Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

end1

Vấn đề chính quyền như Lênin đã nhiều lần chỉ rõ là vấn đề cơ bản và quyết định sự phát triển của cách mạng. Người nhấn mạnh: "Chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếu nhất của mọi cuộc cách mạng. Giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả". Vì vậy, Đảng cộng sản khi lãnh đạo cách mạng nhất thiết đặt lên hàng đầu mục tiêu giành lấy chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, đánh đuổi giặc ngoại xâm để giành lấy chính quyền đã khó, thì việc giữ vững chính quyền về tay nhân dân lại càng khó khăn hơn, lâu dài và gian khổ hơn. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh điều đó, đặc biệt là trong giai đoạn sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, việc giữ vững một chính quyền còn non trẻ trong thời kỳ 1945-1946 với vô vàn những khó khăn, thù trong, giặc ngoài.

1. Hoàn cảnh lịch sử nước ta sau Cách mạng Tháng Tám và chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Đảng

Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới được thành lập đã phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Đất nước bị các thế lực đế quốc, phản động bao vây và chống phá quyết liệt.

Cuối tháng 8 - 1945, theo thoả thuận của Đồng minh ở Hội nghị Pốtxđam (Posdam), gần 20 vạn quân của chính phủ Tưởng Giới Thạch ồ ạt kéo vào nước ta từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Theo chúng là lực lượng tay sai phản động trong hai tổ chức "Việt quốc" và "Việt cách" Vào Việt Nam, quân Tưởng Giới Thạch còn ráo riết thực hiện âm mưu tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, đánh đổ chính quyền cách mạng, lập chính quyền phản động tay sai của chúng. Đằng sau quân Tưởng là đế quốc Mỹ đang nuôi dã tâm đặt Đông Dương dưới chế độ "uỷ trị", một trá hình của chế độ thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh với danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp quân đội Nhật đã đồng loã và tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại Đông Dương. Ngày 23-9-1945, được quân Anh giúp sức, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai.

Trên đất nước ta lúc đó còn có khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Một số quân Nhật đã thực hiện lệnh của quân Anh, cầm súng cùng với quân Anh dọn đường cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam.

Lúc này, các tổ chức phản động "Việt quốc", "Việt cách", Đại Việt ráo riết hoạt động. Chúng dựa vào thế lực bên ngoài để chống lại cách mạng. Chúng quấy nhiễu, phá rối, cướp của, giết người, tuyên truyền, kích động một số người đi theo chúng chống lại chính quyền cách mạng và đòi cải tổ Chính phủ lâm thời và các bộ trưởng là đảng viên cộng sản phải từ chức. Chưa bao giờ trên đất nước ta có mặt nhiều thù trong, giặc ngoài như lúc này.  

Hơn nữa, Chính quyền cách mạng non trẻ tiếp quản một nền kinh tế nghèo nàn, một xã hội lạc hậu. Sản xuất hầu như ngưng trệ, đất canh tác bị bỏ hoang, nhân dân thiếu lương thực, thực phẩm tiêu dùng. Nhà nước không có gạo dự trữ, ngân khố trống rỗng. Nạn đói hoành hành ở nhiều vùng thuộc đồng bằng Bắc bộ. Tệ nạn xã hội và các di sản của văn hóa nô dịch quá nặng nề, trình độ dân trí thấp, 95% số dân không biết chữ. Cán bộ cách mạng hầu như chưa có kinh nghiệm quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, xã hội. Nước VNDCCH hầu như bị bao vây, cô lập với thế giới bên ngoài. Tình thế của dân tộc, của cách mạng vô cùng hiểm nghèo; vừa phải chống lại kẻ thù xâm lược, vừa phải khắc phục nạn đói, nạn dốt để bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc. Vận mệnh tổ quốc, dân tộc trong thế "ngàn cân treo sợi tóc".  

Thuận lợi

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, uy tín và địa vị của Liên Xô được nâng cao trên trường quốc tế. Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc có điều kiện phát triển, trở thành một dòng thác cách mạng. Phong trào dân chủ và hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ.

ở trong nước, chính quyền nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được kiến lập có hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của dân tộc. Lực lượng vũ trang nhân dân đang phát triển. Toàn dân tin tưởng và ủng hộ Việt Minh, ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dưới sự lãnh đạo khéo léo của Đảng, của Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ tối cao của dân tộc, toàn dân, toàn quân đoàn kết một lòng trong mặt trận dân tộc thống nhất, quyết tâm giữ vững nền độc lập tự do của dân tộc.

tình hình khó khăn của của đất nước đòi hỏi đảng phải có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn mới có thể bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng;  chủ trương, biện pháp giữ chính quyền phải tuyệt đối chính xác, nếu không kẻ thù có thể mượn cớ lật đổ chính quyền cách mạng của nhân dân.

