại đảo Sumatra ở Indonesia, Juselino đã có thư cảnh báo gửi đến Đại sứ quán Ấn Độ tại Brazil vào ngày 30 tháng 4 năm 1997, trước khi nó xảy ra gần 8 năm. Thư cảnh báo này có nội dung như sau: Vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, tại đảo Sumatra, tỉnh Ache, Indonesia sẽ phát sinh động đất với cường độ 8.9 độ Richter. Indonesia và Ấn Độ sẽ bị tấn công bởi cơn sóng thần cao 10 mét.
Nguyên văn chi tiết của nội dung bức thư cảnh báo là: “Trong giấc mơ tôi đã thấy vào ngày 26 tháng 12 năm 2004, sáng sớm lúc 7 giờ, ở khu vực Nam châu Á sẽ bị một cơn địa chấn cường độ 8,9 độ tấn công, đồng thời sẽ có sóng thần cao 10 mét. Phạm vi bị ảnh hưởng bắt đầu từ tỉnh Ache của Indonesia, kéo dài đến các nước Ấn Độ, Malaysia, Srilanca, Thái Lan v.v... Nhất định sẽ có hàng vạn người bị thiệt mạng”.
Và kết quả đã đúng như lời tiên đoán, địa chấn đã phát sinh vào ngày 26 tháng 12 năm 2004 vào lúc 7 giờ 58 phút. Cơn sóng thần cao nhất đến 30 mét. Số người tử vong lên đến 200 ngàn; trong đó có nhiều người bị sóng thần cuốn mất tích. Đại sứ quán của các nước Indonesia, Phillipines, Thái Lan và tổng thống của các quốc gia này cùng một lúc gửi thư cho Juselino để có lời cám ơn (các văn kiện này được thị thực và đóng dấu). Vị Tổng thống Indonesia rất cảm kích: “Đối với địa chấn và sóng thần phát sinh trong năm 2004 như ông đã nói, có nhiều việc lẽ ra chúng tôi làm được, nhưng chúng tôi đã không làm gi”. Ngoài ra, Đại sứ quán Indonesia cũng cho biết thêm: “... Chúng tôi đã truyền đạt nội dung lá thư của ông đến bốn quốc gia. Trong tương lai, nếu ông có những thông tin cần cho chúng tôi biết, xin ông cứ tự nhiên thông báo”. Quả là đáng tiếc, toàn bộ nội dung của thảm hoạ động đất và sóng thần xảy ra trong năm 2004 đã được Juselino cảnh báo trước đó gần 8 năm, nhưng không một quốc gia nào quan tâm để có những biện pháp phòng tránh hiệu quả.
Juselino cũng đã tiên đoán và gửi thư cảnh báo về bệnh tình cũng như sự tạ thế của đức Giáo hoàng John Paul đệ nhị vào ngày 2 tháng 4 năm 2005. Từ năm 2001 cho đến hai tháng trước khi Giáo hoàng mất, Juselino đã gửi nhiều thư đến Ngài. Vào tháng 11 năm 2004, tức là 5 năm tháng trước sự cố này, Juselino có nói trong thư gửi đi như sau: “Rất tiếc là bệnh tình của Ngài vào ngày 30 tháng 3 năm 2005 sẽ nghiêm trọng hơn. Nếu cứ tiếp tục như thế thì có thể vào ngày 2 tháng 4 năm 2005 sẽ vô phương cứu chữa!”.
Còn đối với Nhật Bản, Juselino đã gửi thư tới Đại sứ quán, các cơ quan truyền thông và cảnh sát cảnh báo về một số sự kiện mà về sau cho thấy kết quả xảy ra đúng với tỉ lệ cao như sự băng hà của Nhật hoàng, vụ một tà giáo thả hơi độc làm nhiều người chết và bị nhiễm độc, vụ địa chấn mid-Niiagata kéo dài liên tục 5 tháng... Đặc biệt, Juselino đã cảnh báo trước về trận động đất 7.2 độ Richter xảy ra vào ngày 17 tháng 1 năm 1995 tại Kobe, làm chết và bị thương hơn chục ngàn người.
Sau đây là một số vụ đáng chú ý khác. Juselino đã đưa ra tiên đoán sự sụp đổ bức tường Berin vào ngày 2-9-1989. Thực tế đã xảy ra muộn hơn hai tháng, vào ngày 9-11-1989. Trong bức thư gửi Ân sư của mình (Francisco Shabiel), Juselino đã viết: “Tôi thấy bức tường ngăn cách Đông-Tây Berlin không lâu sẽ bị phá và hai bên Đông Đức và Tây Đức sẽ đoàn kết thành một”.
Juselino cũng đã gửi cho Tòa lãnh sự Nga và Tổng thống nước này (biên nhận của lần gửi đó vẫn được lưu giữ) cho biết rằng: “Trong tháng 8 hoặc tháng 9 năm 2004, nước cộng hoà Chesna cùng những người Nga trong phái Độc lập sẽ gây ra vụ khủng bố trường học”.
Một vụ việc khác là tại Luân Đôn, vào ngày 5 tháng 5 năm 2005 có ba địa điểm trong đường xe điện ngầm đã bị đánh bom, làm chết 54 người. Trước đó, Juselino đã gửi thư đến toà báo Daily Telegraph ở Anh và Toà lãnh sự Anh tại thành phố Sao Paulo (nơi ông cư ngụ). Trong thư ông cho biết: “Tôi xin cảnh báo đến Thủ tướng Tony rằng, vào tháng 6 hoặc tháng 7 năm 2004, cũng có thể đến tháng 3 năm 2005, ở quý quốc sẽ có khủng bố bằng chất nổ mà trọng lượng của khối thuốc nổ này là 500 kilô. Tai hoạ sẽ làm thiệt hại hơn 50 người. Thủ tướng nên đề phòng những nơi công cộng...”.
Nội dung khủng bố đã xảy ra đúng như tiên đoán của Juselino. Trước đó 11 năm, vào ngày 4 tháng 4 năm 1994, Juselino đã gửi thư báo đến Đại sứ quán Anh nói rõ là vào ngày 7 tháng 7 năm 2005 sẽ có phát sinh khủng bố. Viết bức thư này, Juselino mong muốn cứu giúp một thanh niên Brazil đang sống bên Anh để anh ta qua khỏi tai nạn bị ngộ sát. Trong thư cảnh báo, Juselino nói với Sứ quán Anh như sau: “Người thanh niên tên là Jean Menezes sẽ bị ngộ sát. Vào ngày 22 hoặc 23 tháng 7 năm 2005, trên đuờng hầm, thanh niên này có thể bị nhận lầm là kẻ khủng bố và bị cảnh sát bắn 5 viên đạn.”
Năm 2005, từ ngày 7 tháng 7 đến ngày 21 hoặc 23 tháng 7 đã có khủng bố tại Anh và kết quả giống như Juselino đã tiên đoán năm 1994. Ngoài ra, ngày 21 có phát sinh khủng bố nhưng không thành công. Đây là việc làm của cùng một tổ chức khủng bố. Rất có thể nhóm khủng bố đã dự định vào ngày 23 sẽ hành động, nhưng đến ngày 21 bị thất bại nên chúng ngưng kế hoạch của ngày 23. Và chắc chúng ta còn nhớ, người thanh niên kỹ thuật viên Jean Menezes đã bị nhận lầm là kẻ đánh bom tự sát và bị cảnh sát Luân Đôn bắn chết
Juselino cũng tiếp xúc với các cá nhân và giúp họ tiên đoán phúc họa, nhưng không nhận thù lao. Ông có cuộc sống rất bình dị. Ngoài biệt tài tiên tri, Juselino còn có khả năng nói lưu loát và thông thạo tiếng Anh, Ba Lan, Đức. Ông học những ngôn ngữ này trong khi ngủ. Vì vậy, Juselino có thể viết thư gửi cho các vị nguyên thủ nhiều nước, các cơ quan truyền thông và những cá nhân khác bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được.
Yêu cầu Mỹ trao 25 triệu USD cho Juselino
Theo tin từ Brazil, ngày 10-10-2005 Toà án Brazil đã xem xét đơn kiện của nhà tiên tri Juselino nhằm yêu cầu Chính phủ Mỹ trao 25 triệu USD tiền thưởng do thông tin về chỗ ẩn nấp của cựu tổng thống Iraq Saddam Hussein.
Toà án Tối cao Brazil sau khi tìm hiểu đã quyết định rằng, đơn kiện của Juselino có thể được xem xét, và đã giao nhiệm vụ cho toà án địa phương tại Minas-Jerais là bang mà nhà tiên tri hiện đang sống.
Theo hãng tin Reuters, trước đó một toà án cấp thấp hơn đã từ chối xem xét đơn kiện của Juselino.
Juselino khẳng định rằng, Quân đội Hoa Kỳ đã tìm thấy Saddam Hussein chỉ là nhờ các bức thư của nhà tiên tri, trong đó ông đã thông báo chỗ ở chính xác của cựu tổng thống Iraq.
Như đề cập đến trong các tài liệu của toà án, từ tháng 9-2001 Juselino đã gửi các bức thư cho Chính phủ Mỹ, trong đó đã mô tả chỗ ẩn nấp tương lai của Saddam Hussein - một căn hầm chật hẹp trong nhà ở trang trại gần Tikrit. Và nhà tiên tri cũng không nhận được thư trả lời từ phía người Mỹ.
Các luật sư của Juselino khẳng định ông có năng khiếu hiếm thấy về tiên đoán các sự kiện. Nhà tiên tri có thể nhìn thấy các tình huống và sự cố sẽ xảy ra trong tương lai.
Nếu toà án tán thành đơn kiện của Juselino thì nó sẽ được chuyển cho Bộ Ngoại giao Mỹ để xem xét.
Tháng 7-2003, Hoa Kỳ đã công bố tiền thưởng 25 triệu USD cho người nào cung cấp thông tin mà dựa vào đó có thể tìm thấy Saddam Hussein. Và họ đã bắt được cựu tổng thống độc tài này vào tháng 12-2003.
Những nguồn tiên tri trùng hợp khác
Điều rất đáng chú ý là có một số nguồn tin tôn giáo và tâm linh tiên đoán về tương lai gần của nhân loại khá trùng hợp với những gì mà Juselino đã đưa ra. Sau đây là một số ví dụ.
Từ nguồn thơ văn linh cảm
1. Trong bài thơ “Mẫu Vô Nguyên” do bà Mai Thị Xuyên ghi được bằng linh cảm vào lúc 2 giờ sáng ngày 10 tháng 7 năm 2001 có đoạn:
Năm Mậu Tý, bút Tiên đã báo
Ầm ầm mưa lớp lớp sóng cồn
Sấm vang chớp giật mưa tuôn
Mịt mù Trái Đất, liệu còn hay không?
Mẫu lo cho giống Lạc Hồng
Cố mà đối chọi giữ giòng Lạc Tiên
Mong Trần thế giữ nghiêm nghiêm
Để mà đối chọi thiên nhiên dưới Trần..
...Cuối năm Dần Thiên ám Địa buồn
Ầm ầm muôn lớp sóng cồn
Sấm vang chớp giật mưa tuôn mịt mù
Nào nguyên tử ù ù kêu suốt
Nào điện quang kinh khiếp vô cùng
Ngất Trời bể lửa đỏ bừng
Bao nhiêu nhân vật núi rừng ra tro...
