CHƯƠNG MƯỜI LĂM
Ngay chiều hôm ấy, Rưgôrơ đến tôi, quần áo lấm láp, mồi hôi nhễ nhại, dáng mệt mỏi. Anh ngồi bệt ngay xuống gốc cây trước tòa lâu đài. Một lúc sau, anh mới lẩm bẩm:
- Hang ổ mật của chúng ở trong khu rừng cấm. Hôm nay tôi đã lần ra dấu vết một đường mòn thứ hai, ngoài con đường tôi đã nấp rình hôm ấy. Có điều, con đường mòn thứ hai này chìm sâu dưới bãi lầy đến một cánh tay. Tôi lần vào đến tận rừng cấm, nhưng bị một vạt sình lầy chẹn ngang đường, không tài nào qua nổi. Không tìm thấy một lối mòn nào qua được cả. Hai lần suýt thì chết mất xác giữa bãi lầy... Tôi đành trèo lên tận ngọn cây tùng cao nhất thì thấy ở bên kia vạt sình lầy một hẻm lớn, giữa cây cối rậm rạp thấp thoáng mái tranh của một ngôi nhà khác to. Có khỏi bốc lên. Có cả tiếng một con ngựa hí lên ở phía đó, một lần thôi.
- Phải đến đó ngay, - tôi nói
- Không, dứt khoát không được chơi trò ngu dại. Người của tôi sẽ đón lõng ở đó. Có điều xin pan thứ lỗi trước cho, nếu tóm cổ được những quân chó má ấy thì chúng tôi sẽ xử bọn chúng như xử bọn trộm cắp ngựa.
Gương mặt bù xù tóc tai của Rưgôrơ nhìn tôi gườm gườm, mỉa mai.
- Dân cày chịu nhịn tất cả, dân cày tha thứ tất cả, dân cày xứ ta quả là thánh nhân. Nhưng tôi sẽ đích thân yêu cầu họ xử lũ kẻ cướp ấy như xử bọn trộm cắp ngựa: dùng cọc gỗ hoàn diệp đóng gì chân tay chúng xuống đất, sau đó lấy một cọc to hơn đóng vào lỗ hậu ngập đến tận giữa bụng. Nhà của bọn chúng, tôi cũng không để nguyên vẹn đến một viên gạch mà đốt cho kỳ đến thành tro tàn để ngay cả hơi hướng hôi thối của bọn chúng cũng không còn. – Nghĩ ngợi một lát, anh tiếp: - Cả cậu cũng coi chừng đấy. Biết đâu, đến một lúc nào đó, máu pan trong tim cậu lại chả bốc lên. Khi ấy thì cả với cậu nữa, cũng sẽ như vậy.
- Anh ngốc lắm, Rưgôrơ ạ, - tôi lạnh nhạt đáp, - Xvetilôvich cũng nói pan, vậy mà suốt một đời ngắn ngủi chỉ làm mỗi một việc là đi bênh vực bọn ngu ngốc các anh, chống lại bè lũ sliăcta tham lam cùng bọn quan tòa hống hách. Anh không nghe dân chúng khóc anh ta à? Tôi cũng sẵn sàng chết như vậy... vì đám dân cày các anh. Anh nên im đi thì hơn, nếu như thượng đế đã quên ban trí khôn cho anh.
- Thôi được, cậu đừng giận... Cậu có lá thư đây. Nó nằm ở nhà Xvetilôvich đã ba hôm nay, thư để địa chỉ nhà cậu ấy mà... Ông đưa thư bảo hôm nay lại vừa đem đến lâu đài Rừng Tùng Đầm Lầy cho cậu một lá nữa. Thôi chào cậu. Mai tôi lại đến.
Tôi bóc thư ngay tại chỗ. Đó là thư từ trên tỉnh gửi về, của một chuyên gia phả hệ địa phương đây mà tôi đã từng viết thư nhờ vả. Thư giải đáp một trong những vấn đề quan trọng nhất.
“Trình quý ngài chí tôn kính, pan Bêlôrétxki. Tôi xin gửi tới quý ngài những thông tin về người mà quý ngài quan tâm. Trong toàn bộ các mục lục phả hệ của tôi cũng như trong các bộ thư tịch cổ bìa bọc gấm, không một nơi nào tôi tìm được chút gì chứng tỏ sự lâu đời của dòng họ Bécman – Gatxêvich. Tuy nhiên, trong một văn bản cũ tôi bắt gặp một thông báo đáng lưu ý. Hóa ra, vào năm 1750, trong vụ án người tà thuyết tên là Nhêmirich có nhắc đến một kẻ họ Bécman – Gatxêvich vì những hành vi bất lương đã bị kết tội trục xuất ra khỏi cương phận vương quốc Ba Lan cũ và tước hết các quyền lợi quý tộc. Người mang họ Bécman ấy là anh em cùng cha khác mẹ với Jarôsơ Janốpxki biệt hiệu là “Kẻ ly giáo”. Chắc hẳn quý ngài phải biết rõ rằng khi chính quyền đã thay đổi thì các bản án cũ không còn hiệu lực, nên ông Bécman, nếu quả là hậu thế của Bécman nói trên đây, có thể đòi hỏi được thừa kế dòng họ tiểu thư Janốpxkaia trong trường hợp ngành trưởng của gia tộc này tuyệt tự. Xin kính chúc quý ngài v.v và v..v..”