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tỉnh táo và sáng suốt phân tích tình thế, chiều hướng phát triển của các trào lưu cách mạng trên thế giới và sức mạnh mới của dân tộc làm cơ sở để vạch ra chủ trương và giải pháp đấu tranh giữ vững chính quyền, bảo vệ nền độc lập tự do.

A/ XD và củng cố bảo vệ chính quyền CM và chế độ XH mới:

Ngay Sau ngày tuyên bố độc lập, ngay 3/9 chính phủ đã họp phiên đầu tiên đề ra 6 nhiemj vụ cấp bách: nạn đói/ nạn dốt/ tổng tuyern cử/ cần kiệm liêm chính/ bỏ thuế thân thuế chợ thuế đò và cấm hút thuốc phiên/ tự do tín ngưỡng, lương giáo đoà kết.

13/9 chủ tịch HCM ký các sắc lệnh 33a 33b 33c lập các toà án quân sự xét sử tất cả những ai có ahnfh vi phương hại đến nề độc lập của VN, Sau đó tiếp tục ký các sắc lệnh lập uỷ ban dự thảo hiến pháp, uỷ ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử, sắc lệnh về tổ chức wuyeefn hạn cách làm việc của HĐND và uỷ ban hành chính các cấp. Nhứng sắc lệnh trên tạo cơ sở pháp lý cho nhà nước non trẻ.

. Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Chỉ thị nhận định tình hình thế giới và trong nước, chỉ rõ những thuận lợi cơ bản và những thử thách lớn lao của cách mạng nước ta. Trung ương Đảng xác định: Tính chất của "cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng"1. Cuộc cách mạng ấy chưa hoàn thành vì nước ta chưa hoàn toàn độc lập. Khẩu hiệu của ta lúc này vẫn là "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết". Phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương nêu rõ "kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng"2. Vì vậy phải "lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược"3; mở rộng Mặt trận Việt Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân; thống nhất Mặt trận Việt - Miên - Lào; kiên quyết giành độc lập - tự do - hạnh phúc cho dân tộc.

Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc nêu ra nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân cả nước ta lúc nay là "củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân"4.

Xem xét âm mưu của chủ nghĩa đế quốc đối với cách mạng Việt Nam và Đông Dương cũng như những hành động xâm lược của thực dân Pháp ở Nam Bộ cho thấy, việc Đảng ta xác định nhiệm vụ chiến lược trên đây là đúng đắn. Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" còn nêu rõ những nhiệm vụ cấp bách trước mắt là "củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân". Trong hoàn cảnh có nhiều khó khǎn, thử thách nặng nề và hoàn toàn dựa vào sức mình, Đảng ta ý thức rõ là phải khẩn trương tǎng cường thực lực cách mạng về mọi mặt mới có khả nǎng tự bảo vệ có hiệu quả. Trước hết, Đảng nhấn mạnh việc củng cố sức mạnh về chính trị, tinh thần của chế độ mới. Chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng, do vậy củng cố chính quyền cách mạng là nhiệm vụ hàng đầu. Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc đã giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng khôn khéo trong tình thế vô cùng hiểm nghèo của nước nhà. đã thể hiện tầm cao mới trong nhận định tình hình và chỉ đạo cách mạng

Trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, bọn đế quốc phản động ra sức ngăn trở, quấy phá, Đảng kiên quyết lãnh đạo, tổ chức cuộc tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 để nhân dân tự mình chọn lựa bầu những đại biểu chân chính của mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp kỳ thứ nhất đã bầu Hồ Chí Minh giữ chức Chủ tịch Chính phủ và trao quyền cho Người lập chính phủ chính thức – Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Tại kỳ họp thứ hai (tháng 11-1946), Quốc hội đã thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quyền làm chủ nước nhà, quyền và nghĩa vụ của mọi công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Nhân dân cũng đã khẩn trương bầu Hội đồng nhân dân và Hội đồng nhân dân đã bầu Uỷ ban hành chính các cấp.

