Vua trẻ con.
Tôi nhìn tên sứ giả từ từ bước ra khỏi điện Thiên An. Không kiềm chế được một cái thở phào nhẹ nhõm.
Nhà Tống đang có nhiều vấn đề khác cần lo hơn. Nhà Liêu và Tây Hạ đang quậy tưng bừng ở biên giới phía bắc, trong nước thì đang thực hiện tân pháp của Vương An Thạch (1). Tôi còn đang lo hắn tới khiêu chiến. Đại Việt và nhà Tống sẽ có một trận đại chiến trên sông Như Nguyệt do Lý Thường Kiệt chỉ huy. Bây giờ ông đã ngoài năm mươi rồi, rất có thể cuộc chiến sẽ sớm diễn ra thôi. Nhưng may sao chưa phải bây giờ.
Tên sứ giả đó tới, mặt hầm hầm khiến nhiệt độ trong điện như tụt xuống. Lúc ánh mắt chúng tôi chạm nhau, tôi như muốn nín thở. Nhưng tên sứ giả đó chỉ chia buồn về việc của Thánh Tông, bàn về việc giá cả một số mặt hàng như trầm hương Chiêm Thành có tăng giá rồi đọc tờ chiếu và phong tôi làm Giao Chỉ Quận Vương.
Lúc đó tôi nghĩ "Mình đường đường là Hoàng đế, sao lão vua nhà Tống lại phong mình làm vương?" nhưng nhớ lại thì phụ hoàng tôi cũng nhận tước phong Nam Bình Vương và tất cả đều chỉ là nhận cho có, một chiến thuật ngoại giao mềm dẻo. Đồng thời, mẹ tôi đã chuẩn bị tất cả. Ngay bên dưới sàn, trước mặt tôi là một tờ giấy tổng hợp những lời tôi nên nói và cần nói khi sứ giả hỏi.
Mà sau khi nói thì viên thông ngôn sẽ phải chỉnh sửa lại. Sau này mà có chuyện gì thì cứ lôi thằng phiên dịch ra làm bia đỡ đạn.
"Xin lỗi ông anh, nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác." Tôi thầm thương cho số phận viên phiên dịch.
Tôi dùng thông dịch viên, còn mẹ tôi cứ như có bằng I e lờ tê ét (Ielts) tiếng Trung, bà và tên sứ giả cứ xì xà xì xồ qua lại còn tôi thì ngồi im bặt.
Nếu nhà Tống bận rộn với ngoại bang, thì Đại Việt cũng có vấn đề nội bộ.
Tôi có nói là trầm hương Chiêm Thành tăng giá chưa? Từ Chiêm Thành muốn tới Tống cần đi qua Nghệ An, chính xác là cái chỗ mà nhà họ Dương đóng cọc. Có vẻ chúng đã dựng lên hẳn mấy trạm thu phí trên đường đi buôn của thương nhân.
Sau khi diệt trừ đồng đảng trong vụ mưu hại tôi thì kiểm kê lại tình trạng ở Nghệ An và hủy bỏ một số chính sách hỗ trợ tăng cao quyền lực cho họ Dương của Thượng Dương Thái hậu. Sau khi điều tra những kẻ có thư từ qua lại với họ Dương, tôi đã quyết định tha bổng cho họ. Tất nhiên là sau khi bàn luận kỹ lưỡng với mẹ. Mẹ tôi bây giờ đã chính thức được ngồi lên chiếc ghế Hoàng thái hậu đường đường nhiếp chính. Bà bảo rằng việc không truy cứu trách nhiệm liên đới sẽ khiến những kẻ ấy phục tôi từ trong tâm.
"Vương An Thạch là ai ạ?" Tôi hỏi mẹ tôi trong một buổi tối ngồi học.
"Y là một nhà thơ rất có tài." Mẹ tôi đáp trong khi chỉ An Dân viết chữ. "Có thể sánh ngang với Tam Tô và Tăng Củng (2) cũng nên."
"Thế quan điểm chính trị của ông ấy là gì ạ?"
"Hửm?" Thái hậu nhướn mày nhìn tôi.
"Con không có ý trốn học đâu." Tôi cố thanh minh. "Con chỉ là... muốn biết về những nhân vật kiệt xuất ở nước ngoài thôi. À... biết người biết ta, trăm trận trăm thắng mà."
"Bệ hạ chăm học, là phúc của bách tính." Mẹ tôi khẽ mỉm cười. "Y vốn là con của quan lại địa phương, từ nhỏ đã được cọ xát với đời sống nhân dân nên y có thể hiểu cho nỗi lòng của dân."
"Thế còn những cải cách của ông ta?"