Tôi sửng sốt, đứng như chôn chân đọc đi đọc lại bức thư, mặc dù trời đã tối, nét chữ lòa nhòa trước mắt.
- Quỷ thật!... Thế là rõ cả. Cái tên Bécman bỉ ổi, cái tên vô lại ranh ma ấy cũng là người thừa kế Janốpxkaia.
Đến đây, trong đầu tôi vụt lóe lên một ý nghĩ:
- Bàn tay... Bàn tay ấy ở đâu ra nhỉ? À! Người lùn Đầm lầy khi hắn nhìn tôi qua khung kính cửa sổ, có bàn tay y hệt bàn tay của Bécman, cũng những ngón tay dài ngoẵng, không giống ngón tay người.
Tôi lao vào lâu đài. Ghé vào phòng vẫn dành riêng cho tôi: bức thư không còn đây. Mụ quản gia xác nhận là có lá thư mới gửi đến cho tôi, nó phải ở đâu đấy thôi. Mụ xun xoe quanh tôi, vẻ ăn năn hối lỗi: sau cái đêm đụng độ dưới phòng lưu trữ, mụ nịnh tôi ra mặt.
- Dạ, thưa pan, tôi quả không rõ lá thư biến đi đâu... Dạ, thưa phong bì không có dấu bưu điện ạ... Dạ, có lẽ là thư ở lãnh địa Janốpxki hay ở huyện gửi xuống ạ. Dạ, không ai vào đây cả. Chỉ có pan Bécman ghé qua vì tưởng pan có nhà ạ...
Tôi không nghe tiếng nữa, đưa mắt nhìn khắp mặt bàn, thấy giấy tờ tung tóe, chắc bị lục lọi. Xong tôi chạy vội đến thư viện. Ở đó không có ai, chỉ thấy cả một chồng sách chất cao trên bàn. Rõ ràng, người ta đã vội vã bỏ chúng đấy để chạy đi làm một việc quan trọng hơn. Tôi liền đến phòng Bécman. Cả ở đây cũng thấy những dấu hiệu vội vã, thậm chí cửa cũng quên khóa. Ánh sáng le lói của que diêm hắt một quầng nho nhỏ lên mặt bàn đủ để cho tôi nhìn thấy một chiếc khăn tay và một bì thư bị xé rách chéo, giống hệt chiếc phong bì Xvetilôvich đã nhận được vào cái chiều khủng khiếp nọ
“Pan Bêlôrétxki, người anh em kính mến! Tôi biết không nhiều về đội săn, nhưng dẫu sao cũng có thể báo cho anh biết đôi điều đáng chú ý. Ngoài ra, tôi còn có thể tiết lộ một bí mật về vài sự việc mờ ám trong tòa nhà anh đang trú ngụ. Rất có thể, đó chỉ là những chuyện bịa đặt, song tôi có cảm tưởng là anh bạn quý mến đang truy tìm không trúng nơi cần tìm. Một hiểm họa đang ở ngay trong lâu đài của tiểu thư Janốpxkaia. Nếu như anh muốn biết đôi điều về Người lùn Rừng Tùng Đầm Lầy thì xin mời chín giờ tối nay đến địa điểm ông Rôman đã lâm nạn và hiện có cây thánh giá tưởng niệm ông ta. Ở đó người hảo tâm tạm phải ẩn danh sẽ nói cho anh rõ ngọn nguồn của mọi mối hiểm họa”.
Tôi do dự giây lát vì sực nhớ đến số phận bi thảm của Xvetilôvich, nhưng cũng không còn thời gian để suy nghĩ lâu la nữa: kim đồng hồ đã chỉ chín giờ kém mười lăm. Nếu như Bécman là đầu sỏ đội săn và Người Lùn là tác phẩm của hắn thì nhất định hắn sẽ lo ngại sau khi đã đọc bức thư bóc trộm. Vậy phải chăng hắn tranh chỗ tôi, đi gặp tác giả bức thư để kịp bịt miệng anh ta lại? Rất có thể lắm. Hơn nữa, đáp lại câu hỏi của tôi về Bécman, người gác cổng lại khoát tay về hướng tây bắc, tức về đúng hướng có con đường dẫn đến chỗ cây thánh giá tưởng niệm Rôman.
Tôi lập tức chạy về phía đó: Trời! Trong những ngày qua tôi đã phải chạy biết bao đường đất, nói theo từ ngữ ngày nay là đã “việt dã” cũng kha khá đấy! Cầu cho quỷ tha ma bắt cái trò “trơning” này đi cùng cái Rừng Tùng Đầm Lầy này nữa!
