Mộng tình chốn u linh
Thuở ấy, chốn làng Đông Vân nằm nép mình dưới chân núi Tản, nơi rừng rậm rạp, sương giăng mờ nhân ảnh mỗi độ hoàng hôn. Dân làng vốn quen với những chuyện âm u, đồng bóng, bởi nơi đây xưa kia là đất luyện phép của bao thầy pháp, đồng cốt. Trong ngôi chòi tranh nơi cuối rừng, có một người đàn bà được gọi là "bà đồng Bùi" – nổi tiếng mấy chục năm trị tà trừ yêu, người ta đồn rằng bà có thể gọi hồn, sai quỷ, bắt vía chỉ với một lá bùa chu sa và nhúm tóc người.
Khi cô đồng Bùi khuất núi, người làng đốt hương nghìn nén tiễn đưa. Mọi người tưởng rằng phép đồng sẽ theo cô về cõi, nhưng không – con gái của cô, tên gọi Hương, đã lặng lẽ tiếp nối nghiệp tổ, mở lại chòi đồng sau khi mãn tang mẹ. Nàng không xưng danh thầy, chẳng nhận mình là pháp nhân, chỉ lặng lẽ được gọi là "cô Hương" – như một chiếc bóng thơm lặng lẽ giữa chốn u linh.
Dù tuổi chỉ vừa hai mươi lăm, cô Hương đã có ánh mắt sâu như mặt nước giếng cổ, giọng nói trầm nhẹ mà nghe như lời từ kiếp trước. Dân làng kính sợ gọi nàng là "cô", xưng "con" mỗi khi bước vào chòi, dù có là đàn ông tóc bạc hay đàn bà ba đời tuổi mẹ nàng.
Năm ấy, mùa xuân chưa kịp nở hoa đã có tiếng trống lễ vang vọng. Nhà họ Phan ở đầu làng – dòng dõi gia giáo – dắt con gái út là thị Phương đến chòi của nàng Hương. Thị Phương đã ngoài hai lăm tuổi, da trắng như sáp, giọng nói như chuông bạc, nhưng tuyệt nhiên không gần gũi ai, cũng chẳng để mắt đến trai tráng. Mẹ Thị lo lắng, cho rằng con gái bị duyên âm quấn lấy, mới đưa đến nhờ Hương giải hạn.
Khi đôi mắt Hương lần đầu chạm vào thị Phương, nàng cảm thấy như thân thể mình bị hút xuống đáy giếng sâu. Thị Phương lúc ấy mặc yếm đào hoa, tóc thắt gọn, ngồi thinh lặng giữa gian giữa, mùi hương từ tóc thị như làn khói mỏng lan qua tấm vách gỗ.
Cô Hương không nói gì, chỉ khẽ gật đầu rồi mời vào gian cúng. Ánh lửa bập bùng soi lên làn da trắng mịn của Phương, làm tim cô Hương đập chệch một nhịp. Nàng biết: nhân duyên này… là nghiệt duyên.
Đêm hôm đó, sau khi mẹ Phương lui về gian ngoài, để con gái lại cùng cô Hương trong chòi âm, nàng bắt đầu “làm lễ cắt duyên âm” như lời đã hứa. Hương thắp ba nén nhang, mắt khẽ liếc nhìn Phương thị ngồi đó, gò má ửng dưới ánh đèn dầu, ánh mắt lơ đễnh như chẳng tin chuyện tà ma.
– “Thị từng nằm mộng thấy đàn ông lạ ôm mình chưa?” – Hương hỏi, giọng đều đều.
– “Chưa… mà nếu có, chắc cũng chả khiến tôi rợn như ngồi đây.” – Phương đáp, giọng nửa cười.
Hương khẽ mím môi, rồi bảo:
– “Cởi chiếc khăn đang đội trên đầu ra. Cô cần lấy tóc làm phép.”
Phương có phần ngần ngại, nhưng rồi cũng tháo khăn. Hương đưa tay, ngắt khéo một sợi tóc dài vương trên khăn, giấu vào ống tay áo. Đó là vật yểm đầu tiên.
Kế đó, nàng rót cho Phương một chén trà ngải. Cô Hương nói đó là trà tẩy khí âm, nhưng thật ra trong nước trà đã hòa sẵn một loại phấn linh chi trộn rễ ngải tím, thứ dùng để “dẫn hồn nhập hương” khi hành lễ.
Phương nhấp một ngụm, rồi để chén sang bên.
Chén trà ấy, Hương không đổ bỏ. Khi đêm xuống, nàng lấy chính dấu môi còn in trên vành chén, hơ qua khói đàn hương, đem giấu kỹ.
Giờ thì đủ lễ vật.
Đêm đó, sau khi Phương rời đi,Nàng thắp ba nén nhang, đặt chiếc khăn cùng sợi tóc vào lòng chiếc gương đồng,chén trà ấy sau được nàng dùng làm vật giữ tâm, đặt bên gương đồng đã úa màu thời gian. Gương này từng là của mẹ nàng – cố đồng Bùi – chuyên dùng để "nhìn tâm tình người sống". Hương cúi đầu niệm khẽ:
– “Nếu kiếp này lòng thị không ai buộc, thì để mị… nối sợi duyên bằng tay mình vậy.”