"Cải cách của y, bao gồm những lệ về quân sự như là biến dân thành lính, dạy võ cho dân... rồi dân bảo quản ngựa. Nếu làm ngựa chết thì phải đền."
"Con thấy cũng ổn mà." Tôi nhún vai. "Học võ có thể tăng cường sức khỏe, đồng thời cũng luyện được tác phong quân ngũ. Giống như thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc vậy. Khi cần sẽ có sẵn quân dự bị sẵn sàng chiến đấu."
"Đúng vậy đấy." Mẹ tôi gật đầu dù tôi nghĩ bà cũng không biết chính xác nghĩa vụ quân sự là gì.
Thời đại này thì tráng đinh, người từ trên hai mươi tuổi sẽ phải đi sưu dịch. Có thể là xây dựng, đào kháng sản hay làm dân phu cho binh lính. Không giống với nghĩa vụ quân sự ở thế kỷ XXI lắm.
"Nhưng vấn đề của biến pháp này nằm ở tài chính. Đầu tiên, nhà nước cho dân vay tiền, đến mùa thu hoạch thì trả lại kèm theo lãi. Dân đinh mà không đi sưu dịch thì được nộp tiền cho nhà nước. Nhà nước sẽ lấy tiền ấy để thuê người đi sưu dịch. Và ông ta mở một trạm buôn bán của nhà nước, ở đó sẽ thu mua hàng của dân và cho thương nhân vay vốn có lãi suất."
Bà ngừng lại một chút để tôi ghi chép và kiểm tra chữ viết của An Dân.
"Ở một mức độ nào đó, những cải cách ấy có thể giải quyết được vấn đề ngân khố nhà Tống đang dần có dấu hiệu giảm sút vì chiến tranh, nhưng đồng thời cũng có ảnh hưởng đến quý tộc nên không được ủng hộ nhiều cho lắm. Hay chính xác hơn là quý tộc đều phản đối ông ta (3)."
"Nhưng nó có lợi cho dân chúng mà đúng không?"
"Cũng không hẳn." Thái hậu rót trà. "Bệ hạ biết đấy, ngân khố nhà Tống đang khá khó khăn, nên họ đang cố đưa ra một lãi suất khá cao để bù vào quốc khố của mình. Tuy nhiên, dân cày ruộng cơm còn không đủ ăn, sao có thể chịu được lãi suất của nhà nước."
"Ồ..." Tôi thấy cái này khá giống với tình trạng vay nặng lãi với tính dụng đen ở thời hiện đại. Có điều, chủ nợ lại chính là triều đình trung ương. "Thế nếu chúng ta áp dụng chúng vào Đại Việt thì sẽ thế nào ạ? Chúng ta hiện tại không có chiến tranh, quốc khố cũng dư dả, nếu ta áp dụng biến pháp này với mức lãi suất thấp thì có hiệu quả hay không?"
"Trong thời gian đầu thì có." Mẹ tôi nhấp một ngụm nước. "Nhưng dần dần, giới quý tộc sẽ không bằng lòng đâu. Giới thương nhân cũng sẽ phản đối biến pháp này vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Đồng thời về lâu về dài cũng sẽ ảnh hướng đến dân chúng, không sớm thì muộn cũng sẽ gây ra bất bình, và có thể là khởi nghĩa, binh biến, nội chiến."
"Con hiểu rồi." Tôi gật gù.
"Ngoài ra, ông ta cũng có cho cải cách thi cử." Mẹ tôi nói tiếp. "Dần dần bớt lệ thuộc vào kinh thư của Khổng Tử."
"Nhưng như thế là tiến bộ đấy." Tôi vội nói. "Thời của con, thi cử quan trọng là Toán Lý Hóa Sinh, ai còn học sách Khổng Tử nữa."
"Vấn đề là triều đình nhà Tống hầu hết đều là những quan lại theo Nho học." Mẹ tôi tỏ ra đã quen với mấy lời nói vớ vẩn của tôi. "Đùng một cái cải cách, đâu phải muốn là đổi ngay được. Phái cựu đảng của Tư Mã Quang đâu có dễ mà để yên. Họ không thể chỉ vì giải quyết vấn đề nhất thời mà từ bỏ những thứ đã ăn sâu vào tiềm thức cả nghìn năm được. Trừ phi... có một biến cố nào đó khiến cả nước Tống thay đổi."
"Thế tức là, biến pháp của Vương An Thạch có thể áp dụng trong thời gian ngắn khi đang rơi vào khủng hoảng, còn nước ta đang ổn định chính trị và kinh tế, với tầm nhìn chiến lược cho mười hay hai mươi năm tới thì khó mà duy trì, phải không?"