Đêm ấy sáng trời hơn mọi khi. Mặt trăng đã lên, soi sáng các bãi hoang – tròn vành vạnh, to tưởng và sáng như gương, rực rỡ huy hoàng và thần tiên, nguy nga tráng lệ quá đi khiến lòng tôi phải se lại vì nỗi nhớ nhung một cái gì đó trong sáng, dịu hiền không mảy may giống những đầm lầy và bãi hoang nơi đây...
Trăng càng lên cao càng nhỏ đi, mờ nhạt đi và bắt đầu bị bao phủ bởi mấy đám mây trắng nho nhỏ, trông giống như những mảng kết tủa trong sữa chua. Cảnh vật lập tức lại trở nên lạnh lẽo, ảm đạm và bí ẩn...
Vượt qua khu vườn rậm rạp, tôi ra đến con đường mòn và hầu như đã đến gần cây thánh giá Rôman, bên trái, sừng sững một cánh rừng u ám. Cạnh cây thánh giá thấp thoáng một bóng người.
Bỗng... Tôi không còn tin ở mắt mình nữa. Không hiểu từ đâu bỗng vụt hiện ra những bóng kỵ sĩ. Chúng tiến lạnh gần người đứng cạnh thánh giá. Tất cả điều diễn ra lặng lẽ, không một tiếng động, và trên đỉnh đầu họ rực sáng một ngôi sao lạnh lẽo, không nhấp nháy.
Ngay khoảnh khắc sau đó, một phát súng ngắn nổ vang, đoàn ngựa chuyển sang phi nước đại, đè bẹp bóng người lẻ loi dưới vó hung hãn. Tôi bàng hoàng. Tôi đinh ninh sẽ bắt gặp cuộc hội ngộ của bọn bất lương, nhưng lại chứng kiến một vụ giết người nữa.
Mắt tôi tối sầm. Khi tôi bừng tỉnh, đoàn kỵ sĩ đã biến mất.
Một tiếng kêu rùng rợn, không còn giống tiếng người nữa vang vọng khắp khu đồng lầy. Trong tiếng kêu ấy có cả nỗi khủng khiếp, cả sự căm giận, cả nỗi tuyệt vọng – và còn những gì nữa, có quỷ sứ mới biết được! Tuy nhiên, tôi không hề sợ hãi. Xin nói rằng, từ đây tôi không còn biết sợ là gì nữa. Mọi điều kinh khủng nhất mà tôi gặp phải sau những ngày ấy, đối với tôi chỉ còn là chuyện vớ vẩn, chẳng nghĩa lý gì.
Thận trọng, tôi trườn như một con rắn đến gần cái tử thi đen đen nổi bật trên nền cỏ. Tôi nhớ: tôi chỉ lo lọt vào ổ mai phục, tôi bỗng cũng thèm được giết chóc, tôi trườn ngoằn ngoèo trong đám lau cỏ mùa thu, cố lợi dụng từng hốc, từng mô đất. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in những bóng tối tím xanh trên mặt đất, hương ngải cứu thoang thoảng, mùi cỏ xạ hương ngào ngạt. Cuộc sống vẫn tươi đẹp biết bao ngay cả ở chốn khủng khiếp này! Vậy mà con người phải trườn bò như loài rắn độc, ẩn náu trong cỏ, không được vươn lồng ngực thở hít không khí lạnh khỏe khoắn, không được ngửa mặt lên trời ngắm trăng sao, đặt cái hôn dịu dàng lên đôi mắt người yêu rồi “trồng cây chuối” mà đi vì niềm vui tràn trề.
Ánh trăng soi lên cái xác của Bécman. Cặp mắt to hiền lành lồi ra, mặt nhăn nhó vì một sự đau đớn khủng khiếp.
Vì sao anh ta bị giết? Chẳng lẽ anh toa hoàn toàn vô tội ư? Vậy mà tôi cứ đinh ninh đầu sỏ chính là anh ta.
Ôi, cỏ xạ vẫn đưa hương, vừa ngọt ngào vừa cay đắng làm sao! Cái loài cỏ, ngay cả khi đang lụi tàn, vẫn đưa hương, vừa cay đắng vừa ngọt ngào.
Ngay lúc ấy tôi bất giác, theo bản năng chứ hoàn toàn chưa rõ nguyên do, vội bò lui lại. Tôi đã lùi ra khá xa thì chợt nghe có tiếng chân bước. Có hai bóng người đang tiến lại. Tôi đang nằm dưới một gốc liễu lòa xòa. Tôi nhỏm dậy (hai người kia không thể trông thấy vì tôi lẩn vào thân cây), nhảu lên bám vào cành, đu cả người lên nấp kín như một con nhái bén giữa cành lá um tùm.
Hai cái bóng bước lại gần xác chết. Trăng rọi thẳng vào người họ, nhưng hai bộ mặt đã che kín bằng những mảnh vải đen. Hai cái thân hình đến kỳ lạ: cùng ăn vận những kiểu quần áo cổ xưa, tóc dài lõa xõa, đầu đội những chiếc mũ nhỏ bện bằng dây da (có thể chiêm ngưỡng những cái mũ y như vậy ở viện bảo tàng thành Vilnô). Vai họ khoác những tấm áo choàng dài.