Để tǎng cường sức mạnh về chính trị, cùng với việc củng cố chính quyền, Đảng chủ trương mở rộng khối đoàn kết toàn dân trên cơ sở phát triển các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh, tổ chức thêm những đoàn thể cứu quốc mới. Thu hút vào Mặt trận những tầng lớp tư sản, địa chủ yêu nước và tiến bộ. Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh Mặt trận Việt Minh, một mặt trận mới là Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Liên Việt được thành lập tháng 5-1946 nhằm đoàn kết tất cả các lực lượng và cá nhân chưa có điều kiện tham gia Mặt trận Việt Minh trước đây cùng phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường. Khối đoàn kết dân tộc trong Mặt trận Việt Minh và Liên Việt là cơ sở chính trị, xã hội rộng lớn bảo đảm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, của chế độ mới trước những khó khǎn thử thách nặng nề.. Các tổ chức quần chúng khác cũng được củng cố, mở rộng thêm: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam... lần lượt ra đời. Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập nhằm đoàn kết những trí thức yêu nước Việt Nam.

Đảng ta coi trọng việc xây dựng và phát triển công cụ bảo vệ chính quyền cách mạng như quân đội, công an. Lực lượng vũ trang tập trung được phát triển về mọi mặt. Cuối năm 1946, lực lượng quân đội thường trực mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam có 8 vạn người. Việc vũ trang quần chúng cách mạng, quân sự hoá toàn dân được thực hiện rộng khắp. Ngay từ đâu, Đảng đã rất chǎm lo xây dựng, củng cố công an nhân dân, coi đó là công cụ trọng yếu đấu tranh chống các thế lực phản cách mạng, bảo vệ thành quả cách mạng. Chính quyền cách mạng đã nhanh chóng xoá bỏ bộ máy cai trị của chính quyền cũ, giải tán các đảng phái phản động.  kiên quyết trừng trị bọn phản quốc lợi dụng khó khǎn của cách mạng và dựa vào thế lực bên ngoài để chống phá cách mạng. Các âm mưu lật đổ của địch đều bị thất bại. Việc khám phá và đưa ra xét xử vụ bắt cóc, cướp của, giết người của bọn phản động ở phố ôn Như Hầu tháng 7-1946 đã làm thất bại kế hoạch lật đổ chính quyền cách mạng, làm tan rã hàng ngũ bọn phản động, đồng thời biểu lộ sức mạnh và uy tín của chính quyền nhân dân.

Như vậy, trong một thời gian ngắn, chính quyền nhân dân do Đảng lãnh đạo đã xây dựng được Hiến pháp, có Quốc hội, Chính phủ, có các cơ quan dân cử và cơ quan hành chính các cấp được xây dựng và từng bước củng cố, kiện toàn. Quyền lực và sức mạnh của chính quyền được phát huy trong đấu tranh chống xâm lược, trấn áp bọn phản động và tổ chức, động viên sức mạnh về mọi mặt của nhân dân trong việc giữ gìn thành quả cách mạng.

Để sự nghiệp kháng chiến kiến quốc giành được thắng lợi, đảng ta đã xác định nhiệm vụ trung tâm là củng cố chính quyền nhân dân. Ngay từ những ngày đầu, Đảng đã chú trọng lãnh đạo, xây dựng nền móng của chế độ dân chủ mới, xóa bỏ toàn bộ tổ chức bộ máy chính quyền thuộc địa, giải tán các đảng phái phản động. Với chủ trương tổ chức sớm cuộc tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu, lập chính phủ chính thức, chấn chỉnh các cơ quan chính phủ, soạn thảo Hiến pháp…  Đảng ta đã khẳng định trên thực tế và về mặt pháp lý, một chính quyền thật sự do nhân dân xây dựng nên, một chính quyền của dân và vì dân. Kết quả cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam biểu thị ý chí và sức mạnh của toàn dân xây dựng và bản vệ chính quyền. Việc kiện toàn chính quyền cách mạng từ trung ương tới cơ sở có ý nghĩa to lớn cả về đối nội và đối ngoại và là bước tiến quan trọng nhằm tǎng cường sức mạnh về chính trị.

B Về KT VH XH

Cùng với việc xây dựng chính quyền nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động thi đua sản xuất; động viên nhân dân tiết kiệm giúp nhau chống giặc đói; thực hiện bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ thực dân; tiến hành tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho nông dân nghèo, chia lại ruộng đất công một cách công bằng, hợp lý; giảm tô, giảm thuế, miễn thuế cho nông dân vùng bị thiên tai; chủ trương cho mở lại các nhà máy do Nhật để lại, tiến hành khai thác mỏ, khuyến khích kinh doanh... Đảng đã động viên nhân dân tự nguyện đóng góp cho công quỹ hàng chục triệu đồng và hàng trăm kilôgam vàng, nền tài chính độc lập từng bước được xây dựng.