2. Trong bài thơ linh cảm “Mẫu Thiên nhiệm mầu” (không rõ người ghi) cũng có đoạn đề cập đến các năm 2008-2012 (Tý-Sửu-Dần-Thìn), đặc biệt là năm Canh Dần 2010 và năm Giáp Ngọ 2014:
Năm Dần, Mẹ quyết làm xong...
...Các con hãy cố tu mau
Qua nơi địa ngục, bước vào cảnh Tiên
Hết năm Tý - Sửu - Dần - Thìn
Bước sang năm Ngọ, Phật Tiên đón chào
3. Trong tập thơ linh cảm “Đức Di Lặc cứu kiếp” cũng có đoạn:
“...Nếu Trần cho mở Hội Trời
Thì mới cứu được con người hiện nay
Nếu không chấp nhận Lệnh này
Còn nhiều tai nạn gió bay cửa nhà
Còn nhiều động đất sinh ra
Còn nhiều hồng thuỷ, băng hà làng quê
Bút Tiên, Trời xoá đường mê
Chỉ còn Đường Chính gửi về Trần gian
Ai mà chống Lệnh Thiên Can
Thiên Lôi tra xét việc làm các con
Còn đâu tình nghĩa Cha - con
Còn đâu lấp biển, đền non cao dầy
Trời buồn lòng dạ đắng cay
Đến năm Bính Tuất (2006) chẳng thay đổi gì
Trần gian bác bỏ thị phi
Chẳng ai phúc đáp lời gì cùng Cha
Cho nên phải khổ oan ra...”
Từ bản viết của cậu bé Khánh Duy
Nội dung của chi tiết này được lấy từ cuốn “Chuyện lạ có thật về một con người” của tác giả Cao Hùng, NXB Lao Động ấn hành năm 2006). Nhân vật Đ.V.T (Đỗ Hoàng Vạn Thông) trong tập sách đã đọc được một bản chữ Thiên do một cậu bé tên là Khánh Duy thu được bằng linh cảm.
Vào năm 2000 khi mới 9 tuổi, cậu bé Khánh Duy đã một thời làm xôn xao dư luận trong giới khoa học nói chung và các nhà nghiên cứu tâm linh nói riêng. Cứ vào dịp Tết, cậu bé này có viết một bản bằng thứ chữ lạ không ai đọc được, nên người ngoài không biết nội dung nói về diều gì.
Theo tác giả Cao Hùng, Khánh Duy sinh lúc 2 giờ chiều ngày 9-10-1992 (tức ngày 9 tháng 9 năm Nhâm Thân), là con một chị quê ở Phú Thọ đã từng học ở Liên Xô (cũ) và có hai bằng đại học. Sau khi sinh con, chị bỏ việc cơ quan và đưa bé Khánh Duy về Hà Nội, rồi mở quán cơm chay sống qua ngày để nuôi con khôn lớn.
Vào dịp Tết năm 2000, Khánh Duy cũng đã viết một bản chữ lạ và may mắn là tác giả Cao Hùng đã có được bản sao nhờ mẹ của cậu bé. Khi đưa cho T, anh ta đã dịch bản viết đó ra chữ Phạn và chữ Việt. Dưới đây là nội dung bằng tiếng Việt của bản viết chữ lạ do Khánh Duy đã ghi:
Linh ấn thư !
Chứng minh sở đắc cầu thiên địa !
Nhân Trần đang đau khổ lắm của kỳ này, khó ai mà hiểu được. Chỉ có các bậc thiên linh trả lời tất cả mọi sự việc hiển diện cho kỳ này. Ta nói để bày tỏ đến tất cả những gì mà còn thảm hại, bi kịch ở hành tinh. Các người hãy đề phòng thiên tai dồn dập cứ diễn tiếp. Người thì gây thảm hại cho nhau cũng không ít (...). Ta nói rằng chỉ có các vị thiên sứ về mới giúp được nhiều việc nguy kịch sẽ diễn biến sau này tại quả đất các người. Nói về nền tâm linh: Ai có thân có mạng, có duyên hãy cố gắng lên, đừng bỏ phí chút thời gian vàng ngọc tại kỳ này mà không hành trì. Sau này đến việc mà không giúp được việc gì cho nhân loại, cho chúng sinh thì cũng đừng hối tiếc. Ta nói ... có một đám mây đen ùn kéo đến + ba tiếng nổ không vừa và trời nổi giông tố, có trận nóng tăng nhiệt độ kinh khủng làm sức chịu đựng không nổi, và có ngọn gió lốc đi như tên bay, lúc đó làm rung chuyển cả bầu trời. Sẽ có một căn bệnh lạ xuất hiện, lúc này khoa học không tìm nguyên nhân được (không tìm thấy vi trùng). Căn bệnh này chỉ các bậc thiên linh mới giúp được thôi.
Ngày ... sẽ có tác động. Đây lời ta nói đến tháng 7 - 8 các chư thiên về mượn thân, đầu thai giúp cho nhân loại nhiều việc hay (2000).
Phần ta cũng không xa, thời gian ta cũng sẽ giúp đất nước nhiều việc. Ta hẹn thư sau.
Dưới bản dich, T còn ghi chú như sau: Tôi chỉ biết bấy nhiêu dịch lại từ chữ Thiên của Khánh Duy viết ra. Có câu: “Thiên cơ bất khả lộ”. Tôi còn muốn đưa rộng thêm ý trong thư nhưng sợ lỗi ý Trời, Đất. Tôi chỉ dịch ra phần cơ bản và tóm lại ý để ai xem tự mình rút ra kết luận theo hiểu biết mỗi người. Trong thư cho nói khi nhận điển lực, không cho ghi chép, lộ lời sai ý.
Trong bản dịch ra tiếng Việt, T không dám dịch toàn văn vì sợ để lộ Thiên cơ và đụng tới vấn đề chính trị. Có một chi tiết kỳ lạ là khi T và Khánh Duy gặp nhau ở Hà Nội thì hai nhân vật này lại nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ lạ, không ai hiểu được. Thời điểm này có nhiều người ngồi nghe.
* * * * *
Để nhấn mạnh cho loài người có ý thức rõ ràng hơn về bản chất của biến cố “tận thế” hay “mạt kiếp”, trong tập thơ linh cảm “Phật Mẫu giáng truyền” đề ngày 9-11-1996, nhân danh Mẫu Âu Cơ đã có nói:
... “Thương Trần, Mẹ mới phân ly
Con chẳng hiểu gì. Mẹ nói đến nơi
Đây là Luật của Phật Trời
Đổi kiếp thay đời, con có hiểu không?
Đổi đi để được vui cùng
Bao nhiêu người lành tu ở với nhau
Người nào cũng có phép mầu
Ngày đêm con chỉ việc cầu việc chơi
Nhà vàng ghế ngọc, con ơi
Khi qua mạt kiếp vui cười hân hoan
Đây không phải chuyện mơ màng
Việc thực đã được Ngọc Hoàng ban cho
Đó cũng chẳng phải trong mơ
Người ác diệt hết, còn ta thanh nhàn”..
Không Nước Không Trăng - 5
(Gửi vào: 5/23/2008 7:54:41 PM)
Nếu quá trình hành Thiền của các đệ tử diễn ra dưới sự hướng dẫn và theo dõi của một vị Thầy chứng ngộ thì sẽ có cơ may đúng hướng trên đường Đạo. Và chỉ người Thầy như vậy mới có khả năng tác động đệ tử đúng lúc để anh ta có bước nhảy lượng tử từ một con người bình thường trở thành vị Phật...
Mẩu truyện Thiền số 5
NGÓN TAY GUTEI
"Thiền sư Gutei hay giơ ngón tay trỏ lên mỗi lần Sư giảng về Thiền.
Một thiền sinh trẻ khi thấy Sư giơ ngón tay trỏ lên thì cũng bắt chước giơ theo, lâu dần thành quen. Một hôm, Sư Gutei nghe nói đến chuyện này, liền đến ngay thiền sinh đó nhằm lúc chàng đang đưa ngón trỏ lên. Sư liền nắm lấy ngón tay của thiền sinh rồi chặt nghiến, vứt đi. Thiền sinh đó la hét vang trời, chạy tưởng chết. Sư quát lớn: ‘Đứng lại!’. Chàng đứng sững, quay đầu lại. Sư giơ ngón tay trỏ lên. Thiền sinh bất giác theo thói quen, cũng định giơ ngón tay trỏ của mình lên. Nhưng khi nhìn xuống thì... thiền sinh đại ngộ. Chàng sụp xuống lễ Thầy".
Đây là câu truyện Thiền thật lạ và bạn có thể hiểu sai, méo mó về ý nghĩa của nó vì cái khó hiểu nhất của cốt truyện là phong cách xử trí độc đáo của vị Thầy giác ngộ.
Chúng ta thường có thói quen nhận xét và đánh giá người khác hay một sự vật theo cảm tính của mình. Nhưng vị Thầy giác ngộ thì hoàn toàn khác. Người đó đứng ở một góc độ khác chúng ta, những con người phàm tục. Nơi nào người đó có mặt, nơi nào người đó đặt chân tới, nơi đó hoàn toàn mất dấu những khái niệm ta-người, có-không, được-mất, hơn-thua... Những thước đo giá trị, những bảng luân lý đạo đức, những bình phẩm khen chê v.v... đều vắng bóng bởi vì tất cả những thứ đó đều lồng cái "tôi" ở bên trong, một cái "tôi" được tô màu và đánh bóng. Người đạt Đạo không màng những thứ phù phiếm đó và cũng không để tâm mình dính bụi. Người đạt Đạo sống thật đơn giản, không cầu mong, không trông đợi. Người đó không có nơi nào để đi, không có một mục tiêu để đạt tới. Còn một nơi nào để đến, còn một mục tiêu nào để đạt tới thì tâm hành giả vẫn còn dính mắc và tham cầu. Như khúc gỗ giữa dòng sông, người đạt Đạo không tắp vào bờ bên này, không trôi về bờ bên kia; không có gì “tốt” cũng không có gì “xấu” đối với người đã giác ngộ. Người đó sống trọn vẹn hồn nhiên, phóng khoáng trong cái chân-thiện-mỹ của dòng đời, nhưng chúng ta thì không thể sống trọn vẹn được như vậy. Tật xấu của con người tầm thường là luôn đánh giá sự vật. “chúa” khác với “quỷ”, “thiện” khác với “ác”, “trong sạch” khác với “tội lỗi” v.v... Luôn luôn có sẵn hai trận tuyến, hai bến bờ mà trong đó dòng sông đời đang tuôn chảỵ.
Tôi có nghe một câu chuyện ý nhị như sau:
"Ngày kia, có một họa sĩ tài ba danh tiếng gặp lại người bạn bác sĩ và mời ông ta đến phòng triển lãm tranh của mình để bạn đánh giá một tác phẩm vừa mới hoàn thành. Họa sĩ đã nghĩ rằng tác phẩm này đúng thật là tuyệt tác, là đỉnh cao nghệ thuật hội hoạ của ông. Vì thế, với tài trí của bạn bác sĩ, chắc chắn ông sẽ được nghe những lời khen thích đáng, bổ ích.
