Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

Chương 4





Nhiếp chính xuống phàm


Ở bàn bên kia, có vài gã trẻ tuổi lén trao đổi ánh mắt. Một kẻ vốn từng đứng về phe hoàng thân họ Cảnh, cười nhạt:
"Người ngoài thì dọa được, chứ trong triều... còn phải chờ xem lâu dài."

Còn chưa dứt câu, đã thấy ánh mắt lạnh lẽo từ bàn chủ vị liếc qua, như thể nghe được. Tên đó lập tức câm như hến, mặt cứng đờ, mồ hôi rịn ra sau gáy.

Một thoáng sau, tiếng cười nhẹ vang lên từ ghế bên phải. Là Đại học sĩ Tào Lăng – người từng ba đời phò vua, rất được dân lẫn triều thần kính nể – vuốt râu tán thưởng:

"Ngôn từ bất động đao kiếm, nhưng vẫn giữ được thế chủ động... Quả là phong phạm Nhiếp chính."

Yến tiệc vốn trĩu nặng nghi kỵ, bỗng thoảng qua một luồng khí khác.

Tô Tĩnh Lam ngồi yên bên dưới, ánh mắt ngước lên nhìn người ở trên cao. Lòng nàng chợt sinh ra cảm giác mơ hồ: người kia... quả thật không giống những kẻ nàng từng gặp.

Không quá thô bạo, chẳng hề ồn ào. Nhưng chỉ một câu, một ánh mắt, đã khiến đại điện như bị ghìm xuống.

Lúc đó, có tiếng chén sứ chạm khẽ vào bàn. Là Thúc Tư Kỳ, vẫn vẻ dửng dưng ấy, khẽ nghiêng đầu nhìn về phía Y Thác:

"Nếu quý quốc còn lời nào cần bàn về thương lộ, thì hãy để khi trời sáng. Đêm nay, chỉ là rượu, và hương lửa tiễn tiên hoàng."

Y Thác hơi rụt người. Hắn vốn quen ứng biến, nhưng mồ hôi sau lưng đã lạnh. Hắn nâng chén rượu, gượng cười:
"Vâng, là bản sứ lỡ lời. Mong quý triều lượng thứ."

Tiếng nhạc lại nổi lên, chậm rãi như thể gió thu thổi qua cầu cổ. Mọi người trong điện dần rũ bỏ vẻ căng thẳng, lần lượt chuyển sang chuyện phiếm, hoặc rượu mời nhau lấy lệ. Nhưng không ai dám lại gần chủ vị.

Chỉ có một người, ánh mắt vẫn chưa rời khỏi bóng dáng áo bào đen kia — Tô Tĩnh Lam.

Nàng ngẫm lại đoạn đối thoại vừa rồi, câu chữ như lưỡi kiếm bọc nhung. Lúc thì uyển chuyển như làn gió, lúc lại lạnh lùng không cho ai rút lui. Có chút gì đó... quen thuộc, nhưng không giống người nàng từng đọc qua trong tấu thư. Lại nhìn khí chất nàng ta bây giờ – rõ ràng không phải kiểu "thiếu niên cẩn trọng ít nói" như lời đồn.

Chẳng lẽ — có gì đó thay đổi?

Nàng vừa nghĩ, vừa vô thức chạm nhẹ vào tay áo, như muốn khắc ghi đoạn vừa rồi vào lòng.

Yến tiệc kéo dài thêm một khắc rồi dần tan. Khi mọi người lần lượt cáo lui, có người ngoái đầu lại, lặng lẽ nhìn bóng lưng Nhiếp chính Vương còn đứng trong ánh đèn lồng đỏ thẫm.

Từ tối nay, trong lòng không ít người đã thay đổi cách gọi người ấy — không còn là "Cảnh Giai Kỳ – nhi tử của tiên hoàng bất đắc chí", mà là "kẻ đủ sức ngồi chính điện, chỉ một câu đã khiến Tây Di nghẹn họng."