Đảng đã vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ mọi tệ nạn văn hóa nô dịch của thực dân, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển phong trào bình dân học vụ để chống nạn mù chữ, diệt "giặc dốt". Một năm sau Cách mạng Tháng Tám đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết.

Các trường học từ cấp tiểu học trở lên lần lượt được khai giảng. Đảng và Chính phủ rất coi trọng khai giảng các trường đại học đã có mở thêm trường đại học mới.

Thắng lợi bước đầu trong cuộc đấu tranh xây dựng nền móng chế độ mới, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ rằng, nếu "nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì"2. Nhân dân được hưởng quyền tự do dân chủ, dân sinh càng thêm tin tưởng, gắn bó và quyết tâm bảo vệ chế độ mới. Đó là sức mạnh để bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng, là sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng thù trong giặc ngoài.

            Thành công lớn của Đảng trong thời kỳ này là tǎng cường thực lực cách mạng về mọi mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, vǎn hoá tư tưởng, đồng thời phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân với tư cách người chủ đất nước để xây dựng và bảo vệ chế độ mới và nền độc lập dân tộc. Sức mạnh của chính quyền và chế độ mới thật sự bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân.

C Tiến hành KC chống TD P ở Nbo:

Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng tiến công ra các tỉnh Nam Bộ, Thường vụ Trung ương Đảng đã nhất trí với quyết tâm kháng chiến của Xứ uỷ Nam Bộ và kịp thời lãnh đạo nhân dân đứng lên kháng chiến. Trung ương Đảng đã cử một phái đoàn do Hoàng Quốc Việt, Uỷ viên Thường vụ Trung ương Đảng và nhiều cán bộ tăng cường cho Nam Bộ để cùng Đảng bộ Nam Bộ chỉ đạo kháng chiến. Ngày 25-10-1945, Hội nghị Cán bộ Đảng bộ Nam Bộ họp ở Thiên Hộ - Cái Bè - Mỹ Tho (Tiền Giang). Hội nghị chủ trương phát động chiến tranh du kích rộng khắp để tiêu hao sinh lực và chặn bước tiến của giặc; xây dựng, củng cố cơ sở cách mạng trong thành phố và các vùng địch chiếm; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, trong đó bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và hệ thống tổ chức, chỉ huy thống nhất. Đảng phát động toàn dân triệt để tổng đình công, bãi công, bãi chợ, không hợp tác với địch, làm đúng lời thề trong lễ tuyên bố độc lập, đông thời tiến hành chiến tranh du kích rộng khắp, kìm chân và tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của địch.Như vậy, Đảng bộ Nam Bộ đã có những quyết định quan trọng để phát triển chiến tranh nhân dân.

Đảng đã phát động phong trào cả nước hướng về Nam Bộ. Hàng vạn thanh niên nô nức lên đường Nam tiến. Nhân dân miền Nam "thành đồng Tổ quốc" chiến đấu với sức mạnh của chiến tranh nhân dân, sức mạnh của cả dân tộc đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của thực dân Pháp. Trong thư Gửi đồng bào Nam Bộ ngày 26-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân. Chúng ta nhất định thắng lợi vì cuộc tranh đấu của chúng ta là chính đáng"3.

 Chính cuộc đấu tranh vũ trang anh dũng dựa trên sức mạnh của quân dân cả nước đã gây cho địch nhiều khó khǎn, làm thất bại kế hoạch đánh nhánh thắng nhanh của chúng, buộc thực dân Pháp phải đàm phán với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà.

D. Đấu tranh ngoại giao:

Cùng với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng chế độ mới và tổ chức kháng chiến ở miền Nam, Đảng ta đã thực hiện sách lược lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù để phân hoá chúng, tránh tình thế đương đầu cùng một lúc với nhiều kẻ thù.