Ông bác sĩ đó đến phòng triển lãm tranh, ngắm bức tranh, ngắm tới, ngắm lui, ngắm xuôi, ngắm ngựợc, hết bên này tới bên kia, gật gù, nhíu mày suy nghĩ, rồi lại quan sát. Mười phút trôi qua, mười lăm phút trôi qua, rồi hai mươi phút. Họa sĩ hơi sốt ruột, chần chừ và cuối cùng lên tiếng hỏi:
- Thế nào bạn? Anh nghĩ sao về tác phẩm này?
Ông bạn bác sĩ trả lời, giọng chắc nịch đắc ý:
- Tôi nghĩ là người vẽ tranh đã mắc bệnh phổi cấp hai rồi !
Ông họa sĩ: ...! ! !”.
Như thế đó, không riêng gì chúng ta mà cả ông bác sĩ học thức kia cũng mắc cái bệnh đánh giá sự vật qua trung gian khái niệm giá trị.
Ông bác sĩ là người sống trong phòng thực nghiệm, bên cạnh những thuốc men và bệnh tật. Trong đầu ông ta luôn luôn có sẵn những công thức hoá học, những căn bệnh phải tìm hiểu, những vi trùng, vi khuẩn... Nhìn ở đâu ông ta cũng thấy vi trùng và bệnh tật; những vi trùng và bệnh tật đó đã trở thành máu xương trong ông, môt nửa con người của ông. Vì thế, khi nhìn bức tranh, ông bác sĩ cũng phân tích, mổ xẻ, định bệnh. Ông ta đã bị méo mó do nghề nghiệp! Thiên nhiên trước mắt ông với trời xanh, lá đỏ hoa vàng, nhưng ông ta không còn khả năng thưởng thức cái đẹp thiên nhiên được nữa. Cái khiếu thẩm mỹ trong ông đã mất, nhường chỗ cho một đầu óc xơ cứng vì khái niệm phân biệt chia chẻ.
Điều thứ hai khác biệt là người đạt Đạo trực chỉ Chân tâm, chứ không mất thì giờ với những cái bên ngoài. Còn chúng ta lại quan tâm đến cái vỏ bên ngoài. Đó là thứ vô giá trị. Chúng ta đã giết chết linh hồn mình và giữ gìn cái thân xác. Nhưng người giác ngộ thì hy sinh thân xác và không thể đánh mất linh hồn. Người đó sẵn sàng cho chết cái thân tướng giả hợp đó, không một chút luyến tiếc và luôn trân trọng chú tâm gìn giữ chánh niệm từng giây từng phút.
Đối với vị Thầy giác ngộ, thân tướng bề ngoài chỉ là một phương tiện hành đạo. Khi nào cần phải xả lỵ, người đó sẵn sàng từ bỏ. Ngay cả phải cắt bỏ cái đầu để chứng Đạo, người đó cũng sẵn sàng làm thế.
Krishna đã từng nói với Arjuna trong Phạm thư rằng: “Đừng quan tâm tới thân xác. Chúng ta sinh ra và chết đi không biết bao nhiêu lần rồi. Cái chết không là gì cả; chẳng qua chỉ là sự thay đổi cũng như một người nào đó cởi bỏ bộ quần áo cũ hay rời căn nhà cũ để mặc tấm áo mới hay vào căn nhà mới mà thôi".
Đừng quan tâm tới cái thân tướng giả tạm bên ngoài. Hãy quay ngược vào bên trong nội tâm; hãy chú tâm nhìn vào bên trong con người của ngươi! Nhưng liệu Arjuna có hiểu đựơc ý tứ lời nói của Krishna không?
Thiền sư Gutei còn hơn thế. Krishna nói, chứ Gutei thì hành động ngay mà không nói, còn đệ tử Arjuna của Krishna cũng khác xa đệ tử của Gutei.
Hãy nhớ kỹ điều này: người Thầy chỉ có thể hành động mau lẹ, chớp nhoáng khi nhận xét kỹ đệ tử mình đã đạt tới một trình độ có thể lãnh hội được sự huấn thị đột xuất, và cơ duyên học hỏi cũng đã chín muồi để có thể truyền dạy; người Thầy phải ra tay hành động ngay, xuất kỳ bất ý, không để cho cơ duyên may mắn đó vuột mất. Thầy có thể tát một cái thật mạnh, đạp một cú đau điếng hay thậm chí chặt nghiến đi ngón tay của đệ tử như Thiền sư Gutei để giúp trò bước cuối cùng nhảy vọt vào chân không-giác ngộ.
Nhưng không phải ai cũng lãnh hội được như vậy. Thầy chỉ ra tay khi đệ tử đã thuần thục; nếu không, ông ta phải dùng lời nói để dạy bảo. Hành động chỉ phát xuất khi cả hai đều sẵn sàng; không một chút sơ hở, không được vuột mất, chớp nhoáng, cấp kỳ, đúng thời điểm. Tâm niệm của Thầy và tâm niệm của đệ tử phải hợp nhất, thông tri nhau; nếu không, chỉ hoài công vô ích. Thầy truyền trao hết tâm huyết cho trò, đệ tử cũng gửi trọn mạng sống của mình và niềm tin tuyệt đối cho Thầỵ. Nếu Thầy bảo chết, đệ tử sẵn sàng chết ngay, không do dự. Nếu cả hai được như thế thì mới có kết quả mỹ mãn.
Ngày xưa có rất nhiều người đã chứng ngộ vì họ có niềm tin vững chắc vào Sư phụ của họ. Chính niềm tin sắt đá và nghị lực bền bỉ tham thiền công án đã giúp họ đắc quả. Còn ngày nay, con người sinh ra trong nghi kỵ, trưởng thành trong do dự, hiềm khích nên khó lòng đặt chân tới ngưỡng cửa của Chân lý, chứ chưa nói đến nắm bắt được Chân lý. Trong Đạo thì Thầy không tin trò, trò nghi ngờ Thầy, huynh đệ hiềm khích báng bổ nhau, các tông phái chống đối lẫn nhau, sát phạt lẫn nhau; còn ngoài thế gian thì cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh chị em xúc xiểm nhau, tàn hại nhau để tranh đoạt lợi lộc. Nét đẹp nhân bản đã biến mất. Cả một thế giới điên đảo vì quyền lực, danh lợi. Ngay từ ngày đầu tiên con người bú dòng sữa mẹ, chúng ta đã được nuôi dưỡng bằng tham vọng, nghi ngờ, sân hận và si mê. Bị ấp ủ, nuôi dưỡng và trưởng thành trong một môi trường như vậy, thử hỏi làm sao chúng ta tránh khỏi sự hoen ố tinh thần?
Nhưng đường hướng tôn giáo thì ngược lại. Chúng ta phải tin tưởng tuyệt đối và cũng được người khác tin tưởng lại như vậy. Đệ tử của Gutei thuộc hạng người tin tưởng tuyệt đối này, vì thế anh ta đã giác ngộ.
Bây giờ chúng ta đi vào mẩu truyện Thiền khác thường ở trên. Từng cử chỉ, từng câu nói trong cốt truyện thật kỳ thú, thật đặc biệt.
"Thiền Sư Gutei hay giơ ngón tay trỏ lên mỗi lần Sư giảng về Thiền".
Các Thiền sư không bao giờ làm một chuyện gì đó vô ích, ngay cả khi chỉ giơ một ngón tay lên. Từng cử chỉ, từng lời nói của các Thiền sư đều toát lên một ý nghĩa nhất định, một giá trị nào đó. Các Thiền sư không bao giờ làm một cử chỉ hay nói một lời nói vô bổ thừa thãi, phí thì giờ vô ích cả. Tại sao Thiền sư Gutei giơ một ngón tay lên mỗi lần ông giảng về Thiền hay có ai hỏi về Thiền? Nhưng không phải lúc nào Sư Gutei cũng làm như vậy, chỉ khi giảng về Thiền hay có ai hỏi về Thiền thì Sư mới làm như thế. Đó là tại vì Sư muốn chỉ bảo cho chúng ta nhận thức ‘Vạn pháp quy tâm’ (‘Một là tất cả, tất cả là Một’).
Mọi vấn đề khơi mào cũng vì chúng ta không thể là Một, không phải là Một. Mọi rắc rối xảy ra chỉ vì chúng ta còn chia chẻ phân biệt quá. Sự vật nào cũng bị chúng ta đem ra mổ xẻ cân đong, đo lường. Chúng ta là sự phân tán, không hài hòa kết hợp.
Thiền sư Gutei giảng về Thiền; những lời nói chỉ là phụ, cái chính là ngón tay. Nếu ai nhận thức được, kẻ đó bước chân vào Đạo; ai không nhận thức ra thì dù có lễ lạy nhiều cũng cách xa Chân lý vạn dặm.
Cũng như Phật Thích Ca trên núi Linh Thứu giơ cành hoa sen lên cao và im lặng. Tất cả hội chúng đều ngơ ngác, duy chỉ có ngài Ma Ha Ca Diếp mỉm cười thông ý. Đạo là vô lời, không thể dùng ngôn ngữ để diễn tả Đạo, để lý giải Chân lý được.
‘Đạo khả đạo phi thường Đạo; Danh khả Danh phi thường Danh’ (‘Đạo mà còn diễn tả thành lời được thì không phải Đạo, Danh mà còn gọi tên được thì không phải Danh’ - lời của Lão Tử). Nếu bạn nhìn thấu được thì ngôn ngữ đạo đoạn, không cần đến lời nói nữa. Nhưng nếu bạn không có khả năng thẩm thấu đó thì dù có nói vạn lời cũng vô ích.
Có nhiều tôn giáo, đạo phái khác nhau; có nhiều pháp môn, nhiều cách thức hành đạo khác nhau nhưng phải tựu trung lại một điểm là: Vạn pháp quy về Một, tức là quay về tìm lại cái Bản tính chân thật thường hằng, cái Bản lai diện mục, cái Vô sinh, cái Chân không thường hữu của chúng sinh thì đó mới chính là Đạo.
Tụng kinh, lễ bái, tu thiền, trì chú, niệm Phật, niệm Chúa v.v... đều quy về nhất tâm thì mới mong chứng đạt. Hành giả phải thực nghiệm rằng người tu, pháp môn tu, quả vị để chứng đều là giả danh, giả hợp; phải thấy vạn pháp giai không, do nhân duyên hợp thì mới rốt ráo Ba-la-mật, mới đáo bỉ ngạn, đạt tới bờ bên kia của giác ngộ.
Ý nghĩa đoạn văn ở trên được thể hiện rõ nét nhất trong bài tán tụng Đức Phật mà một Phật tử thường lễ bái, đại ý: "Con lễ Phật nhưng không thấy Phật là đối tượng đang được lễ, không thấy con là người đang lễ; cả hai đều vắng bóng cái Ngã".
Khi đạt được cái Tính không vẳng lặng rốt ráo thì mối đạo vốn vô ngôn vô tướng mới tỏ hằng, mới giao lưu cảm ứng. Lúc đó, trong ta có Phật, trong Phật có ta; không biên giới, không rào cản. Người tu đến một mức nào đó sẽ nắm bắt được cái tinh túy, cái cốt tủy của suối nguồn Chân tâm trung trinh thường hằng.