Khói nhang bắt đầu xoắn lại, tỏa từng vệt mỏng như tơ, quấn quanh chiếc khăn, sợi tóc và chiếc gương.Gió khẽ đẩy cánh cửa chòi kêu cót két, như âm thanh từ cõi u linh vọng về.
Sáng hôm sau, chẳng ai hay rằng, lễ "cắt duyên âm" đêm qua thực chất đã trở thành lễ buộc tâm, nhẹ như gió, mà sâu như móng rễ ngải.
Từ ngày đi cắt duyên âm về, thị Phương bắt đầu mộng thấy một người con gái trên đầu nàng đội mão phượng quang hoa, tròn như vành nhật nguyệt, viền quanh bằng chuỗi ngọc châu sa rủ xuống như màn mưa huyết lệ. Tua rua đỏ thắm buông lơi tựa những dải lụa đào từ chốn u linh, che nửa dung nhan, chỉ để lộ ánh mắt hồ ly ngũ sắc, khi mị, khi từ, khi như thôi miên hồn kẻ đối diện.
Chiếc áo giao lĩnh khoác ngoài là thứ gấm đỏ thẫm, óng ánh như máu khô, thêu hoa văn long phụng giao hòa bằng chỉ kim tuyến, lấp loáng trong ánh hỏa đăng. Tay áo rộng như cánh tiên sa, mỗi lần nàng cử động, tựa hồ linh khí lướt qua trần thế, khiến người trông cũng thấy lòng chao đảo.
Bên trong là lớp trường y tơ tằm xếp nếp, đỏ như ánh chiều tà vừa nhuộm sông, phủ dài đến đất. Lụa mềm rũ tựa làn khói từ miệng hương trầm đêm rằm tháng Bảy, mỗi bước đi như trôi giữa cõi mộng – không phân thật giả, âm dương giao nhau.
Bàn tay nàng, móng sơn đỏ thẫm, vung nhẹ như múa, vừa như ban phép, vừa như vẫy gọi oan hồn. Mỗi động tác đều khoan thai mà mang theo linh khí cổ xưa, tựa thể bóng người từ ngàn kiếp trước trở về nhân thế tìm lại một đoạn tình duyên chưa đoạn, luôn ngồi đầu giường chải tóc và hát:
– "Thị ngủ chưa, để mị vuốt tóc… chốn này chẳng lạnh đâu, nếu ta có nhau trong mộng."
Phương không dám kể, nhưng mỗi sáng tỉnh dậy đều thấy mắt đỏ hoe, tim thổn thức như vừa chia ly. Thị quay lại tìm cô Hương – miệng bảo là "để tạ ơn", nhưng lòng như bị kéo về phía chòi.
Lần thứ hai gặp nhau, mưa phùn lấm tấm trên mái tranh. Cô Hương bày trà sen, rót mời:
– Con đến rồi à. Hôm ấy lễ xong, cô vẫn nghĩ nhiều…
Phương gật nhẹ, ánh mắt nhìn thẳng:
– Dạo này… đêm nào con cũng thấy một người… là cô phải không?
Cô Hương khựng tay. Khói trà bay lên, quấn lấy mắt nàng. Nàng cúi đầu:
– Nếu con trách, cô xin gánh. Nhưng nếu con không sợ… thì hãy ở lại một lát.
Thị Phương im lặng. Một lát sau, nàng duỗi tay nắm lấy tay cô đồng:
– Cô đừng đi đâu. Mộng không đáng sợ… nếu là cô.
Nhưng bùa yêu không phải tình thật. Cô Hương biết điều đó. Nàng bắt đầu thấy lưng mình lạnh dần, hơi thở đứt quãng, mắt mờ dần mỗi khi Phương rời chòi.
Một đêm, trong lúc thắp hương, nàng thấy bóng mẹ hiện về trong gương cổ:
– Con đã chọn đường tà vì một chữ tình… Vậy con sẵn lòng trả giá?
Cô Hương gục xuống, tóc xõa, miệng bật máu:
– Nếu là nghiệt, con xin gánh. Chỉ xin… được thêm một kiếp bên thị.
Đêm trăng tròn cuối tháng, cô Hương yểm bùa lần cuối, gọi hồn Phương đến. Lúc ấy, Phương như kẻ mộng du, bước qua rặng tre, vào chòi đồng.
Hai người ôm nhau trong ánh đèn dầu leo lét. Phương đưa tay chạm má cô Hương:
– Cô đã ở trong mộng ta… giờ ta xin thật lòng.
Cô Hương khẽ thì thầm:
– Nếu là thật… thì để cô gỡ bùa… kẻo lỡ… ta mất nhau đời sau.
Rồi nàng đốt tấm bùa cuối, lửa cháy đỏ như máu. Phương ngã vào lòng nàng. Gió rít quanh chòi, cây thị nghiêng ngả.
Sáng hôm sau, người ta thấy chòi đồng trống trơn. Chỉ còn một gương cổ rạn nứt và hai dải tóc dài quấn lấy nhau.
Dân làng bảo, nếu ai quá yêu mà không dám nói, hãy đến soi vào gương trong chòi cũ. Nếu thấy mặt mình mờ dần trong gương, tức là mộng yêu đã bắt đầu.
Mà từ ấy, mỗi đêm trăng, người đi qua rặng tre vẫn nghe văng vẳng tiếng nữ nhân thì thầm:
– Mị chờ thị… chốn u linh không đáng sợ… nếu thị nắm tay mị đi qua kiếp này…
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com