Để gạt mũi nhọn tiến công của kẻ thù vào Đảng, ngày 11-11-1945, Đảng ta tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo chính quyền và nhân dân. Để phối hợp hoạt động bí mật với công khai, Đảng để một bộ phận công khai dưới danh hiệu Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương. Đây là giải pháp cần thiết, một quyết định sáng suốt của Đảng ta nhằm tự bảo vệ chính quyền Cách mạng, bảo toàn lưc lượng. Nhưng Đảng vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo cách mạng, xem đó chỉ là một giải pháp cần thiết, bắt buộc trước tình thế hiểm nghèo của cách mạng, Đảng phải "lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn"  

1 Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Trung ương Đảng đã chỉ rõ: thực dân Pháp là kẻ thù nguy hiểm hơn, là kẻ thù chính, cần phải tập trung mũi nhọn vào chúng. Xác đinh thực dân Pháp là kẻ thù chính, bởi vì chúng đã và đang trắng trợn vũ trang xâm lược nước ta ở Nam Bộ. Thực dân Pháp rắp tâm đặt lại ách thống trị của chúng ở Đông Dương. Âm mưu đó được thể hiện trong Tuyên ngôn của chính phủ Đờ Gôn ngày 24-3-1945. Nhận rõ âm mưu của chủ nghĩa đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng ta cho rằng, các thế lực đế quốc sẽ đi đến dàn xếp với nhau để cho thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Trước sau chính quyền Tưởng Giới Thạch cũng "sẽ bằng lòng cho Đông Dương trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhượng cho Tưởng nhiều quyền lợi quan trọng". Như vậy, việc tập trung chống thực dân Pháp lúc này là hoàn toàn đúng. Để tập trung đối phó với thực dân Pháp, cần phải hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng. Bởi lẽ chúng chưa thể trắng trợn gây chiến tranh xâm lược nước ta được. Như vậy, tranh được tình thế khó khǎn bất lợi là phải đối đầu với cả quân Pháp và quân Tưởng cùng một lúc.

Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ quân Tưởng vào nước ta với ý đô lật đổ Chính phủ ta, lập nên chính quyền tay sai của chúng nhưng lại dưới danh nghĩa quân Đồng minh làm nhiệm vụ tước vũ khí quân Nhật, nên Đảng ta đề ra chính sách "Hoa - Việt thân thiện", có những nhân nhượng nhất định, chính là chủ động ngǎn chặn và làm thất bại âm mưu lật đổ của chúng, tỏ rõ thiện chí của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ quân Đồng minh trong việc giải giáp quân Nhật, không để họ kiếm cớ lật đổ chính quyền của ta. Đây là sự nhìn nhận và xử trí cực kỳ tinh tế sáng suốt, tránh được sự đối đầu có thể dẫn tới đổ vỡ. Khi quyết đính sách lược hoà hoãn với Tưởng, Đảng ta cũng nhận rõ những mâu thuẫn, khó khǎn trong nội bộ quân Tưởng. Chính quyền Tưởng tuy có Mỹ giúp sức, song đang phải đối phó với sự phát triển của cách mạng Trung Quốc do Đảng cộng sản lãnh đạo và nước Trung Hoa đang đứng trước một cuộc nội chiến mới. Chính quyền Tưởng tuy tham vọng thì lớn, nhưng thực lực có hạn, đội quân Tưởng kéo sang Việt Nam tuy đông nhưng ô hợp, tổ chức kém và hậu cần khó khǎn, nên chúng không thể muốn gì là làm được, không thể không trông mong vào những khả nǎng hậu cần tại chỗ. Do đó, chúng không thể không giao thiệp và dựa vào chính quyền của ta đã được xác lập, để có thể giải quyết những nhu cầu cấp thiết. Sức mạnh của cách mạng nước ta, là đã không chỉ tự lực giành chính quyền, mà còn đang tự bảo vệ có hiệu quả thành quả cách mạng của mình, đã làm cho chính quyền Tưởng cũng phải từng bước điều chỉnh chính sách của họ.

Cuộc biểu dương lực lượng của 30 vạn nhân dân thủ đô Hà Nội trong buổi đón Hà Ưng Khâm, tổng tư lệnh quân đội Tưởng và phái bộ Đồng minh đến Hà Nội ngày 2-10-1945 là biểu thị ý chí và sức mạnh của nhân dân Việt Nam đoàn kết xung quanh Chính phủ Hồ Chí Minh. "Tàu Tưởng trước kia định kéo quân sang ta âm mưu lật đổ chính quyền do Việt Minh tổ chức ra để đặt một chính phủ bù nhìn lên thay. Nhưng sang ta, họ thấy toàn dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh, nên họ đành phải giao thiệp với Chính phủ ấy".