"Có một thiền sinh trẻ hay bắt chước Sư Gutei, giơ một ngón tay lên... "
Dĩ nhiên, thiền sinh đó còn rất trẻ nên mới bắt chước người khác. Thường thì trẻ con hay bắt chước người lớn. Người đã trưởng thành đâu còn bắt chước người khác? Thực tế không phải vậy. Sự chín muồi của tâm trí không đặt trên số lượng tuổi tác. Có rất nhiều người đã lớn tuổi nhưng vẫn chẳng có kinh nghiệm gì nhiều. Nếu còn bắt chước người khác thì mãi mãi họ vẫn như đứa bé, có hiểu biết nông cạn, khờ khạo đến tội nghiệp.
Vậy ‘trưởng thành’ là gì? Đó là sự nhận thức để biết rõ chính mình, chứ không phải là một kẻ bắt chước. Trưởng thành có nghĩa là ta phải là ta, ta chính thực là ta, một con người trần trụi, không một lớp sơn che phủ, không là cái bóng của kẻ khác. Không nên thế này: người bạn của ta có cái xe mới, ta cũng vội tìm mua cái xe khác; ông hàng xóm xây lại nhà, ta cũng cố kiếm tiền xây lại nhà của mình lớn hơn v.v...
Hãy sống thật với mình. Hãy sống trung thực với cảm nghĩ của chính ta, không nên che giấu, không nên dồn nén, không nên ức chế. Cái quý nhất của con người là bản tính trung thực và lòng can đảm. Chính hai đức tính đó sẽ giúp con người thăng hoa đời sống và chuyển đổi ngoại giới.
Bạn có sẵn hạt giống giác ngộ trong mình. Nếu bạn chuyên tâm tưới tẩm chăm bón nó, hạt giống đó sẽ đâm chồi nẩy lộc cao lớn thành cây, rồi bạn sẽ hưởng được quả vị thơm ngon. Vậy tại sao bạn không lo chăm bón hạt giống của chính mình mà lại đi bắt chước người khác, đi chăm bón hạt giống của người khác?
"Có chàng thiền sinh trẻ thấy Sư Gutei giơ ngón tay trỏ lên mỗi lần giảng về Thiền, cũng bắt chước giơ ngón tay trỏ lên..."
Chàng thiền sinh kia thấy Sư Gutei nổi tiếng được mọi người kính trọng, cũng muốn được như vậy nên bắt chước Sư phụ để được tiếng thơm; nhưng chính Phật Thích Ca, Chúa Jesus hay Krishna cũng không hề dạy chúng sinh phải trở thành bản sao của các Ngài mà phải trở thành chính mình, phải là chính mình, không là hình bóng của ai khác, dù người đó là Phật, là Chúa hay là các vị Thánh nhân gì đi nữa.
Tìm một vị Minh sư, đến với vị Minh sư đó, hiểu những gì Minh sư dạy, uống cạn sự hiện hữu của Minh sư, ăn trọn sự có mặt của Minh sư càng nhiều càng tốt, nhưng chớ có bắt chước ông ta, đừng làm kẻ bắt chước, đừng làm điều ngu xuẩn đó, vì thật nguy hiểm. Sự bắt chước người khác không giúp ta đuợc gì mà trái lại còn gây nguy hiểm cho ta nữa.
"Sư Gutei nghe chuyện, đến gặp thiền sinh đó nhằm lúc anh chàng đang giơ ngón trỏ lên, Sư nắm lấy chặt nghiến vứt đi..."
Kinh khủng quá, tàn nhẫn quá, phải không? Sư phụ gì mà ác độc quá vậy, nỡ cầm tay đệ tử chặt cụt đi một ngón? Nhưng thực ra, Sư Gutei là một vị Thầy đầy lòng bi mẫn.
Phương pháp giáo huấn đệ tử trong Thiền tông độc đáo quái chiêu là ở chỗ đó. Không tài nào hiểu thấu được nếu chính chúng ta không tu tập, không tư duy quán chiếu tự tâm. Phát xuất từ tâm đại từ, đại bi, đại trí, những cú đấm, những cây gậy hay những câu la hét của các Thiền sư đều là những phương tiện thiện xảo giúp đệ tử chóng khai ngộ.
Thiền Sư Gutei đã sử dụng độc chiêu cuối cùng để đẩy đệ tử một bước nhảy vọt vào vùng không gian bao la của tâm thức. Đệ tử không kịp phản ứng, không kịp suy nghĩ gì hết, chỉ một tích tắc thôi, ngón tay đã rơi xuống đất... Cái đau thể xác đó thật tê tái điếng hồn, cái đau tinh thần cũng to lớn không ngần và đột xuất thần kỳ, trong một giây phút, hai nỗi đau đó hòa nhập vào nhau và chuyển hóa. Đệ tử đã liễu đạo, anh ta đã trưởng thành, không còn là một đứa bé bắt chước người khác nữa. Giây phút ngộ Đạo đến chớp nhoáng, mau lẹ và cũng có thể không xảy ra dù trải qua nhiều đời nhiều kiếp.
Ngón tay chỉ là một biểu tượng, một ví dụ điển hình. Chàng thiền sinh đó bị một cú xốc bất ngờ; ngay lúc ý niệm chưa thành hình thì chàng ngộ Đạo, tâm niệm được tịnh hóa. Khi chúng ta còn kịp suy nghĩ, còn phản ứng thì lúc đó ý thức trong chúng ta vẫn còn năng lực hoạt động và chi phối, ví dụ như khi chúng ta nhìn một đóa hoa là mắt tiếp xúc với cảnh trần, tức thì thức thứ 6 là Ý thức xen vào phân biệt đây là hoa hồng chứ không phải là hoa cúc, hoa huệ, màu đỏ này đẹp hơn màu vàng kia v.v... và thức thứ 7 là Mạt na thức chấp trước dính mắc liền "hoa hồng này trong vườn ta đẹp hơn hoa của ông bà hàng xóm kia" hoặc chúng ta sẽ khởi niệm "hoa này đẹp quá, ta phải hái về cắm trong phòng" v.v..., nghĩa là một khi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tiếp xúc với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là ý thức khởi lên phân biệt dính mắc ngay và đưa đến tâm Ái, Thủ, Hữu (yêu thích cái gì là muốn chiếm đoạt ngay để làm của riêng). Vì thế, Sư Gutei đã đánh ngay một đòn chí mạng dù phải chặt đứt ngón tay của đệ tử hay thậm chí giết chết đệ tử để giúp anh ta liễu đạo được cũng có giá trị gấp vạn lần sống cả một đời người mà ngu ngơ, sống không lợi ích cho đời, không đạt được gì cho mình thì kiếp sống đó dư thừa vô vị.
Đệ tử bị một nhát dao chém tay đó của Sư phụ trong lúc không kịp đề phòng, không chuẩn bị, bất ngờ nhất, nên dòng ý thức ngưng hoạt động - giữa cái cự ly mong manh ngắn ngủi đó, tâm trí chàng thiền sinh như một tờ giấy trắng tinh, vô niệm - và chính cái trạng thái vô niệm đó là Chân tâm, là Đại ngã.
"Chàng thiền sinh chạy tưởng chết. Sư Gutei quát lớn: ‘Đứng lại!’ Thiền sinh đứng sững quay đầu lại, Sư Gutei giơ ngón trỏ lên. Thiền sinh bất giác, theo thói quen cũng định giơ ngón trỏ lên, nhưng nhìn xuống thì... thiền sinh đại ngộ, sụp xuống lễ Thầy."
Chàng thiền sinh đau điếng, chạy trốn; nhưng giật bắn người vì tiếng quát lớn đầy uy mãnh của Sư phụ ‘Đứng lại’.
Khi chàng thiền sinh bất thần dừng phắt lại, toàn thể sự chú tâm của anh ta quay hẳn về âm thanh ‘Đứng lại’. Ngón tay bị chặt đứt, máu vẫn chảy, cái đau vẫn còn đó, nhưng tiếng quát ‘Đứng lại’ đã thu hút tất cả sự chú tâm của thiền sinh nên anh ta đã quên phắt ngón tay bị chặt, quên cả máu và cái đau. Một khi tâm phân biệt vắng bóng thì cái đau thể xác mất dấu. Ta cảm thấy đau vì ý thức khởi lên phân biệt. Cái đau hiện hữu không phải trong thể xác mà chính do ý thức cấu tạo nên.
Nếu bạn bị đau, phải nằm trên giường bệnh, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ tiếp tục nghĩ về căn bệnh đang hoành hành cơ thể mình. Bạn đang nuôi dưỡng nó đấy! Bạn chú tâm về nó, lo lắng, suy nghĩ về nó. Chính cái tâm trạng khắc khoải lo sợ đó đã nuôi lớn căn bệnh!
Tôi nghe nói như thế này: "Có một người bị bệnh bại liệt; ông ta đã không đi đứng được suốt 15 năm. Một đêm kia, bỗng căn nhà ông bị bốc cháy dữ dội, mọi người kêu la, cầu cứu om sòm, chạy ào ra cửa. Người đàn ông bại liệt đó trong lúc sợ hãi nhất đã quên bẵng là mình không đi được, theo bản năng ông đã đứng bật dậy chạy bay ra cửa. Ra đến ngoài đường, người nhà ông ta sau phút hãi hùng, hoàn hồn, chợt sững sờ: ‘Ủa, sao ông chạy ra đây được vậy? Ông bị bại liệt mà!’. Vừa nghe đến đây, ông ta té quỵ xuống đất”.
Chuyện gì vậy? Ngay trong lúc tai nạn xảy đến bất ngờ, không kịp phản ứng, người đàn ông đã quên hẳn đi căn bệnh của mình nên toàn thân ông ta đã nghe theo lời sai khiến của tâm trí ‘Đứng lên chạy ngay!’ và ông ta đã chạy được, nhưng khi người nhà nhắc lại căn bệnh thì ông ta lại chuyển dòng ý thức về cơ thể nên không còn sức chống đỡ nữa.
Cũng vậy, đệ tử của Gutei bị tiếng quát lớn ‘Đứng lại’ của Sư phụ, dừng phắt lại, dòng tâm niệm dừng lại, cái đau dừng lại, hơi thở dừng lại - ngay trong tích tắc đó, anh ta đã thoát khỏi sức chi phối của thể xác và tiếng quát lớn đó là một phép lạ nhiệm mầu giúp chàng thiền sinh tỉnh thức. Đây là lần đầu tiên, đệ tử thấu triệt được tâm trí và thân tướng giống như căn nhà và ánh đèn sáng bên trong. Thân xác này giống như căn nhà tối om, nếu không có ánh sáng ngọn đèn thì ta không thấy được gì bên trong căn nhà; cũng vậy, nếu không tịnh hóa được nguồn tâm thì mây mù vô minh vẫn còn che phủ bản tâm. Vì thế, đệ tử kia đã sụp xuống lễ Sư phụ: ‘Thầy đã cho con cơ hội nhìn thấu được tầng lớp sâu kín nhất của bản thân con; cái Bất tử vĩnh hằng".
"Ngay lúc đó, đệ tử ngộ Đạo..."
Giác ngộ là gì? Đó là sự liễu tri không thân, không tâm, là sự rỗng rang tự tại không bị ràng buộc, không bị ý thức chi phốị. Một khi thẩm thấu được câu hỏi ‘Ta là ai?’ thì bạn đã giác ngộ.