"Đúng là như thế đấy bệ hạ." Bà khen tôi. "Nhưng "biết người" rồi, bệ hạ nên tiếp tục "biết ta" đi."
"Dạ?" Tôi tròn mắt nhìn ông.
Bà liếc mắt vào quyển Đường Thư trên bàn.
"Con biết rồi." Tôi lại cầm quyển sách lên và tiếp tục đọc. Nhưng được ba chữ tôi lại ngước lên. "Mẹ có nghĩ Đại Việt và Tống sẽ có chiến tranh không?"
"Bệ hạ, chuyện này ta không có gan đoán đâu." Mẹ tôi làm nét mặt nghiêm trọng.
"Sắp có chiến tranh ạ?" An Dân hỏi.
"Không đâu," Tôi xoa đầu đứa bé. "mà nếu có, thì trẫm cũng sẽ bảo vệ em."
-
Chẳng cần Thái hậu đoán già đoán non, mấy tháng sau một gã tự xưng là tiến sĩ của nhà Tống, tên là Từ Bá Tường, đã cho người thông báo đến Đại Việt về việc chuẩn bị xâm lược của nhà Tống.
Hiện đang là mùa xuân năm Thái Ninh thứ ba. Thời tiết khá đẹp để đi du xuân, nếu ở thời hiện đại tôi sẽ cắm mặt vào học ôn thi giữa kỳ. Ở đây, tôi có thể đi thuyền ra giữa sông Hồng, vừa ngắm cảnh vừa học làm thơ. Nhưng không phải hôm nay. Tôi đang phải ngồi nghe mấy ông già cãi nhau.
"Xem ra chuyến viếng thăm trước chính là để thăm dò tình hình nước ta."
"Tên này liệu có tin được không?"
"Từ Bá Tường tuy là người có học thức, nhưng lại không có của đút lót cho quan lại bên trên nên không được làm quan."
"A di đà Phật. Thí chủ hãy bình chọn cho truyện đi."
"Hắn có vẻ bất mãn với triều đình nhà Tống."
"Nếu bắt hắn nộp cho vua Tống thì liệu có thể ngăn cuộc chiến này không?"
"Mạng của một tiến sĩ vô danh có thể ngăn được một cuộc chiến tranh không?"
"Giặc Chiêm còn đang quấy phá phía nam nữa, ta liệu có đủ binh lực để chống Tống không?"
"Cuộc chiến này là điều tất yếu rồi." Tôi đứng dậy. "Trẫm thấy, sớm hay muộn gì, ta và nhà Tống cũng phải đánh một trận lớn. Nếu chúng tới, ta sẽ dốc toàn bộ sức lực và của cải để bảo vệ đất nước!"
"Bệ hạ vạn tuế!" Quần thần quỳ xuống.
"Các vị ái khanh," Tôi nảy ra một ý tưởng. "trẫm đang có ý, đón Thái sư... đón Tả gián nghị đại phu Lý Đạo Thành về triều."
"Bệ hạ, Tả gián nghị đại phu đang trấn thủ Nghệ An..."
"Nhưng mọi chuyện đã ổn thỏa rồi đấy thôi." Tôi nhảy vào họng ông quan. "Thái úy còn việc binh, đâu thể gánh vác nhiều như thế được. Hơn nữa, qua sự việc giặc Chiêm cuối thu năm vừa rồi, chúng ta cũng thấy được, Thái úy đang lơ là việc quân binh. Trẫm nghĩ là do ngài đã quá bận rộn với việc nội trị. Nên trẫm muốn đón Thái sư về để lo việc quốc chính."
"Sắp sửa chiến tranh với nhà Tống rồi." Tôi nghĩ. "Lý Thường Kiệt ơi, tôi cắn rơm cắn cỏ lạy ông, lo mà sửa soạn quân đội đi, sắp đánh nhau to đấy."
"Bệ hạ," Một người bước ra. "thần có việc cần tấu." Người này trông khoảng ngoài bốn mươi, mái tóc ông đã điểm bạc. Ông giữ chức Hữu gián nghị đại phu từ thời cha tôi. "Sự việc vừa rồi, Tả gián nghị đại phu tuy không cố ý nhưng cũng đang mang tội. Nếu để ông ấy tiếp tục giữ chức Thái sư, thần e là quần thần sẽ khó mà phục tùng, hơn nữa, cũng sẽ để lại gương xấu cho đời sau noi theo. Thuộc hạ kiến nghị, nên để ngài ấy giữ chức Thái phó, tuy chức vị dưới Thái sư, nhưng vẫn ở hàng quan đầu triều, như thế vẫn xem như là giáng chức rồi ạ."