Từ sự phân tích khách quan chỗ mạnh, chỗ yếu của từng kẻ thù, tin vào sức mạnh của cách mạng, của chính nghĩa, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự nhân nhượng với quân Tưởng trên một số mặt. Về kinh tế, Chính phủ Việt Nam nhận cho quân Tưởng tiêu tiền "quan kim" mặc dù điều đó làm cho tài chính và thương mại của ta càng thêm nguy ngập . Chính phủ và nhân dân ta nhận cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng trong hoàn cảnh đất nước chưa ra khỏi nạn đói. Về quân sự, Đảng chủ trương tránh xung đột với quân Tưởng, tỉnh táo để không rơi vào âm mưu và hành động khiêu khích lật đổ của chúng. Về chính trị, Đảng chủ trương mở rộng Chính phủ lâm thời thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, để cho một số nhân vật của Việt Quốc, Việt Cách (tay sai của Tưởng) tham gia Chính phủ.

 Trong hoàn cảnh có nhiều đảng phái đối lập công khai dựa vào thế lực bên ngoài để chống phá chính quyền cách mạng, Đảng ta tuy phải rút vào bí mật, nhưng không thể buông lỏng vai trò lãnh đạo chính quyền. Chấp nhận cho các đảng phái đối lập hoạt động, thậm chí tham gia chính quyền là sự nhân nhượng lớn có tính chất bắt buộc, nhưng đó chỉ là sách lược của ta với chính quyền Tưởng lúc này, còn giữ vững sự lãnh đạo của Đảng ta là một nguyên tắc chiến lược. Chúng ta biết rõ các đảng phái phản động (Việt Quốc, Việt Cách..., hoàn toàn dựa vào quân Tưởng, nên khi đội quân đó rút đi thì các tổ chức đó cũng không có chỗ đứng trong lòng quốc gia, dân tộc và chiêu bài "yêu nước", "cách mạng" cũng bị chính những hành động phản nước, hại dân của họ lột bỏ. Đối với các đảng phái thân Tưởng, Đảng ta chủ trương phân hoá nội bộ của chúng, kéo lấy những phần tử trung thực còn có tinh thần yêu nước; đồng thời, chỉ cho quần chúng thấy bọn lãnh tụ các tổ chức đó "chẳng qua là một bọn cơ hội đê hèn, vì chúng chỉ biết vâng lệnh nước ngoài và đặt quyền lợi riêng lên trên quyên lợi dân tộc". Với sách lược khôn khéo trong quan hệ với Tưởng và các thế lực tay sai của chúng, Đảng và nhân dân đã làm thất bại âm mưu và hành động khiêu khích, lật đổ của quân Tưởng. Chủ động đưa ra chính sách Hoa - Việt thân thiện, chẳng những đã gạt bỏ được những âm mưu hành động chống phá của một kẻ thù lớn và xảo quyết, mà còn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng và nhãn quan chính trị sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính sách đó đã vô hiệu hoá sự chống phá của các đảng phái phản động mà ý đồ của chúng không có gì khác là dựa vào quân Tưởng để đoạt lấy chính quyền, thống trị nhân dân ta và làm tay sai cho các thế lực đế quốc và phản động nước ngoài. Sách lược của Đảng ta đối với Tưởng đã góp phần quan trọng ổn định miền Bắc và mọi mặt để tập trung sức chống lại thực dân Pháp xâm chiếm Nam Bộ.

2 Từ tháng 11-1945, trong chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, Đảng đã phân tích và cho rằng, trước sau chủ nghĩa đế quốc cũng dàn xếp với nhau và chính quyền Tưởng cũng để Đông Dương trở về tay Pháp. Diễn biến lịch sử cho thấy nhận định trên là hoàn toàn đúng. Ngày 28-2-1946, Tưởng và Pháp đã ký Hiệp ước Hoa - Pháp, thoả thuận để quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng "canh giữ tù binh Nhật" và "giữ trật tự theo "hiệp ước quốc tế". "Hiệp ước Hoa - Pháp không phải là chuyện riêng của Tàu Tưởng và Pháp. Nó là chuyện chung của phe đế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc địa. Dù nhân dân Đông Dương muốn hay không muốn, nhất định chúng cũng thi hành Hiệp ước ấy" Thực chất đây là sự mua bán chính trị giữa các thế lực đế quốc, phản động, một sự áp đặt như "việc đã rồi", bất kể Chính phủ và nhân dân Việt Nam có thừa nhận hay không.