Thiền sư Gutei đã chờ đợi cái giây phút tỉnh thức của đệ tử này nhiều năm rồi. Cũng đã nhiều năm, đệ tử này đã từng giơ ngón tay lên như vậy. Thiền sư đã đợi, đã đợi cơ duyên chín muồi, căn cơ đệ tử phải thuần thục mới hạ thủ công phu để chém một nhát cuối cùng.
Vậy là giây đứt, thùng rơi, không còn nước trong thùng, không còn trăng trong nước. Ảo ảnh tan biến, đệ tử ngước nhìn vành trăng thực thụ trên trời, chàng ta đã ngộ Đạo. Giác ngộ chính là ta biết được chính ta, ta tìm lại được chính ta!
VŨ TRỤ VÀ CON NGƯỜI... - Phần thứ 10
(Gửi vào: 6/15/2008 10:18:53 AM)
Có nhiều hiện tượng rất quen thuộc với đời sống con người nhưng dường như không thể lý giải được từ những hiểu biết của thế giới vật lý (hữu hình). Trong khi đó, dưới góc độ của thuyết đa chiều thực tại có thể làm sáng tỏ các bí ẩn đã tồn tại bao đời nay...
Phần thứ mười
MỘT SỐ BÍ ẨN
PHI VẬT LÝ
Từ “phi vật lý” được dùng ở đây để chỉ tất cả những gì có liên quan đến các chiều thực tại năng lượng (vô hình). Mặc dù chúng ta đang sống ở thế kỷ 21 với nhiều thành tựu khoa học - công nghệ vĩ đại, nhưng vẫn tồn tại vô số hiện tượng phi vật lý chưa có lời giải đáp thoả đáng. Trong phần này chúng ta sẽ áp dụng thuyết vũ trụ đa chiều và những kết quả rút ra từ đó để lý giải một số khía cạnh bí ẩn thuộc các chiều thực tại năng lượng.
Các giác quan đặc biệt
Chúng ta thường nói đến năm giác quan vật lý của con người là thị giác (nhận biết hình ảnh), thính giác (nhận biết âm thanh), xúc giác (cảm nhận về hình thể và trạng thái), vị giác (cảm nhận về vị) và khứu giác (cảm nhận về mùi). Tất cả các giác quan đó chủ yếu tiếp nhận thông tin từ bên ngoài thuộc bình diện vật lý. Nhưng tồn tại một giác quan nội tâm rất quan trọng mà ít khi được chú ý tới, đó là giác quan nhận biết những gì xảy ra bên trong con người về cảm xúc và trí tuệ. Ở đây tạm gọi nó là “tâm giác”. Rõ ràng, nhờ có tâm giác mà con người nhận biết được cảm xúc và ý nghĩ của mình phát sinh từ các chiều năng lượng.
Như trong phần 4 đã chỉ ra, ít nhất con người có bảy cơ thể năng lượng tương ứng với bảy chiều thực tại phi vật lý. Có cơ sở để tin rằng, mọi cơ thể của con người (vật lý hoặc năng lượng) đều chứa một hệ thống giác quan thích hợp để nhận biết chiều thực tại tương ứng. Các nhà thực hành tâm linh từ lâu đã trải nghiệm điều đó.
Thực vậy, có khá nhiều tư liệu nói về các giác quan đặc biệt ở con người. Theo Cổ thư của Tây Tạng, tồn tại năm cách khai mở năng khiếu thần thông ở con người: tự nhiên, dược chất, thần chú, tu luyện và thiền định.
Năng khiếu tự nhiên về giác quan đặc biệt có thể xuất hiện sau khi ra đời một thời gian hoặc do một biến cố nào đó từ bệnh tật, tai nạn... Cách dược chất dựa trên việc sử dụng những chất thuốc kích thích để tác động lên hệ thần kinh giao cảm và khai mở các luân xa. Những chất như vậy được chưng cất bằng phương pháp bí mật, có thể gây nguy hiểm nếu chế tạo không đúng. Cách thần chú sử dụng những câu nói chứa đựng các âm thanh đặc biệt, được phát âm lặp đi lặp lại nhiều lần. Việc tu luyện có nhiều dạng khác nhau, từ sự khổ hạnh để tăng cường ý chí cho đến các kiểu tập luyện kỳ lạ nhằm kiểm soát thể xác và tâm trí. Cách thiền định bao gồm hai khía cạnh là định trí và suy ngẫm, đây là cách khó nhất nhưng có thể cho hiệu quả tốt nhất. Việc thiền định đúng cách đòi hỏi sự cố gắng bền bỉ và vượt khó đặc biệt. Trong cuốn Cổ thư có đưa ra lời cảnh tỉnh đáng chú ý sau đây: “Quyền năng là những năng khiếu tự nhiên sẽ đến khi người tu luyện đạt tới một mức nhất định, đó là những phương tiện giúp người tu tiếp tục con đường của mình... Tuyệt nhiên quyền năng không phải là những điều cầu mong hay mục đích của việc tu hành. Kẻ nào ham mê thần thông sẽ gặp những hậu quả vô cùng tai hại”.
Sau đây sẽ xem xét hai loại giác quan đặc biệt hay gặp và thông dụng nhất là thị giác và thính giác.
Thị giác đặc biệt: Đây là “mắt thứ ba” tiềm ẩn ngoài hai mắt thường. Nó nằm ở vị trí điểm giữa hai chân mày (luân xa 6). Con mắt này còn có các tên gọi khác như thiên nhãn, thần nhãn, thấu thị, thị giác cao cấp... Sự tồn tại mắt thứ ba ở con người đã được nói tới trong kinh sách từ mấy ngàn năm nay.
Theo bà E.P. Blavatsky (tác giả cuốn sách Học thuyết bí ẩn, tiếng Nga, năm 1937), tổ tiên cổ xưa của loài người chỉ có mắt thứ ba là cơ quan thị giác duy nhất. Mọi người đều có khả năng nhìn xa trông rộng, bao gồm cả những sự vật ẩn kín. Thị giác của họ không có giới hạn và có thể nhìn thấy sự vật trong khoảnh khắc. Đối với những người như vậy không tồn tại khoảng cách, không có vật cản. Họ thấu hiểu các bí ẩn của tự nhiên. Hai mắt thường ở loài người và động vật mãi sau này mới phát sinh và trở thành một cơ quan thị giác vật lý. Còn mắt thứ ba ngày càng ít được dùng, cho nên dần dần nó bị thoái hoá và quên lãng.
Các loài sinh vật nói chung cũng có khả năng nhận biết bằng mắt thứ ba. Ví dụ, cú mèo có thể nhìn thấy dễ dàng trong đêm tối và nhận ra nguồn năng lượng phát sinh từ người hay vật nuôi sắp chết. Nhiều người tin rằng, chó nhìn thấy các sinh thể năng lượng nên phản ứng tự vệ bằng cách gầm gừ, sủa, bỏ chạy giật lùi. Loài rắn chuông có thể nhìn xuyên màn đêm. Nhiều con vật có thể thấy trước hiện tượng động đất, sóng thần v.v... Thậm chí, các cây cối cũng có biểu hiện phản ứng trước một mối nguy hiểm hay một tình cảm thân thiện. Nhờ sự cảm nhận tựa như mắt thứ ba mà chúng có thể giao tiếp với con người. Thổ dân của một số khu vực trên thế giới vẫn còn lưu giữ những tập tục rất kỳ lạ về đời sống hoà đồng với các loài động vật và cây cỏ.
Lưu truyền trong thế giới Phật giáo một câu chuyện cảm động nói về thiên nhãn. Trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca có một người tên là A Na Luật. Người này sinh trưởng trong dòng dõi vua chúa, vốn là em con chú của Đức Phật và là em ruột của vua Ma Ha Nam. Sau khi đạo sĩ Cồ Đàm chứng ngộ thành Phật, chàng thanh niên A Na Luật dứt bỏ con đường công danh để xuất gia theo Ngài.
Tuy đạo tâm của A Na Luật rất bền vững, nhưng có một lần ông đã bị Đức Phật quở trách nặng nề. Trong một buổi giảng kinh, Đức Phật đã nhìn thấy A Na Luật ngủ gật nên Ngài đã lấy hình ảnh loài sò ốc để răn dạy tu sĩ này. Có lẽ vì hối hận, A Na Luật đã thề nguyện với Đức Phật “từ nay về sau cho đến lúc chết con không ngủ trở lại nữa”. Hậu quả là chỉ ít lâu, hai mắt của ông hoàn toàn bị mù. Với lòng từ bi vô hạn, Đức Phật đã khai mở thiên nhãn cho A Na Luật. Nhờ đó mà ông có thể “thấy khắp mọi nơi, không phân biệt gần xa và trong ngoài”. Khả năng thiên nhãn đã giúp A Na Luật hành đạo hiệu quả và giúp đỡ những tu sĩ khác.
Một trong những người Mỹ đương đại có mắt thứ ba sáng tỏ là Barbara Ann Brennan - nhà khoa học, nhà tâm lý trị liệu và chữa trị thực hành. Khả năng thấu thị của bà do sự kết hợp bẩm sinh và tự rèn luyện. Bà Brennan lớn lên trong một trang trại ở Wisconsin với tuổi thơ rất bình dị. Vì không có nhiều bạn nên cô bé Barbara thường tha thẩn chơi và ngồi im lặng một mình hàng giờ trong rừng, tập hoà mình vào cảnh vật xung quanh. Giữa những khoảnh khắc yên tĩnh trong rừng, cô bé đi vào một trạng thái bành trướng ý thức, trong đó có thể thấy được những sự vật vượt ra khỏi giới hạn trải nghiệm thông thường. Bà Brennan còn nhớ là đã tập bịt mắt đi lại trong rừng và nhận biết được từng cây cối, từng con vật nhỏ mà không cần nhìn. Dần dần, bà đã phát hiện ra rằng, mọi vật đều có trường năng lượng bao quanh, phần nào giống như ánh sáng của ngọn nến; mọi vật liên kết với nhau bởi trường năng lượng đó và tất cả mọi thứ đều tồn tại giữa đại dương năng lượng bao la.
Nhờ thị giác đặc biệt, bà Brennan đã thực hành có hiệu quả việc chữa bệnh bằng năng lượng sinh học, khả năng đó thể hiện ở những điểm sau đây:
· Thấy rõ cấu trúc màu sắc và biểu hiện bệnh lý của các vùng thuộc cơ thể năng lượng con người;
· Nhìn thấy các khối u, thậm chí cả các vi khuẩn trong thân thể bệnh nhân;
· Có thể nhìn thấy các sinh thể năng lượng thuộc một số chiều thực tại phi vật lý.
Trong cuốn sách Bàn tay ánh sáng, bà Brennan cũng đã đề xuất một quy trình tập luyện khá chi tiết và toàn diện để những ai quan tâm đều có thể tự thực hành khai mở mắt thứ ba của mình.
Thính giác đặc biệt: Cũng như đối với thị giác, ở con người tiềm ẩn khả năng đặc biệt về thính giác, đó là “tai thứ ba”, nó nằm tại vị trí họng (luân xa 5). Điều này đã được rất nhiều người khẳng định bằng trải nghiệm thực tế. Để minh hoạ, dưới đây sẽ xét một trường hợp phát sinh thính giác đặc biệt do sự cố điện giật, đã xảy ra với ông Nguyền Văn Chiều cách đây gần ba mươi năm.