"A di đà Phật. Thái phó là là chức quan giữ nhiệm vụ nuôi dạy bệ hạ." Một nhà sư bước ra. "Lý Đạo Thành đã có tuổi, liệu có đủ minh mẫn để dạy bệ hạ không?"
"Ngài đang lo rằng vị trí của Giác Hải thiền sư sẽ bị ảnh hưởng sao?" Một viên quan trẻ hỏi lớn. "Giác Hải thiền sư đang là thầy dạy học của bệ hạ. Các ngài đang muốn dùng ngài ấy để củng cố vị trí của giới tăng lữ các ngài?"
"A di đà Phật." Giác Hải thiền sư quay về phía viên quan trẻ. "Lưu Thị lang nói thế, không biết là có ý gì?"
"Đầu tiên, đúng là theo điển lễ, Thái phó có nhiệm vụ dạy dỗ ấu chúa." Lưu Thị lang giải thích. "Nhưng khi Thái Tổ lập quốc, Người đã dùng quan Thái phó như một võ quan chỉ huy cấm vệ quân. Thứ hai, từ khi Thảo Đường Quốc sư viên tịch, ngài, Thông Huyền chân nhân và thiền sư Diệu Nhân chính là những người lãnh đạo của giới tăng lữ, hạ quan ngờ rằng, những nhà sư ngày tụng kinh niệm phật khuyên người ta rời xa tham sân si và những điều trần tục đang muốn lợi dụng ngài để..."
"Đàm!" Một vị quan lớn tuổi hơn cắt lời anh ta.
"Lưu Thượng thư, hạ quan chỉ nói sự thật thôi." Lưu Thị lang cúi người. Anh chàng Thị lang ấy tên Lưu Khánh Đàm, là người đã nói với tôi về chuyện đặt người đại diện cho vua ở chợ của Lê Long Đĩnh. Còn Lưu Thượng thư kia là Lưu Ngữ, cha anh ta.
"Giác Hải thiền sư," Lưu Thượng thư quay sang hai vị cao tăng cúi người. "con trai tại hạ còn trẻ không hiểu chuyện. Xin các vị đừng chấp."
Vị thiền sư kia chắp tay lạy vị Thượng thư dù nét mặt ông ta trông rõ ràng là đang hờn dỗi.
"Lưu Thị lang cũng vì quan tâm đến bệ hạ, sao bần tăng trách ngài được." Giác Hải Thiền sư nói.
"Được rồi được rồi." Tôi can họ. "Thái sư tuổi cao sức yếu, trẫm thì tuổi nhỏ, lại nghịch ngợm. Sẽ làm khó Thái sư mất. Hơn nữa, Giác Hải thiền sư đang làm rất tốt việc giảng dạy. Trẫm cũng không có nhu cầu thay người."
Rồi chẳng hiểu sao tôi nhìn vào một lượt quan văn tướng võ già nua cùng một dàn sư cọ đã đứng còn không vững trước mặt mình và nảy ra ý tưởng.
"Đúng rồi!" Tôi búng ngón tay. "Truyền lệnh của trẫm, từ hôm nay, các quan đại thần tuổi cao vào chầu sẽ cho phép ngồi ghế hoặc chống gậy."
Họ lại tròn mắt nhìn tôi.
"Các vị đều tuổi cao sức yếu, làm sao chạy theo trẫm được đúng không?" Tôi cười tươi, mẹ tôi ngồi sau rèm khẽ hằng giọng nhưng tôi giả điếc. "Lỡ các vị ngã ra đấy, làm sao trẫm lo được..."
"Bãi triều!" Mẹ tôi hô lớn và lao tới túm tay tôi kéo đi trong sự ngơ ngác của cả triều đình.
"Bệ hạ, bệ hạ đừng nói những câu dân dã như thế chứ." Mẹ tôi mắng tôi khi đang về điện Thiên Khánh. "Đây là chốn triều đường, sao bệ hạ có thể..."
Tôi thấy mấy đứa thái giám tuổi nhỏ ngang tôi núp dưới hành lang, một đứa đưa quả bóng lên. Tôi nháy mắt với chúng và lỉnh đi trong khi mẹ tôi còn đang nói.
Tôi là thiên tử, lời tôi nói ra là ý của ông trời. Nhưng sự thật thì tôi cũng chỉ là một đứa trẻ mà thôi.
(1)Thừa tướng nào đó của nhà Tống.
(2) Những nhà thơ cuối thời Đường đầu thời Tống. Tam Tô là Tô Tuân, Tô Thức và Tô Triệt.
(3) Chính xác thì nhà Tống không kẹt tiền, mà là kẹt đồng để đúc vũ khí nên từ thời Tống đã bắt đầu cho sử dụng tiền giấy. Trên thực tế, nhà Tống là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới vào thế kỷ XI.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com