Tình hình phức tạp trên đây đi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng quyết định tiếp tục đánh hay tạm thời hoà với Pháp? Chỉ thị "Tình hình và chủ trương" của Trung ương Đảng ngày 3-3-1946 đã chỉ dẫn: vấn đề lúc này không phải là muốn hay không muốn đánh, "vấn đề là biết mình biết người, nhận định một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng". Chỉ thị phân tích rõ, "lúc chúng ta ngǎn quân Pháp vào Bắc Việt Nam thì chính là lúc bọn phản động Việt Nam sẽ đứng ra lập chính phủ bù nhìn, đi đôi với thực dân Pháp đánh ta, buộc cho ta là phiến loạn, là chống Liên Hiệp Quốc, là phản hoà bình và chính lúc đó quân Tàu trắng sẽ kiếm cớ ở lại Đông Dương cùng thực dân Pháp và bọn phản động Việt Nam đánh ta". Tạm thời hoà với Pháp, cho quân Pháp vào miền Bắc sẽ tránh được tình thế bất lợi cùng một lúc phải chiến đấu với nhiều kẻ thù, bảo toàn được thực lực, có thời gian củng cố chính quyền và thành quả cách mạng, tǎng thêm tiềm lực để đưa cách mạng tiến lên bước phát triển mới,tranh thủ thời gian hoà hoãn với Pháp để sớm gật được quân Tưởng và loại trừ bọn tay sai.

 Như vậy, sách lược mới của Đảng ta mang ý nghĩa "Hoà để tiến". Trong những ngày trước và sau khi công bố "Hiệp ước Hoa- Pháp", nhiều quan chức và tướng lĩnh Pháp ở Việt Nam, kể cả Xanh-tơ-ni và Xa-lǎng đêu có các cuộc giao tiếp với Chính phủ ta để dàn xếp cho quân Pháp vào miền Bắc. Trên thực tế "chúng vẫn gờm cách mạng Đông Dương và dư luận quốc tế nên cả Tàu Tưởng lẫn Pháp cũng muốn dàn xếp với ta về việc quân Pháp kéo vào Bắc nước ta". Chính các đại diện của nước Pháp ở Việt Nam lúc đó cũng phải thừa nhận một thực tế là họ không thể dễ dàng đưa quân vào miền Bắc nếu không đàm phán với Chính phủ ta, "nếu không được sự đồng ý của Cụ Hồ". Đảng ta cũng chỉ rõ những lý do chính thức đẩy thực dân Pháp phải thương lượng với Chính phủ ta: "Một là, cuộc kháng chiến của ta làm cho chúng hao tổn; hai là, phong trào phản chiến nảy nở trong nhân dân và quân đội Pháp; ba là, nhân dân Pháp và Chính phủ Goanh (trong đó cộng sản và xã hội chiếm đa số) không muốn kéo dài cuộc đổ máu ở Đông Dương; bốn là, chính Anh - Mỹ cũng sợ cuộc chiến đấu giành độc lập của Đông Dương và Nam Dương kéo dài thì ảnh hưởng của nó sẽ đẩy mạnh thêm phong trào đòi độc lập ở các thuộc địa khác". Xét về khả nǎng quân sự, lúc này thực dân Pháp cũng chưa đủ sức để tiến hành ngay cuộc chiến tranh xâm lược cả nước ta, chúng cũng cần thời gian hoà hoãn để có thêm viện binh. Mặt khác, thực dân Pháp muốn đàm phán với Chính phủ ta để quân Pháp vào miền Bắc mà không phải đụng độ ngay, sau đó củng cố chỗ đứng, rồi lấn tới và cuối cùng có thể thực hiện "màn đảo chính", để nhanh chóng đặt lại sự thống trị của chúng đối với nước ta. Từ sự phân tích tình hình một cách khách quan, toàn diện, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định tạm thời hoà hoãn và có nhân nhượng cần thiết để cho quân Pháp vào miền Bắc, nhưng không phải hoàn toàn theo Hiệp ước Hoa - Pháp, mà phải theo những điều kiện đàm phán ký kết giữa ta và Pháp. Sự nhân nhượng của ta là có nguyên tắc. Trước hết là Pháp phải công nhận quyền tự chủ (chứ không phải tự trị) của nhân dân Việt Nam được ghi trong Điều 1 của Hiệp định sơ bộ ký ngày 8-3-1946 tại Hà Nội giữa đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp và đại diện Chính phủ Việt Nam.