Ông Chiều là con một gia đình nông dân, sinh năm 1952, ở thôn Trung, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Khi lớn lên ông đi làm công nhân tại công ty Cơ giới 6, thuộc xí nghiệp Liên hiệp cầu Thăng Long.
Ngày 10 tháng 7 năm 1976, ông Chiều được giao nhiệm vụ sửa chữa đường dây tải điện. Trước khi ông trèo lên cột điện để làm việc, trạm phân phối đã cắt điện. Trong thời gian ông đang nối dây thì người gác đã tự ý đóng cầu dao và gây nên một tai nạn thảm khốc. Ông Chiều đã bị điện thế 6000 vôn giật, rơi từ đỉnh cột cao 12 mét xuống đất và mê man bất tỉnh. Sau chín ngày “chết lâm sàng”, tự nhiên ông hồi tỉnh và nhận thấy ở mình có một số khả năng khác thường: nghe được một lúc từ không trung nhiều tiếng nói lộn xộn bí ẩn và nhìn thấy nội tạng của những người ngồi xung quanh; khi tập trung sự chú ý vào một thứ tiếng hay một bộ phận thì âm thanh hay hình ảnh đó trở nên rõ nét. Đặc biệt vào khoảng 23 giờ hàng ngày, ông có thể nghe được “sóng” âm thanh dạy cách chữa bệnh bằng mắt và tay. Ông đã ghi chép lại những gì bổ ích nghe được và đã tự chữa cho mình ngay trong thời gian còn nằm điều trị tại bệnh viện. Nhiều năm qua, khả năng chữa bệnh không dùng thuốc của ông Chiều đã được áp dụng có hiệu quả, đặc biệt là sau khi thành lập Trung tâm nghiên cứu tâm năng dưỡng sinh - phục hồi sức khoẻ vào ngày 7 tháng 12 năm 1995 do ông làm Giám đốc.
Cũng đã có những trường hợp tương tự xảy ra ở Việt Nam và các nước khác. Một số ví dụ:
· Sau khi bị chó dại cắn 17 ngày, virus dại đã thâm nhập lên não, sự sống tưởng chừng như sắp chấm dứt thì bỗng nhiên cô gái Phan Thị Bích Hằng (Ninh Bình) tỉnh lại và phục hồi sức khoẻ. Dần dần ở Bích Hằng xuất hiện khả năng đặc biệt: có thể nhìn thấy và giao tiếp bằng lời với các vong linh. Nhờ đó mà cô gái này đã giúp mọi người tìm được hàng ngàn bộ hài cốt thất lạc trong lòng đất. Khả năng phi thường của Bích Hằng đã được thừa nhận rộng rãi.
· Vào khoảng năm 1923, một tai hoạ thảm khốc bởi trận cuồng phong đã quật ngã và cuốn theo cát bụi cô bé Vanga. Hậu quả là đôi mắt của cô bé 12 tuổi này bị viêm nhiễm rất nặng và bị mù hẳn sau đó 2 năm. Bù lại, cô gái Vanga dần dần đã có khả năng đặc biệt về thính giác, thị giác và đoán nhận thông tin liên quan đến số phận của hàng vạn người.
· Vào năm 1978, do tai nạn điện 380 vôn, một nữ công nhân 37 tuổi là Yulia Vorobiova (thành phố Donesk, Cộng hoà Ucraina) đã mất hết dấu hiệu sống nên bị đưa vào nhà xác. Sau vài ngày, tình cờ người ta đã phát hiện ra bà cử động và được chuyển ngay đến bệnh viện để điều trị. Rồi bà đã trở lại sống bình thường. Điều bất ngờ là từ đó, Yulia bắt đầu nhìn thấy các bộ phận trong thân thể con người...
Người ta thường đặt ra câu hỏi: Vì sao sau các biến cố kinh hoàng nào đó, con người lại có khả năng đặc biệt về thị giác, thính giác và những thứ khác? Các hiện tượng phi vật lý đó dựa trên nền tảng nào?
Theo bà Brennan, tất cả các cơ thể năng lượng đều có hệ thống giác quan liên hệ trực tiếp với những luân xa chính được đánh số từ 1 đến 7 (xem phần 4). Cần nhắc lại rằng, mỗi “luân xa” hay cuộn xoáy là cánh cửa mà qua đó diễn ra sự trao đổi năng lượng với các chiều thực tại của vũ trụ. Toàn bộ các luân xa chính, luân xa phụ và huyệt châm cứu là những lối mở cho năng lượng đi vào và đi ra khỏi trường hào quang con người.
Sự tương tác năng lượng (sóng) qua các luân xa chính tạo nên những hình thái ý thức ở dạng nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy, cảm thấy hay nhận biết trực tiếp tuỳ thuộc vào mức độ “khai mở” luân xa. Thuật ngữ khai mở ở đây phản ánh đúng theo nghĩa đen. Thông thường, lối mở của mỗi luân xa vào các chiều thực tại năng lượng ít nhiều đều bị tắc nghẽn nên hầu hết chúng ta chỉ có hệ thống giác quan vật lý hoạt động. Khi xảy ra biến cố tai nạn, bệnh tật hay các nguyên nhân khác, một số luân xa có thể được khai mở với những chiều thực tại nhất định (từ thấp đến cao), dẫn đến sự mở rộng các hình thái ý thức tương ứng về nghe, nhìn, cảm nhận hay nhận biết trực tiếp. Ví dụ, một cá nhân khi được khai mở luân xa 5 và luân xa 6 với chiều thực tại NF1 thì người đó có thể nhìn thấy hình bóng và nghe thấy tiếng nói của các vong linh. Lưu ý là ngoài chức năng nghe âm thanh, giác quan ở luân xa 5 có thêm chức năng vị giác và khứu giác; còn giác quan ở luân xa 1 - chức năng xúc giác thuộc các chiều thực tại năng lượng.
Đọc thông tin về người khác
Trong số những người nổi tiếng thế giới của thế kỷ 20 với khả năng “đọc” thông tin về người khác liên quan đến các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ và sẽ xảy ra trong tương lai, phải kể đến đầu tiên là bà Vanga. Đứng trên phương diện vật lý, hiện tượng này quả là vô cùng bí ẩn. Nhưng dưới góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại và các quá trình năng lượng diễn ra ở những bình diện vật chất không nhìn thấy, tất cả các hiện tượng bí ẩn như vậy đều có thể hiện thực.
Để lý giải hiện tượng đọc thông tin quá khứ có quan hệ với một người không quen biết nào đó, cần phải chỉ rõ các yếu tố sau đây: vật mang thông tin, sự hình thành thông tin và cơ chế đọc thông tin.
Vật mang thông tin: Các nhà nghiên cứu tâm linh từ lâu đã biết rằng, thông tin về một sự vật trong quá khứ có liên quan đến người chứng kiến đã được ghi lại và lưu giữ bởi những vi cấu trúc của loại vật chất tinh tế, được gọi là năng lượng tâm thần. Đây là loại vật chất - sóng thuộc các chiều thực tại không nhìn thấy. Rất có thể, những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin về các sự kiện riêng lẻ (gọi tắt là “vi lượng tin riêng”) của một cá nhân dần dần sẽ được kết hợp với nhau thành những vi cấu trúc năng lượng chứa thông tin tổng thể về các sự kiện đã xảy ra (gọi tắt là “vi lượng tin chung”). Có vô số phần tử vi lượng tin chung hiện hữu trong các cơ thể không nhìn thấy của một cá nhân và dễ dàng thấm vào bất cứ vật nào mà người đó nắm giữ.
Giả định về sự tồn tại những phần tử vi lượng tin chung có lẽ phần nào cũng giống như sự có mặt các gen di truyền trong những tế bào sinh vật. Thực tế cho thấy rằng, năng lượng tâm thần có thể tồn tại nhiều ngày, nhiều tháng hoặc nhiều năm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà người chứng kiến trải qua.
Sự hình thành thông tin: Trước hết cần nói rõ là mỗi sự vật liên quan đến một cá nhân thường xảy ra dưới sự hiện diện ý thức của người đó - ý thức chứng kiến.
Việc hình thành thông tin về một sự vật đang diễn ra ít nhiều tương tự như việc ghi hình các cảnh trong một bộ phim. Mọi chi tiết có liên quan đến sự vật đều được lưu giữ bởi quá trình cấu trúc hoá năng lượng tâm thần theo một cách thức mà chúng ta chưa biết. Kết quả là xuất hiện những phần tử vi lượng tin riêng và tiếp sau là những phần tử vi lượng tin chung. Nguồn lực tạo nên quá trình đó phát sinh từ ý thức chứng kiến của người tham gia. Độ rõ và độ bền của thông tin được ghi lại phần lớn phụ thuộc vào sự tập trung ý thức của người chứng kiến. Như vậy, nếu sự vật diễn ra với một cá nhân đang ngủ (vô ý thức hoàn toàn) thì không có thông tin gì được lưu giữ ở người đó.
Cơ chế đọc thông tin: Mọi quá trình mà con người nhận biết thế giới sự vật đều liên quan đến hiệu ứng của các loại sóng: hình ảnh phát sinh từ sóng ánh sáng, âm thanh phát sinh từ sóng âm v.v... Có lẽ cơ chế đọc thông tin từ những vi lượng tin (riêng hoặc chung) phải dựa trên việc cộng hưởng với năng lượng - sóng tâm thần. Đó là quá trình dò - cộng hưởng các cấu trúc năng lượng đã được ghi, giống như máy đọc tín hiệu video. Nhà ngoại cảm có thể tiếp xúc với năng lượng tâm thần một cách trực tiếp từ người yêu cầu hoặc gián tiếp qua vật nhiễm như đồ dùng hay thực phẩm.
Cần lưu ý rằng, một số người với khả năng đặc biệt hoặc khi ở trạng thái xuất thần còn có thể đọc được thông tin tiền kiếp về một sự kiện của chính mình. Trong trường hợp đó người nhận thông tin dường như đang trực tiếp trải qua hoàn cảnh cũ nhưng ở một thang bậc thời gian khác. Điều này gợi lên rằng, sự du hành của con người vào quá khứ chỉ có thể diễn ra theo nghĩa như một khán giả tập trung lý trí và cảm xúc cao độ để xem bộ phim mà trong đó bản thân nhập vai chính rất thành công.
Khác với thông tin về những gì đã xuất hiện, cơ chế hình thành thông tin về một sự cố chưa xảy ra ít nhiều có quan hệ với các quá trình tiền định của số phận con người. Đây là một vấn đề có vẻ bề ngoài rất bí ẩn nhưng phù hợp logic nếu xét theo góc độ thuyết vũ trụ đa chiều thực tại. Nói một cách ngắn gọn, số phận của mỗi người được quyết định bởi ba yếu tố: tiền định, chủ quan và khách quan, trong đó tỷ lệ ảnh hưởng giữa chúng có thể bị thay đổi theo thời gian và không gian. Sự tồn tại thông tin về tương lai nằm trong bối cảnh sau đây:
· Thông tin về tương lai xa và hệ trọng là do tiền định;
· Thông tin về tương lai gần và chi tiết hoá là do suy nghĩ;
· Không phải tất cả các khía cạnh của một sự cố sẽ diễn ra đúng như thông tin đã được dự đoán.