Họ bước lại bên cái xác, cúi xuống xem xét. Tiếng họ trao đổi vọng đến tận chỗ tôi ngồi.
- Cả hai đứa đều mắc một mồi câu... Likôl... Hề. Chửng hiểu sao chúng lại tin cái biệt hiệu con nít ấy kia chứ - cả thằng yểu tướng kia, cả cha lợn nòi này. Likôl với chả... Đấy, Likôl cho ăn kẹo đấy.
Bỗng một tên ngạc nhiên kêu lên:
- Trông này, Pátxúk, không phải thằng ấy!
- Không phải là thế nào? Cậu ba hoa gì vậy?
- Thì tớ bảo cậu là không phải thằng ấy mà. Đây là cái thằng cha gàn gàn làm quản lý cho Janốpxkaia ấy mà.
- Ôi quỷ sứ nhà trời! Bé cái lầm rồi!
- Vì cái tội nhầm lẫn này, - tên thứ hai càu nhàu,- Likôl sẽ vặn cổ bọn mình đấy. Dở ẹt, anh bạn ạ. Hai nhân mạng bị hạ sát – thật kinh khủng! Thế này thì quan trên dễ hỏi tới lắm.
- Nhưng tại sao hắn lại dẫn xác đến đây thế mạng nhỉ?
Tên thứ hai không đáp. Chúng rời xác chết, đi lại đứng dưới gốc cây liễu tôi đang ẩn nấp. Nếu tôi muốn, tôi có thể thả chân đứng lên chốc đầu một trong hai tên, hoặc tặng chúng hai phát đạn súng ngắn. Cự ly như vậy thì đến đứa con nít cũng bắn trúng. Người tôi run lên vì hồi hộp, tuy nhiên tiếng nói của lý trí lạnh lùng thầm nhắc tôi không được hành động như vậy: tôi sẽ đánh động bọn còn lại. Với cái đội săn ma quái này: phải kết liễu bằng một đòn thôi. Tôi đã phạm liên tiếp nhiều sai lầm, nếu như giờ đây cả Nađêia nữa cũng bị giết thì tôi chỉ còn nước ra Bãi thụt Khổng lồ, nhảy xuống đó rồi chờ nghe tiếng khí hơi từ dưới sình lầy thoát ra rít lên man rợ khi bùn nâu ngập lút đầu.
- Không hiểu tại sao ông ta căm thù lão Bêlôrétxki thế nhỉ? – thằng tên là Pátxúk hỏi.
- Tớ cho chỉ tại lão Bêlôrétxki định lấy cô ả Janốpxkaia. Nếu vậy thì tòa lâu đài sẽ tuột khỏi tay Likôl.
- Ông ta cần quái gì nó – đó là cái quan tài mục nát chứ đâu còn là tòa lâu đài.
- Không, cậu đừng tưởng. Tòa nhà chẳng đem lại được lợi lộc gì cho dòng họ Janốpxkaia vì nó là tài sản của gia tộc, chứ đối với người ngoài nó sẽ là mối lợi lớn đấy. Hơn nữa, ông ta lại chuộng các đồ cổ, lúc nào cũng nằm mơ thấy mình là chủ nhân tòa lâu đài đồ sộ, như của tổ tiên thủa xưa.
Chúng cùng im bặt. Một ánh lửa nhỏ lóe lên, những cuộn khói thuốc lá lượn lờ bay lên phía tôi. Tôi đã hiểu ra: đứng dưới chân tôi là hai sliăctich. Một thứ thổ ngữ tồi tệ, pha trộn với những từ ngoại lai gốc Ba Lan nên càng trở nên thô tục, chối tai. Hai giọng nói tôi đều nghe quen quen.
- Tớ nghĩ, - sau một hồi lâu lặng thinh, Pátxúk lại lầu bầu: ở đâu còn một nguyên nhân nữa là bọn tôi tớ.
- Cậu nghĩ đúng. Nếu bọn ta diệt được thằng cha này nữa thì chúng sẽ nhũn như chi chi ngay. Chứ không, chúng trở nên láo xược quá. Vụ nổi loạn mới đây, rồi vụ giết viên quản lý của Garabuôcđa. Mắt đứa nào cũng lơ lơ láo láo. Nhất là từ ngày tên Xvetilôvich về đây. Thằng cha ấy mới sống ở đây có một tháng mà đã gây rối cho bọn ta còn tệ hại hơn hỏa hoạn. Hắn giành được bốn tên mugik ngay trong tay các quan tòa, phát đơn kiện hai nhà quý tộc. Đến khi cái lão Bêlôrétxki đến đây nữa thì bọn ta hết sống nổi. Lão ngồi lì ở các nhà bọn mugik, ghi ghi chép chép những chuyện tào lao ngu ngốc. Nhưng không sao, bọn ta mà vặn cổ nốt tên phản bội cả giới sliăcta này nữa thì lũ khố rách áo ôm sẽ hết ho he... Có điều, phải dò xét thêm đứa này cầm đầu cái lũ lấc láo ấy. Tới quyết không tha cho hắn cái tội đốt trụi cây rơi của tớ.