Mà chính giữa đêm ấy, dưới ánh trăng lấp ló qua màn mây, một giọng già nua khe khẽ nói với người đứng sau rèm:

"Tiểu tử này... khác trước quá rồi."

Phía sau tấm rèm, chỉ là một ánh mắt lóe lên, rồi lại vụt tắt như chưa từng hiện diện.
____

Trời thu Nam Uyên dịu nắng, gió nhẹ như đãi người phương xa. Trong vài ngày sứ đoàn Tây Di ở lại, triều đình bày đủ tiệc trà, tiệc hoa, săn bắn ngoài hoàng viên, thưởng vịnh trong lầu gác. Ấy vậy mà mỗi hoạt cảnh đều được sắp đặt khéo léo đến mức... chẳng ai thật sự vui nổi.

Y Thác, sau màn "đối ẩm sát cờ" đêm yến đầu tiên, ít khi còn nêu lời bàn chính sự. Kẻ ngoài nhìn vào tưởng y e ngại, nhưng Thúc Tư Kỳ biết rõ: hắn đang dò xét — không chỉ nàng, mà cả từng gương mặt trong triều.

Thúc Tư Kỳ vẫn mang dáng vẻ hững hờ. Nàng làm đúng phận chủ, không quá nhiệt tình cũng chẳng hờ hững. Nụ cười thì vẫn có, nhưng ánh mắt chẳng để ai níu lấy được quá ba hơi thở. Có lần, giữa buổi vịnh hoa, một nữ nhạc sư đàn sai một đoạn, nàng chỉ khẽ nhấc ngón gõ lên chén trà ba tiếng, rồi nhạc đổi liền. Y Thác chứng kiến, môi hơi mím, ánh nhìn cũng sâu thêm một tầng.

Tô Tĩnh Lam vẫn theo sát nàng như cái bóng. Nàng ghi nhớ kỹ từng món lễ vật Tây Di mang tới, thầm ghi chép cả những câu chuyện rượu chẳng ai để tâm. Nhưng trong lòng lại có chút không yên: Nhiếp chính Vương... càng lúc càng không giống như trước.

Ba hôm trôi qua, mây thu quét sạch, sứ đoàn đến ngày khởi hành.

Sáng ấy, trời trong như ngọc. Từ xa, tiếng trống cung vang từng hồi chậm rãi, đưa tiễn khách quý.

Ngoài cửa thành Nam Viên, một hàng dài quan viên cùng binh lính nghi trượng dàn thành hai bên. Y Thác và tùy tùng cưỡi ngựa chậm rãi tiến ra, áo choàng xanh lam tung bay theo gió. Hắn vẫn giữ dáng cao ngạo, nhưng khóe mắt lại vô thức liếc về phía bóng người đứng đầu trên bậc tam cấp: Thúc Tư Kỳ – áo bào đen thẫm, đứng giữa trời thu như một nét mực lạnh.

"Chuyến đi này, quả là... mở rộng tầm mắt." – Y Thác cười, ghìm cương ngựa lại.

Thúc Tư Kỳ chắp tay sau lưng, ánh mắt như hồ thu, phản chiếu nét kiêu ngạo của hắn:

"Nam Uyên địa phận nhỏ, phong cảnh bình thường. Là do sứ giả mắt sáng lòng rộng, mới thấy được cảnh hay điều lạ."

Y Thác khẽ nhếch môi. Mỗi câu của người kia, vẫn như gảy dây đàn, không gảy thì thôi, gảy một tiếng là không kẻ nào gảy lại được.

Tô Tĩnh Lam đứng bên, lặng nhìn từ nãy. Nàng bỗng nhận ra một điều: tên Y Thác này, từ đầu đến cuối đều giữ thế "dò" – mà càng dò, càng bị áp.