Các dữ liệu thực tế cho thấy rằng, thông tin về tương lai thường được đưa ra ở mức độ chung chung và quan hệ với những sự cố nổi bật của cuộc đời con người. Trong khi đó, những thông tin về quá khứ lại rất cụ thể, thậm chí chính xác đến từng chi tiết vụn vặt.
Suy nghĩ và trực giác
Theo cách hiểu thông thường, từ “suy nghĩ” được dùng chỉ sự hoạt động của trí óc để tìm hiểu và giải quyết vấn đề, từ một số phán đoán và ý nghĩ này đi đến những phán đoán và ý nghĩ khác có chứa tri thức mới. Như vậy, việc suy nghĩ đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định tuỳ thuộc vấn đề được xét và khả năng trí tuệ của người giải quyết. Trong khi đó, nghĩa của từ “trực giác” nhằm chỉ sự hiểu biết trực tiếp các vấn đề mà không cần suy nghĩ. Rõ ràng, hiện tượng trực giác diễn ra một cách tức thời hoặc trong một khoảng thời gian rất ngắn.
Đặc điểm của hai bán cầu não: Bộ não người là một cấu trúc sinh học cực kỳ phức tạp, tinh vi và vô cùng bí ẩn. Về chức năng, nó được phân chia thành bán cầu não phải và bán cầu não trái. Sự đa dạng trong cuộc sống mỗi cá nhân nói riêng và toàn bộ xã hội nói chung được quyết định phần lớn bởi vai trò trái ngược nhau của các bán cầu não.
Thực tế chỉ ra rằng, các bán cầu não người điều khiển chéo hai cánh tay của thân thể: bán cầu não phải điều khiển tay trái, còn bán cầu não trái - tay phải. Bán cầu não phải có quan hệ với các thuộc tính: trực giác, phi logic, phi lý, nghệ thuật, lãng mạn, nữ tính, siêu hình, tưởng tượng, huyền bí, tâm linh; trong khi đó bán cầu não trái thể hiện các đặc trưng: suy nghĩ, logic, hợp lý, kỹ thuật, thực dụng, nam tính, hữu hình, cụ thể, phi huyền bí, vật chất... Tâm trí con người được thể hiện ở bình diện vật lý qua bộ não, cho nên nó dường như được cấu thành từ hai phần mâu thuẫn nhau và luôn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau. Khi nhận biết điều đó thì mỗi người có thể trung hoà ngay chính hai phần tâm trí của mình để làm cho cuộc sống hàng ngày bớt căng thẳng nội tại và ứng xử bên ngoài dễ dàng hơn.
Người ta cho biết rằng, giữa hai bán cầu não có một cầu nối rất mảnh. Nếu chiếc cầu nối bị hỏng do tai nạn, sai sót sinh lý hay một nguyên nhân nào khác thì một cá nhân sẽ trở nên bất thường, người đó sẽ có hai tính cách hầu như độc lập nhau - hiện tượng ảo giác hay nhân cách mâu thuẫn sẽ xảy ra. Một người như vậy có thể sống ở phần này hoặc phần khác của tâm trí mà không nhớ được những gì đã xảy ra ở phần bên kia cầu nối. Nếu cầu nối được “gia cố” vững chắc đến một mức nhất định thì sẽ xảy ra sự thể hiện hợp nhất hai phần tâm trí, trong trường hợp đó con người có thể dễ dàng đạt đến trạng thái an bình bền vững.
Một trong những dấu hiệu nổi bật mà dựa vào đó có thể xem xét mức độ thể hiện trong thực tế của các bán cầu não người là thói quen thuận tay trái hay thuận tay phải. Tồn tại giả thuyết cho rằng vào thời nguyên thuỷ, hai bán cầu não người đã có sự hoạt động cân bằng nên một cá nhân có thể đã sử dụng hai tay của mình ngang nhau. Rõ ràng, xã hội càng phát triển thì nhu cầu hoạt động của bán cầu não trái càng tăng lên, dẫn đến sự nổi trội của những người thuận tay phải. Trung bình có mười phần trăm trẻ em được sinh ra với khả năng thuận tay trái. Tỷ lệ thực tế phụ thuộc khá nhiều vào nền tảng văn hoá và mức độ phát triển vật chất của mỗi cộng đồng dân cư.
Thuyết tâm linh khẳng định rằng, sự biểu hiện thuận tay trái hay thuận tay phải của một đứa bé hầu như không phụ thuộc vào phần thể xác của nó, tức là không phải do di truyền sinh học tạo ra. Thuộc tính này được quyết định chủ yếu bởi hệ thống các cơ thể năng lượng của mỗi cá nhân hay bởi di truyền tâm linh. Mặt khác, một người có bán cầu não phải phát triển không nhất thiết dẫn đến thói quen thuận tay trái. Nhưng bán cầu não phải ở một cá nhân thuận tay trái thường là rất nhạy cảm và có thể phát huy tác dụng hơn bán cầu não trái.
Như trên đã đề cập đến, khả năng trực giác của con người được thể hiện qua bán cầu não phải, còn khả năng suy nghĩ - qua bán cầu não trái. Người ta tin là các phản ứng trí tuệ và hành động ở con người bằng con đường trực giác là tối ưu và diễn ra một cách tức thời, còn bằng con đường suy nghĩ - cục bộ và đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Do vậy, các vận động viên ở những bộ môn như đấu kiếm, bóng bàn, quần vợt, cầu lông, bóng chuyền, bóng đá... cần phải có một mức độ nhạy cảm vượt trội của bán cầu não phải. Chỉ khi đó họ mới có khả năng trực giác đủ để hành động một cách đúng đắn và mau lẹ trong mọi tình huống bất thần xảy ra.
Khả năng trực giác của con người đã được tận dụng tối đa trong các cuộc huyết chiến tay đôi bằng kiếm (kiếm thuật). Đối với tình huống đó, mỗi sơ suất trong hành động tự vệ của các phía có thể dẫn đến mất mạng. Bởi vậy, họ phải dày công rèn luyện cách hành động tức thời mà vẫn không mắc sai lầm chết người. Các đối thủ kiếm thuật có thể không phân thắng bại nếu cả hai đều hành động hoàn toàn bằng trực giác.
Phương pháp hiệu quả để nâng cao khả năng trực giác hay phát triển bán cầu não phải là thiền zen. Trong tư thế ngồi hoặc nằm, mỗi cá nhân có thể thực hiện thiền theo cách đơn giản nhất là không làm gì cả với sự chứng kiến (nhận biết, quan sát) chính thân vật lý và tâm trí của mình. Nhờ quá trình tập luyện lâu dài như vậy, phẩm chất tỉnh táo có thể được mở rộng và duy trì ngay cả khi con người có những hoạt động phức tạp tuỳ ý.
Quá trình thiền lâu dài còn có thể cho phép mỗi cá nhân nhanh chóng tự dập tắt mọi cơn nóng giận, buồn chán, lo sợ, bồn chồn bất an... Việc hành thiền với tiêu chí nâng cao phẩm chất tỉnh táo được coi là một phương sách thần diệu và đại chúng để lành mạnh hoá tâm trí, tình cảm và các hành vi của con người.
Các ý nghĩ: Ý nghĩ hay tư tưởng là người bạn gần gũi nhất của mỗi người. Tuy vậy, cho đến nay giới khoa học vẫn còn lúng túng trước nhiều câu hỏi về hiện tượng tư duy. Xuất phát từ cấu trúc đa chiều của cơ thể con người, có thể lý giải hàng loạt vấn đề khó hiểu như bản chất, nguồn gốc, thời gian tồn tại, vai trò cũng như khả năng tiềm tàng của các ý nghĩ
Như chúng ta đều biết, con người bình thường nghe và nhìn thấy các sự vật xung quanh nhờ sóng âm và sóng ánh sáng. Hơn nữa, con người cảm nhận được bản thân, gia đình, xã hội và thế giới tự nhiên là nhờ các dạng sóng và dao động với những tần số khác nhau. Dựa trên các kết quả quan sát được tích lũy nhiều năm, người ta cũng đã đi đến kết luận: ý nghĩ được não bộ nhận biết ở dạng sóng đặc thù, bao gồm các tia năng lượng mà những người với thị giác đặc biệt có thể nhìn thấy. Nói cách khác, khi con người suy nghĩ, diễn ra quá trình bức xạ năng lượng không nhìn thấy, nó cũng là một dạng của năng lượng tâm thần.
Từ hàng ngàn năm nay, nhiều danh nhân nổi tiếng thế giới đã cho biết, một số ý tưởng quan trọng của họ dường như tự nhiên xuất hiện. Điều tương tự cũng thường xảy ra: con người có thể “chộp” được ý nghĩ nào đó mà không đòi hỏi quá trình tư duy. Phải chăng các ý nghĩ có thể tồn tại trong không gian xung quanh chúng ta? Ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu khẳng định điều đó.
Khởi đầu tạo mầm cho một ý nghĩ ở con người diễn ra không phải trong bộ não (thân vật lý), mà là tại thể trí (cơ thể năng lượng thứ ba). Mỗi ý nghĩ là một dao động đặc trưng. Quá trình dao động đó sẽ hình thành nên một thực thể năng lượng tương ứng với chất liệu lấy từ bình diện thể trí (nếu nội dung có tính trí tuệ), từ bình diện thể vía (nếu nội dung có tính cảm xúc) hoặc từ cả hai bình diện đó (nếu nội dung có tính hỗn hợp). Thực thể năng lượng của ý nghĩ cũng có biểu hiện sống ở mức thấp - tự tồn tại và tự trao đổi thông tin hạn chế. Thực thể đó được gọi là hình tư tưởng và thường có mặt trong thể vía. Từ đây, sự rung động của mỗi hình tư tưởng sẽ được lan truyền tới não mà kết quả là con người nhận biết được nội dung tương ứng của ý nghĩ. Vì vậy, các nhà nghiên cứu tâm linh coi thể vía có vai trò trung gian giữa thể trí và bộ não.
Ở một cá nhân thường có hai loại ý nghĩ. Các ý nghĩ hoạt tính do thể trí của người đó tạo ra. Chúng là những dao động xác định, được lan truyền từ thể trí qua thể vía. Tại đây các hình tư tưởng tương ứng được hình thành để làm nhiệm vụ trung chuyển nội dung ý nghĩ vào bộ não.
Các ý nghĩ thụ tính của một cá nhân không phải do thể trí của mình tạo ra. Chúng được não tiếp nhận từ những hình tư tưởng bên ngoài có mặt trong không gian và đã xâm nhập vào thể vía của người đó.
Mỗi người luôn bị bao bọc bởi một lớp hình tư tưởng và chúng liên tục “giao tiếp” với môi trường. Nhiều người tin vào quy luật sau đây: các hình tư tưởng thu hút nhau nếu cùng loại và đẩy nhau nếu khác loại. Bởi vậy, những người cao thượng thu hút về mình các hình tư tưởng yêu thương, nhân từ và tốt đẹp, còn những kẻ xấu - thu hút các hình tư tưởng thù hận, tham lam và tội lỗi.