- Có lẽ tớ biết cái thằng khốn nạn ấy là đứa nào. Chính tên gác cổng nhà Kunsa, thằng Rưgôrơ ấy. Cái mặt hắn mới cấc lấc chứ, cứ như mõm sói ấy. Không coi ai ra gì nữa.
- Không sao, rồi hắn cũng có ngày.
Chúng lại im lặng. Lát sau, một tên nói:
- Này kể ra cũng thương con bé Janốpxkaia. Một đứa con gái xinh đẹp như thế mà làm cho mất trí hay giết đi thì ngu ngốc thật. Những cô tiểu thư như vậy, xưa, người ta phải quỳ mọp xuống mà hôn gót son ấy chứ. Cậu có nhớ đêm vũ hội cô nàng vận xiêm y cổ mà múa như thiên nga không? Chà... tuyệt!
- Thì chính ông ta cũng thương, - tên thứ hai đáp.- Nhưng biết làm sao được.
Đoạn, phá lên cười ha hả.
- Cậu làm sao thế?
- Khử nhầm phải thằng khác! Bọn ta đến xúi quẩy. Ông ta lại càng gay. Cậu có nhớ Rôman la hét gì khi bị bọn ta dồn xuống bãi thụt không? Hắn bảo xuống âm ti rồi hắn vẫn sẽ tố giác bọn ta. Thế mà đến nay vẫn câm như thóc.
Sau đó, chúng bỏ đi. Tôi còn nghe được cai giọng ồm ồm của Pátxúk:
- Không sao, chẳng bao lâu nữa bọn ta sẽ đến thăm hỏi cả thằng cha kia nữa.
Tôi nhẹ nhàng tụt xuống đất, lần theo chúng. Chân tôi bước không một tiếng động trên cỏ, có chỗ tôi lại nằm xuống bò.
Và, đương nhiên, tôi lại bị hố một lần nữa vì quên khuấy mất là chúng có ngựa. Chúng khuất sau bụi cây, tôi vừa mới ghìm bước, sợ chạm trán với chúng thì nghe tiếng vó ngựa phóng đi.
Ra được tới đường, tôi chỉ còn kịp trông theo hai kỵ sĩ đang phóng ngựa như điên rời về hướng đông nam.
Những ý nghĩ buồn rầu lởn vởn trong đầu tôi: tôi biết chúng đang săn tìm Nađêia và tôi, sẽ tiêu diệt chúng tôi không thương tiếc, tôi đã để xổng hai tên côn đồ, lại đã nhầm về Bécman một cách thảm hại. Tất nhiên, tôi biết anh ta là một nhân vật mờ ám: bóc trộm thư của tôi, rồi chẳng hiều vì lẽ gì lần mò ra cái nơi kinh khủng này để phải đón nhận một cái chết thê thảm. Chính cái chết ấy đã khiến tôi quên đi mọi tội lỗi khác của anh ta. Nhưng dẫu sao, nhờ nghe lỏm được câu chuyện, tôi đã biết thêm nhiều điều, trước hết, hiện giờ tôi biết đích xác một tên trong cái đội săn ấy. Câu chuyện về những cây rơm bị đốt cháy đã tố giác hắn. Kẻ có những cây rơm bị đốt cháy là sliăctich Mackơ Xtakhêvich, mà tôi từng gặp trong bữa tiệc nhà Đubôtôpkơ. Hôm ấy, hắn làm nhân chứng cho Vôrôna trong vụ đấu súng. Tôi đã lầm về Bécman, nhưng về Vôrôna, có lẽ, tôi không nghĩ lầm. Hắn sẽ không thoát tay tôi. Có điều, từ giờ tôi cần phải kiên quyết hơn...
Nửa đêm, đội săn của Quốc vương Xtác lại xuất hiện. Lại vẫn cái giọng ma quái gào thét, rền rĩ:
- Rôman đời chót, ra ngay! Chúng ta sẽ về. Chúng ta phải kết liễu mi! Rồi chúng ta mới yên nghỉ! Rôman! Ới Rôman!
Tôi lại nấp trong bụi cây cạnh thềm xả súng vào những cái bóng kỵ sĩ ma chơi thấp thoáng ở tận cuối hàng cây bàng bạc ánh trăng mờ. Tôi vừa mới nổ phát đầu tiên thì đoàn người ngựa đã lao vào lùm cây biến mất, như thể chúng không hề tồn tại bao giờ. Thực không khác gì một giấc mơ khủng khiếp...
Đã đến lúc phải kết thúc. Tôi sực nhớ đến lời Mackơ Xtakhêvich nói khi đứng dưới gốc cây, là Rôman đe sẽ tố giác bọn sát nhân ngay cả khi ông ta chết. Tôi chợt nảy ra một ý: có lẽ ông Rôman đã để lại ở nhà hoặc tại nơi bị sát hại một bằng chứng nào đó mà ngay cả cặp mắt tinh tường của Rưgôrơ ngày ấy đã bỏ sót.