Bên hông Thúc Tư Kỳ khẽ đung đưa túi gấm nhỏ — món lễ mọn mà Tây Di tặng riêng nàng mấy hôm trước. Nàng chẳng mở, cũng chẳng từ chối, chỉ bảo người giữ đó để "ghi nhận tình hữu nghị". Y Thác nhìn túi gấm một thoáng, rồi chuyển ánh mắt đi.

Hắn chắp tay, cúi người trước triều thần:
"Tây Di chúng ta ghi khắc ân tình. Mong lần sau gặp lại, sẽ là trong ngày lành, gió xuôi, chẳng vướng nỗi sầu nhân gian."

Thúc Tư Kỳ vẫn chưa lên tiếng. Chỉ khi Y Thác đã xoay ngựa, chuẩn bị thúc roi, nàng mới nhẹ nhàng mở lời:

"Có câu cổ ngữ của quý quốc – 'ngựa đi nghìn dặm, cũng phải ngoái đầu ba lần'."

Y Thác nhướng mày, mỉm cười:
"Chẳng hay Vương gia định nói...?"

Nàng nghiêng đầu:
"Đừng quên ngoái đầu khi ra khỏi đất Nam Uyên. Bằng không, chẳng biết lúc nào bỗng dưng ngựa hụt chân, lạc mất phương."

Không khí thoáng chùng lại. Nhưng rồi Y Thác bật cười ha hả, gật đầu như chấp nhận thua một ván cờ:

"Sẽ nhớ."

Nói rồi, hắn giơ tay vẫy một vòng, đoàn sứ lập tức thúc ngựa tiến về cổng thành. Lá cờ Tây Di phần phật giữa gió.

Chờ bóng lưng hắn khuất hẳn, tiếng trống dứt. Thúc Tư Kỳ xoay người, gật nhẹ một cái với các quan, rồi không nói gì thêm, thẳng bước trở vào.

Triều thần lục tục lui theo, chỉ có Tô Tĩnh Lam vẫn đứng nguyên, mắt nhìn về phía xa.

Có thứ gì đó trong lòng nàng vừa chuyển động. Không hẳn là nghi ngờ. Mà giống như — muốn chạm đến một lớp sương mù nào đó, nhưng sợ khi giơ tay ra, thứ hiện ra lại quá thật.

Nàng khẽ hít một hơi.

Cảnh Giai Kỳ... rốt cuộc là người thế nào?

____




Trời sang cuối thu, lá phong nhuộm đỏ các con phố lớn trong kinh thành Thượng Uyên. Từng đợt gió mát rượi lướt qua, cuốn theo lá vàng bay nhè nhẹ trên mái ngói âm dương, rơi xuống lòng phố đông người như một dải lụa thiên nhiên buông hờ. Hương quế từ các quầy bánh nướng ven đường theo gió lan xa, thơm ngòn ngọt như đánh thức cả ngũ quan.

Trong phủ Kỷ vương, một tiếng thở dài vang lên:

"Thời tiết thế này mà chỉ biết ngồi nghe tấu chương thì quá uổng."

Thúc Tư Kỳ đứng trước cửa sổ, hai tay khoanh lại, ánh mắt dõi theo những chiếc lá vàng bay lượn ngoài sân. Mái tóc buộc cao, xiêm y tẩm hoa văn gọn gàng, nhưng cả người lại toát ra một vẻ... chán đời thâm trầm đến buồn cười.

Phía sau, Tứ Nhi chắp tay, khẽ thở dài theo:

"Lá rụng, trời mát, người cũng rảnh... Vương gia thật sự định ra ngoài ạ?"

"Không ra thì héo mất. Ta đang bức bối tới mức sắp lấy nghiên mực ra mà trộn ăn rồi."

"..." – Tứ Nhi chẳng biết nên khuyên can hay chuẩn bị thuốc tiêu hóa trước.

**
Thúc Tư Kỳ xốc lại vạt áo, chỉnh thêm cái khăn vải nâu sẫm buộc tóc, nhìn bản thân trong gương đồng mà bật cười: "Giống hệt đám thư sinh nghèo lên kinh ứng thí."