Điều đặc biệt đáng chú ý là các hình tư tưởng có vai trò hướng tới thúc đẩy thực hiện những gì mà con người đã suy nghĩ. Tùy thuộc vào cường lực suy nghĩ, các hình tư tưởng có thể chỉ “sống” trong chốc lát hoặc kéo dài hàng ngàn năm. Người ta cho rằng, lớp khí quyển ở gần mặt đất hiện nay chứa hàng tỉ tỉ hình tư tưởng.
Bản chất của trực giác: Khi đi sâu tìm hiểu thuộc tính đặc trưng của các yếu tố cấu thành con người theo mô hình tâm linh (xem phần 4) sẽ thấy rằng, thân vật lý có bản năng sinh tồn, tâm trí có tiềm năng trí tuệ và tâm thức có trực giác hoàn hảo. Như vậy, ngoài bản năng của thân vật lý, con người còn có thể suy nghĩ và sử dụng trực giác để giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống. Nhưng khác với cách suy nghĩ, một hành động trực giác diễn ra bất thần tựa như ở ngoài dòng chảy thời gian. Vì sao vậy?
Để lý giải tính tức thời của trực giác, cần phải nhớ lại trạng thái hoà đồng của một vị Phật (xem phần 5). Đó là trạng thái mà tâm trí cá nhân nhường chỗ cho tâm trí vũ trụ vận hành, tất cả những gì tồn tại đều diễn ra một cách hợp nhất trong bối cảnh “ở đây và bây giờ” - không gian và thời gian không còn tính tương đối. Như vậy, trực giác chính là sự thể hiện tính toàn bộ của cái Một trong mối quan hệ với cá thể con người. Ẩn dụ sau đây sẽ minh hoạ thêm điều đó.
Chúng ta biết rằng, con người là một “tiểu vũ trụ”. Giả sử hai tay của một cá nhân có tâm trí riêng với khả năng suy nghĩ, hành động và có thể “chứng ngộ”, tức là có thể hoà đồng tâm trí riêng với tâm trí của người đó. Khi chưa “chứng ngộ”, sự hoạt động có suy nghĩ của mỗi tay diễn ra một cách chậm chạp và độc lập nhau. Khi tay này đối phó với tay kia, nó cần thời gian để suy nghĩ. Nhưng nếu tâm trí riêng của hai tay hoà nhập với tâm trí cá nhân thì sự hoạt động đối phó như vậy sẽ diễn ra chính xác và tức thời...
Với ý nghĩa là một tiểu vũ trụ, mỗi con người chứa hàng tỷ cá thể tế bào mà đến lượt chúng dường như cũng có trí tuệ riêng ở mức này hay mức khác. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến ý tưởng rằng, mỗi tế bào hoạt động như một thực thể có trí tuệ độc lập trong mối quan hệ hoà đồng với trí tuệ chung của cơ thể. Nói một cách hình tượng, mỗi tế bào là “tiểu phật” thuộc một tiểu vũ trụ tương ứng. Do đó, mỗi cơ thể có khả năng hoạt động hài hoà và rất hiệu quả.
Rõ ràng, trực giác hoàn hảo chỉ hiện hữu ở các vị Phật vì họ đã hoà nhập với cái Một. Khả năng trực giác từng phần cũng hay xuất hiện ở những người chưa chứng ngộ khi tâm trí của họ tạm thời dừng hoạt động do thả lỏng hoàn toàn hoặc tập trung sự chú ý cao độ vào một điều gì đó. Nói đến cùng, mục đích của một tu sĩ Phật giáo là áp dụng mọi phương sách hữu hiệu để nâng cao khả năng trực giác của bản thân từ chỗ có biểu hiện gián đoạn tiến tới liên tục.
Tình yêu là gì?
Tình yêu là một hình thái của sự nhận biết. Theo bà Brennan, tình yêu được cảm nhận bởi một giác quan đặc biệt thuộc luân xa tim (luân xa 4).
Cũng như với các hình thái nhận biết khác, tình yêu không thể được định nghĩa bằng lời dưới bất kỳ hình thức nào, cách duy nhất để biết tình yêu là cảm nhận nó. Nhưng tồn tại rất nhiều chỉ dẫn mà nhờ đó chúng ta có thể hình dung phần nào sự kỳ diệu của tình yêu. Dưới góc độ tâm linh, tình yêu ở một cá nhân nảy sinh khi người đó có sự hoà nhập sâu sắc với cội nguồn vũ trụ (bình diện tâm thức); trong trạng thái như vậy diễn ra sự tan chảy cái “tôi” của đối tượng. Tình yêu là một nhu cầu đối với mọi người vì chúng ta đã và đang bị chia lìa khỏi cội nguồn vũ trụ và luôn khao khát được hội nhập trở lại. Bản ngã hay cái riêng của mỗi cá nhân tạo nên rào chắn năng lượng giữa con người và toàn thể sự tồn tại (cái Một). Chính bản ngã gây ra hiệu ứng tựa như trở kháng ngăn cản năng lượng tình yêu chuyển vận từ bản thể (bình diện tâm thức) tới con người. Khi có sự hài hoà toàn bộ giữa con người và thiên nhiên thì điều bản chất sâu xa sau đây sẽ được khẳng định: tình yêu đồng nghĩa với sự sống.
Tình yêu có thể nảy sinh ở con người bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng vì sao trong cuộc sống thường ngày, tình yêu dễ dàng xảy ra giữa nam và nữ? Và đặc biệt là đối với những người trẻ tuổi?
Dễ thấy rằng, nam và nữ là hai nửa đối cực âm dương mà khi có quan hệ tương phản nhất định thì sẽ dẫn đến sự trung hoà cái tôi của một phía (tình yêu đơn phương) hoặc cả hai phía (tình yêu song phương); điều này dễ xảy ra hơn ở lớp trẻ vì bản ngã của họ còn ít và chưa bền vững. Với hiện tượng tình yêu, người nam và người nữ chỉ đóng vai trò xúc tác hay cánh cửa để mỗi cá nhân đi qua đó tiếp xúc trực tiếp với bình diện tâm thức.
Có thể thấy rằng, tình yêu làm nảy sinh nỗi sợ lớn vì mỗi cá nhân không dễ dàng cho phép đánh mất chính mình. Tất cả chúng ta chỉ có thể bắt rễ vào cội nguồn nguyên thuỷ nếu cái tôi biến mất (tạm thời hoặc vĩnh viễn), và đó là cách duy nhất để tình yêu nảy sinh. Qua con đường tình yêu, con người bị thu hút về cội nguồn nguyên thuỷ vì thiếu sự tiếp dưỡng của nó, nhưng vào lúc cái tôi bắt đầu tan chảy thì lại cảm thấy hốt hoảng. Đó là thế tiến thoái lưỡng nan mà mỗi người khi tìm kiếm tình yêu sẽ phải giáp mặt, hiểu biết, chuyển hoá và cố gắng vượt qua. Như vậy, tình yêu và nỗi sợ là hai điều trái nghịch triệt tiêu lẫn nhau. Cũng cần nói thêm rằng, các cảm xúc yêu và ghét chỉ là hai cực của cùng một dạng năng lượng: năng lượng yêu có thể được chuyển đổi thành năng lượng ghét và ngược lại. Chúng là phần bù của nhau tại các bình diện của tâm trí.
Con người có thể đạt tới tình yêu với mức độ khác nhau bằng nhiều con đường: tình yêu khác giới, tình yêu cảnh vật thiên nhiên, tình yêu văn học nghệ thuật, tình yêu thể thao, tình yêu qua xuất thần hoặc thiền định. Tình yêu sẽ nảy sinh ở con người khi có mặt một số yếu tố nhất định mà nhờ đó bản ngã của mỗi người tan biến. Xét một vài ví dụ.
Mối tương quan âm dương giữa nam và nữ là đặc trưng cơ bản dẫn đến tình yêu khác giới. Có lẽ trong thời đại nguyên thuỷ, mọi người ít quan tâm đến tình yêu nói chung vì họ đã được thoả mãn điều đó một cách tự nhiên, giống như chúng ta hít thở không khí hàng ngày. Khi nền văn minh nhân loại càng phát triển thì bản ngã của mỗi cá nhân cũng mạnh lên và hậu quả là con người ngày càng thiếu thốn tình yêu do sự cách trở cội nguồn nguyên thuỷ.
Một trong những đặc điểm của tình yêu khác giới ở thời đại văn minh là thiếu sự bền vững và dài lâu. Nguyên nhân chính là do sự thay đổi thường xuyên tổ hợp yếu tố của các đối tượng mà nhờ đó tình yêu nảy sinh. Cách duy nhất để kéo dài tình yêu là mỗi người phải tự hạ thấp bản ngã của mình khi sống cạnh nhau. Nhưng trong một số hoàn cảnh, việc làm tăng bản ngã của mỗi cá nhân lại là phương sách hữu hiệu để chấm dứt mối tình ngoài ý muốn.
Con người có thể đạt tới tình yêu rất sâu sắc qua con đường xuất thần. Đây là dạng tình yêu không phụ thuộc vào đối tượng khác. Cơ chế của điều này được lý giải khá đơn giản dưới góc độ tâm linh. Bằng kỹ thuật xuất thần cho thấy rằng, một cá nhân sau ba lần thực hiện tách sẽ đạt đến hệ thống các cơ thể năng lượng tinh tế, được thể hiện như một điểm ánh sáng bao quát mọi phía. Khi đó ý thức người xuất thần cảm thấy tràn ngập trong biển cả năng lượng tình yêu thuần khiết. Vì sao có trạng thái đó? Điều này trở nên dễ hiểu nếu chúng ta biết rằng, phần lớn cái tôi của mỗi người được lưu giữ trong thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên. Sau khi ba cơ thể đó bị tách ra, sự hiện hữu ý thức của người xuất thần tập trung vào hệ thống các cơ thể năng lượng còn lại - dường như một cá nhân mới được tạo thành với phẩm chất hầu như phi bản ngã, nên rất dễ dàng tiếp xúc với cội nguồn tình yêu chính là bình diện tâm thức.
Tình yêu ở con người cũng sẽ nảy sinh rõ rệt khi chuyển dời ý thức khỏi thân vật lý và hai cơ thể năng lượng đầu tiên bằng con đường thiền zen. Nhờ đó, mỗi người có thể điều khiển con trỏ tâm thức của mình tự do di chuyển trong bốn cơ thể đầu tiên để đạt đến cảm xúc tình yêu. Điều đáng chú ý là tình yêu từ thiền cũng không phụ thuộc vào đối tượng nào bên ngoài.
Các đạo sư cho biết rằng, một cá nhân ở trạng thái “phật” sẽ biết đến tình yêu thuần khiết và dường như tồn tại vĩnh hằng. Bất kỳ người nào cũng có tiềm năng đạt tới tình yêu cao thượng đó.
Làm thế nào để biết ai đó đang sống trong tình yêu? Theo thuyết tâm linh, sự hiện hữu tình yêu đích thực ở một cá nhân sẽ làm cho người đó có cảm nhận bản thân như một nguồn năng lượng rạo rực đang tuôn chảy ra mọi hướng. Bởi vậy, năng lượng tình yêu phải luôn được chia sẻ cho nhiều người và cả sự vật xung quanh để tránh những hậu quả tâm thần đáng tiếc.
$$
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com