Khi Rưgôrơ đến, hai chúng tôi vội ra ngay nơi Rôman bị sát hại. Tôi đi bộ không đến nỗi tồi, vậy mà chạy theo không kịp anh thợ săn cao lớn. Thoạt nhìn, tưởng như Rưgôrơ bước chậm chạp, nhưng các động tác của anh nhịp nhàng, chân anh bước không như người thường mà hơi chụm ngón vào phía trong, đúng kiểu đi của những thợ săn bẩm sinh. Phải nói rằng, người ta đã phát hiện ra là mỗi bước như vậy dài hơn bước bình thường đến ngót ba phân.
Trên đường đi, tôi kể lại cho Rưgôrơ nghe câu chuyện của Mackơ Xtakhêvich với một tên Patxúk nào đó.
- Bọn thủ hạ của Vôrôna đấy, - Rưgôrơ giận dữ lầu bầu. Im lặng một lát, anh tiếp: - Thế mà bọn ta cứ tưởng “Likôl” là phần đầu của một cái họ nào đó. Thành thử cậu hỏi không trúng. Té ra, “Likôl” là biệt hiệu. Phải hỏi tiểu thư Janốpxkaia xem ai có cái biệt hiệu ấy. Nếu như Xvetilôvich, thậm chí rất có thể cả Bécman, biết điều đó, thì tiểu thư cũng phải biết.
- Tôi đã hỏi tiểu thư rồi.
- Cậu hỏi về họ, lại bảo phần đầu của một cái họ, chứ đã hỏi về biệt hiệu đâu.
Vừa trò chuyện, chúng tôi vừa đi đến địa điểm lừng danh mà tôi đã hai lần tả lại, tức chỗ cha của Nađêia bị sát hại. Chúng tôi sục tung lớp cỏ khô, mặc dù tìm tòi bất kỳ thứ gì ở đây sau hai năm trôi qua thì quả thực ngu ngốc. Cuối cùng, chúng tôi tiến đến chỗ bờ cao nhô ra cheo leo trên bãi thụt.
- Chỗ này đây, - Rưgôrơ nói.
Sát mép bờ cao có một gốc cây đã gẫy. Bộ rễ chằng chịt của nó như một ổ rắn to tướng lan bò khắp bờ cao, vươn xuống mặt sình lầy như thể muốn uống nước, hoặc lòng thòng lơ lửng trên không.
Tôi yêu cầu Rưgôrơ nhớ lại xem hôm ấy anh có trông thấy hai tay ông Rôman vươn trên mặt sình lầy không.
Rưgôrơ cụp hai mi mắt nặng nề xuống, suy nghĩ.
- Có. Thậm chí tay phải duỗi thẳng ra, có lẽ ông ta định túm lấy rễ cây, nhưng không với tới.
- Hay là ông ta ném cái gì vào dưới gốc cây, chỗ trông thấy cái hốc cây?
- Thì ta thử tìm xem.
Bám lấy rễ cây, chúng tôi trèo xuống gần sát mặt sình lầy, cố bấu víu vào những mô đất nhỏ trên sườn dốc thẳng đứng. Dưới ổ rễ cây quả có một hốc đất, nhưng trong đó chẳng có gì. Tôi đã định leo lên thì Rưgôrơ dừng tôi lại:
- Bọn ta ngu thật. Nếu như ở đây quả có gì thì nó phải nằm sâu dưới bùn rồi. Ông ta có thể ném thứ gì đó vào đây, nhưng đã hai mươi năm qua rồi, đất trong hốc sạt lở vùi mất vật đó cũng nên.
Chúng tôi dùng ngón tay đào bới lớp bùn đã kết lại, hất ra khỏi hốc. Có tin hay không – tùy các bạn, chỉ lát sau, ngón tay tôi chạm phải một vật gì cưng cứng. Một hộp đựng thuốc lá lọt vào lòng bàn tay tôi. Ngoài ra, trong hốc không còn gì khác.
Chúng tôi leo lên bờ cao và thận trọng cạo sạch lớp bùn nây lẫn đất sét trên mặt hộp. trong hộp có một mẩu vải trắng, có lẽ dùng răng xé ở áo sơ mi. Trên mẩu vải ấy còn lờ mờ những nét chữ đả ngả màu nâu: “Vôrôna giế...”
Tôi nhún vai. Có mà quỷ sứ biết được! Lời tố cáo Vôrôna giết Rôman, hay lời yêu cầu Vôrôna giết ai đó?! Rưgôrơ nhìn tôi.
- Vậy là ta đã tìm ra thủ phạm. Chính Vôrôna đã dồn ông ta xuống đó. Mai, chúng ta sẽ tóm cổ hắn.
- Tại sao lại mai? Rất có thể, hắn sẽ xuất hiện ngay hôm nay.