Tứ Nhi cố nín cười. "Chỉ là... nếu bị người ngoài nhận ra..."

"Không sao." – Nàng nhún vai. "Dạo này có mấy người nhìn thấy được bản mặt ta rồi, giấu cũng giấu không được. Cùng lắm thì bảo ta là... bản sao giả mạo."

Tứ Nhi: "..."

Thế là hai người – một chủ một tỳ – ung dung rời phủ, hòa mình vào dòng người nhộn nhịp ngoài chợ. Phố lớn Thượng Uyên lúc này rộn rã hơn thường ngày: hàng quán mở san sát, mùi bánh nướng, mùi vải nhuộm, tiếng rao hàng lẫn tiếng trẻ con chạy chơi hòa thành một bản nhạc dân dã sống động.

Thúc Tư Kỳ bước giữa phố, thở ra một hơi: "Không ngờ cổ đại cũng náo nhiệt thế này. Y như hội phố đi bộ cuối tuần."

Tứ Nhi ngơ ngác: "Phố đi... gì cơ ạ?"

"Không có gì." – Nàng gạt tay. "Tứ Nhi, ngươi biết nơi nào bán đồ ăn vặt sao?"

"À, đầu kia có một quán bánh rán mật ong nổi tiếng lắm. Nhưng hơi đông người..."

"Đi!"

Không ngờ, vừa chen tới đầu hàng thì một ông lão bán hàng lại nhìn nàng chăm chú, chậc chậc mấy tiếng:

"Tiểu huynh đệ... không phải tại hạ thất lễ, nhưng ngươi đây... trông giống Nhiếp chính Vương quá thể!"

Thúc Tư Kỳ khựng lại. Tứ Nhi tái mặt.

Nàng bèn nhanh trí, đổi giọng khàn khàn: "Chà, ta cũng hay bị người ta nói thế. Nói thật... ta là kép hát chuyên đóng vai Vương gia đấy. Ông thấy giống không?"

"À à! Thảo nào!" – Ông lão gật gù, "Hèn gì khí chất trầm ổn thế kia! Trông như thật!"

Tứ Nhi vội chen vào: "Phải đó, lão bá, người này là kép nổi tiếng ở rạp Lâm Giang, mỗi lần diễn xong có khi còn được ném bánh bao lên sân khấu!"

Thúc Tư Kỳ suýt sặc nước miếng. Bánh bao? Ném?

Dù vậy, nàng vẫn ung dung nhận lấy hai cái bánh rán, cắn một miếng, mắt sáng rỡ: "Ừm, ngon!"

"Ngon hơn bánh Krispy Kreme nhiều." – nàng thì thầm.

Tứ Nhi tròn mắt: "K-rít... gì cơ ạ?"

"Không, không có gì."

Hai người tiếp tục dạo chơi qua hàng vải, quầy thảo dược, cả quán đồ chơi gỗ. Thúc Tư Kỳ hứng chí, còn ghé vào tiệm bán diều vẽ hình... mèo mun, nói là "mèo thần giữ cửa" rồi nhất định đòi mua một con, bắt Tứ Nhi cầm giùm.

Đến khi đi ngang qua một bàn cờ vây dựng ngay bên lề đường, có mấy lão nhân đang đánh cờ, một lão quay sang rủ:

"Tiểu tử, trông khôi ngô lắm, muốn đấu một ván không?"

"Tới đi!" – Nàng ngồi phịch xuống, tay áo xắn cao, thái độ ung dung.

Ai ngờ vừa dàn trận được vài nước, nàng đã bắt đầu lẩm bẩm:

"Cờ này mà để trí tuệ nhân tạo AlphaGo thì mấy cụ ăn hành..."

"Alpha gì?" – lão nghiêng tai.

"À... tên tiểu miêu nhà ta." – Thúc Tư Kỳ nói gọn.