- Hôm nay thứ sáu. Cậu quên mất điều đó. Người đời vẫn bảo: hôm nay muốn tìm quân ăn cướp, phải đến nhà thờ. Bọn chúng thế mà rất một đạo, thờ chúa chí thành kính đấy. Tay cắt cổ, miệng gọi tên thánh ba ngôi. Chúng sẽ đến ngay ngày mai thôi, vì hết chịu nổi rồi. Chúng phải thanh toán cậu bằng được. – Anh im lặng một lát, rồi bỗng cặp mắt long lanh lên một ánh dữ tợn: - Ngày mai rút cục, tôi sẽ dẫn đám mugik tới – Đem theo đinh ba. Cho cả cậu nữa. Đã đi với bọn tôi, đi cho đến cùng. Ta sẽ rình bọn chúng ở chỗ rào đổ. Diệt cho kỳ hết, cho đến mống cuối cùng. Triệt tận gốc cái giống ma quỷ ấy...
Hai chúng tôi cùng trở về lâu đài Rừng Tùng Đầm Lầy và được báo cho biết là tiểu thư Janốpxkaia có khách. Ông Garabuôcđa đang ở chỗ nàng. Những ngày gần đây, Nađêia lánh mặt tôi. Mỗi khi bắt gặp nhau, nàng thường nhìn lảng đi nơi khác, đôi mắt u tối như mặt nước hồ mùa thu, buồn rười rượi.
Vì vậy tôi phái mụ quản gia lên mời nàng xuống phòng dưới, nơi Rưgôrơ đang gườm gườm đứng nhìn Tượng thánh Juri – trông anh chàng cường tráng cao lớn chẳng kém gì pho tượng. Khi Janốpxkaia bước va ò, Rưgôrơ vội giấu đôi chân xuống gầm ghế bành, ngượng nghịu vì trót in dấu bùn bê bết khắp sàn. Tuy nhiên, giọng nói khi anh hỏi Nađêia, vẫn cục cằn như thường ngày, chỉ đâu đó sâu kín tận đáy lòng thoáng có gì rung động.
- Này tiểu thư, chúng tôi đã tìm ra Quốc vương Xtác. Hắn chính là Vôrôna. Tiểu thư cho mượn vài khẩu súng. Ngày mai bọn tôi sẽ kết liễu chúng.
- Nhân tiện, - tôi xen vào, - tôi đã lầm khi hỏi tiểu thư có biết người nào mang cái họ bắt đầu là “Likôl” hay không. Bây giờ tôi xin phép hỏi lại: tiểu thư có biết ai mang biệt hiệu là “Likôl” không? Vẻn vẹn hai tiếng “Likôl” thôi? Đó là một tên nguy hiểm nhất trong đảng cướp, thậm chí rất có thể hắn chính là đầu sỏ.
- Không! – Nađêia bỗng kêu lên, hai tay ôm lấy ngực, mắt mở to, đờ ra hãi hùng. – Không! Không!
- Hắn là ai vậy? – Rưgôrơ cau có hỏi.
- Xin các bạn hãy thương tôi! Không thể như thế được. Ông hiền hậu, chân thành là như vậy. Ông từng bế Xvetilôvich và tôi trong lòng. Ngày ấy, chúng tôi còn quá bé thơi, không đánh vần nổi tên ông, nói ngọng thành ra cái biệt hiệu ấy, sau này chỉ dùng để gọi ông giữa người thân thích. Rất ít người biết biệt hiệu ấy.
- Hắn là ai vậy? – Rưgôrơ tàn nhẫn lặp lại câu hỏi, hầu như chỉ khẽ nhếch hai hàm cứng như đá.
Nađêia òa khóc. Nàng khóc nấc lên như một đứa trẻ. Cuối cùng, qua tiếng thổn thức, nàng thốt lên:
- Pan Likôl... Pan Rưgôrơ Đubôtôpkơ.
Tôi như bị đâm trúng giữa tim, đứng ngây ra.
- Vô lý! Tiểu thư nói gì vậy? Một người tốt bụng như vậy! Và cái chính, ông được lợi lộc gì cơ chứ? Ông có là người thừa kế đâu!
Nhưng ký ức đã thầm nhắc tôi lời một trang hai tên vô lại đứng dưới gốc cây “Chuộng các đồ cổ”. Và thậm chí cả những mẩu từ bí ẩn... “ân... tiết...” trong lá thư gửi Xvetilôvich cũng lập tức biết hành câu nói cửa miệng của Đubôtôpkơ: “Ôi chư vị thánh nhân tuẫn tiết, điều gì đang xảy ra trên trái đất thế này?!”
Tôi dụi mắt, cố xua tan nỗi bàng hoàng.
Một phỏng đoán vụt lóe lên trong đầu tôi.
- Tôi xin tiểu thư Nađêia chờ cho một lát. Cả anh Rưgôrơ nữa. Tôi lên gặp pa Garabuôcđa. Sau đó, tôi cần phải xem xét giấy tờ của Bécman.
- Vâng, - Nađêia rầu rĩ đáp. – Người ta đã chôn ông ấy rồi.
Tôi chạy lên tầng trê. Trong đầu, cùng một lúc nảy ra hai hướng suy nghĩ: một là Đubôtôpkơ có thể cấu kết với Bécman (vậy tại sao lão giết anh ta?) hai là Garabuôcđa cũng lệ thuộc gì đó vào Đubôtôpkơ.
Khi tôi giật tung cửa, một người đàn ông đã luống tuổi rời ghế bành đứng dậy. Ông ta ngạc nhiên nhìn gương mặt quyết liệt của tôi.
- Xin lỗi pan Garabuôcđa, - tôi thốt lên cộc lốc như ném một viên đá xuống vực thẳm, - tôi buộc lòng phải đặt một câu hỏi về mối quan hệ của ngài với pan Đubôtôpkơ: vì lý do gì ngài lại cho phép ông ta thao túng ngài đến như vậy?
Trông lão như một kẻ trộm bị bắt quả tang. Cái trán thấp bè bè đỏ lựng, cặp mắt láo liên. Nhưng có lẽ nhìn vẻ mặt tôi, lão hiểu ra là đùa cợt với tôi không xong.
- Biết làm sao được. Các ký phiếu... – lão lắp bắp.
Một lần nữa, nhằm vu vơ, tôi lại trúng đích:
- Ngài đã viết ký phiếu cho pan Đubôtôpkơ về trang tấp của tiểu thư Janốpxkaia vốn chưa thuộc quyền sở hữu của ngài, có phải không?
- Một món tiền nhỏ xíu ấy mà. Vẻn vẹn có ba nghìn bác. Cái chuồng chó săn nó ngốn tiền ghê quá...
Mọi sự bắt đầu đâu vào đấy. Cái kế hoạch quỷ quái của Đubôtôpkơ sáng tỏ dần.
- Theo chúc thư của ngài Rôman Janốpxki, - lão lắp bắp, những ngón tay run rẩy cố cậy gì đó trên tấm danh thiếp, - thì... trình tự thừa kế được ấn định như sau. Những người thừa kế trước tiên là con cái Nađêia Janốpxkaia... – Lão ngước lên nhìn, trông đến thảm hại. – Sẽ không bao giờ có những đứa con ấy. Tiểu thư sẽ chết mà... Không bao lâu nữa đâu... Sau đó đến lượt người chồng được thừa kế. Nhưng tiểu thư loạn trí, ai lấy? Bậc tiếp theo là những người cuối cùng thuộc dòng học Janốpxki. Cũng không còn những người như vậy sau cái chết của Xvetilôvich. Tôi là người thân thích với họ Janốpxki theo dòng bên ngoại. Nếu như cả con cái lẫn chồng đều không có, thì tòa lâu đài sẽ thuộc về tôi. – Lão mếu máo: - Nhưng tôi chờ đợi sao được? Ký phiếu ngập tận cổ rồi. Tôi thật là một kẻ bất hạnh. Đa số các ký phiếu ấy, pan Đubôtôpkơ đã mua lại hết... Lại còn đưa thêm ba nghìn nữa... Giờ đây, ông sẽ trở thành chủ nân tòa lâu đài này.
- Ngài nghe đây, - tôi rít qua kẽ răng, - ở đây đã có, đang có và sẽ chỉ có một chủ nhân, đó là panhi Nađêia Janốpxkaia.
- Tôi có hy vọng được thừa kế đâu. Rất có thể, Janốpxkaia vẫn sẽ lấy chồng... Nên tôi chỉ mượn tòa lâu đài làm bảo đảm văn tự ký nợ với pa Đubôtôpkơ thôi mà.
- Thôi được. Ngài không có một chút liên sỉ, cũng không có lương tâm. Cả hai thứ ấy chưa hề ngủ trọ với ngài lấy một đêm. Nhưng không có lẽ ngài không biết việc làm đó là một hành vi vô hiệu về mặt tài chính hay sao? Rằng đó là một hành vi phạm pháp.
- Không, tôi quả không biết ạ. Tôi còn mừng nữa là khác.
- Vậy ngài có biết là chính ngài đã đẩy Đubôtôpkơ đến chỗ phạm những tội ác kinh khủng mà ngôn ngữ loài người không thể định danh được hay không? Người con gái đáng thương ấy có tội tình gì mà các người rắp tâm sát hại?
- Tôi vẫn nghi ngờ có tội ác trong những chuyện ở đây ạ, - lão lắp bắp, - nhưng còn chuồng chó, nhà của tôi...
- Đồ thối tha! Tôi không thèm bẩn tay với ông. Tòa án tỉnh sẽ hỏi đến. Tạm thời tôi quyết định giam ông một tuần dưới hầm tòa lâu đài này để ông không thể báo động cho bè đảng vô lại của ông.
- Như thế là lộng hành ạ, - lão mếu máo.
- Ông, một tên vô lại, mà cũng mở miệng kêu lộng hành và cầu cứu pháp luật ư? – tôi quát lên. – Ông biết gì về pháp luật! Đồ nhơ bẩn!
Tôi gọi Rưgôrơ lên. Anh ta đẩy Garabuôcđa xuống nhà hầm không cửa sổ ở phần trung tâm tòa lâu đài.
Cánh cửa sắt đóng sầm lại.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com