Chưa đầy mười lăm phút sau, nàng bị ăn "sạch bàn".

Ông lão cười ha hả: "Tuổi trẻ mà không học cờ, về sau chỉ làm đầy tớ!"

Thúc Tư Kỳ cười trừ, đứng dậy phủi bụi áo: "Vâng vâng, ngài giáo huấn rất phải."

Tứ Nhi ở bên nhịn cười đến phát run, thầm nghĩ: "Vương gia mà nghe thấy câu đó chắc tức ói máu."

Chưa hết, trên đường về, họ còn bị một lão phụ nhân kéo vào hỏi xem "hai người có phải tân phu thê không?", vì "tướng mạo xứng đôi, lại có thần thái nương tử lo lắng tướng công tiêu tiền bậy".

Tứ Nhi đỏ như gấc chín, suýt cắm đầu vào thúng dưa muối gần đó.

Khi về đến phủ, Thúc Tư Kỳ chống tay sau lưng ngồi lên lan can, miệng còn nhai bánh, thở hắt:

"Hôm nay thật vui. Cứ tưởng làm Nhiếp chính thì phải cứng nhắc cả đời, ai ngờ vẫn có thể đóng vai kép hát, chồng nghèo, thua cờ..."

Tứ Nhi lau mồ hôi trán, mệt phờ, nhưng vẫn mỉm cười: "Chỉ mong không ai trong phủ biết chuyện hôm nay."

"Biết thì càng vui." – Nàng nháy mắt. "Lâu lâu nên khiến họ thấy ta còn là người sống."



Mặt trời đã nghiêng bóng, ánh hoàng hôn phủ màu đồng lên các bậc đá trong viện. Tứ Nhi vừa cởi bỏ ngoại sam của Thúc Tư Kỳ, vừa líu lo kể lại mấy tình huống "cười ngã nghiêng" trong buổi dạo phố khi nãy.

"Vương gia, người thật sự... thật sự quá tay rồi ạ. Cái câu 'kết cấu cốt truyện yếu, không logic' người nói với cô nương ở thư quán là có ý gì chứ?"

Thúc Tư Kỳ ngồi trên ghế gỗ khảm trai, cầm chén trà ấm, bật cười:
"Thì quyển thoại bản đó đúng là viết yếu thật. Ta nói ngay thẳng thôi mà."

Tứ Nhi: "Người suýt nữa bị nàng ném cả chồng thư vào đầu đấy ạ..."

Chưa kịp nói thêm, ngoài cửa vang lên tiếng bước chân gấp rút. Là Tưởng Bình.

"Vương gia." – Tưởng Bình cúi đầu hành lễ, trên tay cầm một hộp gấm màu đỏ sậm, miệng buộc bằng dây tơ vàng.

"Vừa nãy người của Lễ bộ đến báo: trong lễ vật viếng tang của Tây Di có một món bị... bỏ sót, không được dâng lên ngay trong ngày đầu yến."

Thúc Tư Kỳ nhướng mày, đón lấy hộp gấm, đảo nhẹ tay cảm nhận trọng lượng bên trong — không nặng, nhưng có vẻ không phải thứ đơn giản.

Tưởng Bình tiếp lời: "Họ nói lễ vật này vốn xếp trong hòm dâng cống, có thể do thủ hạ Tây Di không thông thạo quy tắc lễ tiết nên mới sơ sót."

"Thủ hạ Tây Di không thông thạo... hay cố tình?" – nàng nhếch môi.

Tứ Nhi giật mình: "Ý người là... bọn họ muốn cái này được phát hiện sau?"

Thúc Tư Kỳ không đáp, chỉ đặt hộp gấm lên bàn, rồi cẩn thận mở ra. Trong hộp là một quyển trục nhỏ, bên ngoài cuốn bằng vải thô màu lam nhạt, không có dấu ấn hoàng thất hay tiêu ký thương nhân.

"Quyển bản đồ?" – nàng khẽ thì thầm.

Tưởng Bình cẩn trọng nhận lấy, trải nhẹ ra trước ánh nến.

Bên trong vẽ tay tỉ mỉ, từng đường núi, con sông, cột mốc đều rõ ràng. Nhưng điểm khiến Thúc Tư Kỳ nhíu mày chính là vùng trung tâm bản đồ: là Nam Uyên, nhưng không phải toàn thể quốc thổ — mà chỉ một phần giao thoa giữa Nam Uyên, Tây Di và... một khu vực chưa đặt tên, nằm giữa hai nước.

Tứ Nhi ngơ ngác: "Nơi này... hình như là vùng đất hoang phía Tây Bắc biên giới?"

Tưởng Bình cau mày: "Thường dân gọi là đất Kha Lạc – vùng trung lập chưa khai phá. Nhưng sao Tây Di lại vẽ chi tiết thế này?"

Thúc Tư Kỳ cúi nhìn kỹ, ngón tay lướt nhẹ lên một ký hiệu nhỏ nằm trong rặng núi phía Tây — một vòng tròn đỏ nhạt, như được bôi thêm bằng chu sa.

"Dấu này... không giống ký hiệu địa hình. Giống ký hiệu mật hơn."

Tưởng Bình chậm rãi nói:
"Có khả năng... Tây Di đang tìm kiếm hoặc đánh dấu một vị trí quan trọng."

Tứ Nhi ngập ngừng: "Hay là... kho báu? Hay bí mật quân sự?"

Thúc Tư Kỳ không trả lời ngay. Nàng dựa lưng vào ghế, ánh mắt tối dần.

"Không phải kho báu." – nàng nói khẽ. "Nếu là thứ cần bí mật đưa vào quốc nội, lại giấu trong hộp tang lễ, thì thứ này chỉ có thể là một 'thử thăm dò'."

Tưởng Bình gật đầu: "Như một cách gửi tin – nhưng không qua miệng."

Thúc Tư Kỳ gõ nhẹ lên bàn:
"Truyền lệnh, để Lạc Trầm điều tra xem vùng Kha Lạc này từng có tranh chấp nào, hoặc bị cấm dân cư ra vào vì lý do gì."

"Rõ."

Tưởng Bình lĩnh mệnh lui xuống. Tứ Nhi cẩn thận thu lại bản đồ, rồi chợt thốt lên:

"Vương gia, nếu Tây Di muốn đàm phán thương lộ chỉ là cái cớ để che giấu hành vi... 'thăm dò vị trí quân sự', thì lần này chẳng khác nào..."

"Chẳng khác nào dạo quanh chuồng hổ." – nàng đáp gọn.

Thúc Tư Kỳ siết chặt tay áo. Dù nàng chưa từng học nghề gián điệp hay chiến lược như dân tình thời cổ, nhưng mấy chục năm đọc tiểu thuyết hiện đại, xem phim trinh thám và chiến lược quốc tế, nàng vẫn hiểu rõ một điều: đối phương nếu đã đưa cờ, ắt sẽ có bàn cờ.

Và khi đã bày bàn cờ, thì ắt có mục tiêu — hoặc là tài nguyên, hoặc là người.

Một ý nghĩ vụt qua đầu nàng, nhưng chưa kịp định hình rõ thì Tứ Nhi lại lầm bầm:

"Cũng may Vương gia đã từ chối chuyện thương trạm..."

Nàng bỗng quay sang hỏi:
"Lễ bộ đã kiểm kê kỹ toàn bộ các lễ vật kia chưa?"

"Rồi, thưa người."

"Vậy thì... đêm nay cho thêm người âm thầm trông coi kho Lễ vật, không để bất kỳ kẻ nào lại gần, kể cả người của nội vụ phủ."

Ánh mắt nàng sắc như lưỡi dao. Thứ này không phải "sót" — mà là một mồi câu.

Mà một khi đã câu... thì tức là có cá đang chực đớp.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com