 Ngày 9-3-1946, Trung ương Đảng ra bản chỉ thị Hoà để tiến. Chỉ thị phân tích rõ thắng lợi và ý nghĩa quan trọng của bản Hiệp định sơ bộ, thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng và nhân dân ta. Bản chỉ thị nhắc nhở và đề phòng xu hướng "tả" khuynh, không muốn hoà với Pháp, "không tin chủ trương hoà với Pháp là đúng". Xu hướng này có thể xuất phát từ lòng yêu nước chính đáng, nhưng nông nổi, rất dễ dẫn đến hành động vô nguyên tắc, vô chính phủ và dễ bị bọn phản động khiêu khích. Chỉ thị cũng lưu ý xu hướng hữu khuynh, ngây thơ tưởng rằng Hiệp định Việt - Pháp làm cho dân tộc ta tránh được mọi khó khǎn rồi. Xu hướng này dễ gây mất cảnh giác, không chuẩn bị đối phó với mọi bất trắc, không sẵn sàng chiến đấu, nếu thực dân Pháp tráo trở. Trong khi hoà hoãn, nhân nhượng với thực dân Pháp, Đảng vẫn chủ trương thực hiện sách lược khôn khéo, mềm dẻo với chính quyền Tưởng.

 Ngày 18-3-1946, Chính phủ ta cử một phái đoàn sang Trùng Khánh để giữ quan hệ hoà hảo với Chính phủ Quốc dân đảng Trung Hoa. Lịch sử đã chứng minh rằng, chủ trương hoà với Pháp là một đòn nặng đánh vào âm mưu thâm độc của Tưởng và tay sai "phá cuộc đàm phán giữa ta và Pháp, đẩy ta chống lại Hiệp ước Hoa - Pháp, để cho cả ba lực lượng: Tàu trắng, thực dân Pháp và bọn phản động Việt Nam quay lại tiêu diệt ta". Chủ trương đó cũng đã lợi dụng được mâu thuẫn về quyền lợi giữa Pháp và Tưởng - cả hai thế lực này đều muốn thôn tính và độc chiếm nước ta, ký hiệp định với Pháp để gạt quân Tưởng và kéo theo sự tan rã của bọn phản động tay sai của Tưởng. Điều đặc biệt quan trọng là chủ trương này đã tạo điều kiện để củng cố và tǎng cường lực lượng cách mạng nước ta về mọi mặt. "Gần một nǎm tạm hoà bình đã cho chúng ta thời giờ để xây dựng lực lượng cǎn bản". Cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả và phát triển thực lực cách mạng của nhân dân ta từ sau Hiệp định sơ bộ diễn ra hết sức phức tạp và gay gắt. Một mặt, ta kiên trì đấu tranh ngoại giao, duy trì khả nǎng hoà hoãn, tỏ rõ lập trường hoà bình, hữu nghị với nước Pháp; đồng thời, kiên quyết đấu tranh đẩy lùi những âm mưu, hành động khiêu khích, xung đột, lấn tới của bọn thực dân Pháp.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thǎm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp từ ngày 31-5-1946. Cuộc đàm phán chính thức ở Pan giữa đoàn đại biểu Chính phủ ta và Chính phủ Pháp bắt đầu từ ngày 6-7-1946, nhưng không đạt được kết quả.

Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng ở Pháp và đại diện nhiều tổ chức quốc tế. Người đã nói rõ lập trường hòa bình hữu nghị và nguyện vọng thiết tha độc lập tự do của nhân dân và Chính phủ Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí và giành thêm thời gian hòa bình, trước khi rời nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ước (ngày 14-9-1946), thoả thuận một số điều về quan hệ kinh tế, văn hóa giữa hai nước, đình chỉ xung đột ở miền Nam và sẽ tiếp tục đàm phán vào tháng 1-1947.

Thiện chí và những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đàm phán của Chính phủ ta tuy không đạt mục đích ký hiệp định chính thức, nhưng đã làm cho nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ ta, làm cho dư luận quốc tế chú ý đến Việt Nam và hiểu nguyện vọng tha thiết hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cũng nhờ đó, chúng ta đã duy trì một khoảng thời gian hòa bình hiếm có để tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt. cảnh giác và sẵn sàng đối phó với sự bội ước của thực dân Pháp và sự phá hoại của bọn việt gian thân Pháp.

 Trong chỉ thị Hoà để tiến, Đảng ta đã lưu ý "sau khi đổ bộ và đóng lại các nơi cǎn cứ rồi, rất có thể bọn thực dân Pháp quay ra kiếm chuyện tiến công ta để lật đổ chính quyền nhân dân, cho bọn bù nhìn Việt gian thân Pháp lên thay. Bởi vậy, vẫn phải tiếp tục chuẩn bị những việc kháng chiến lâu dài, nhưng làm kín đáo để tránh mọi sự hiểu nhầm giữa ta và Pháp". Việc thực dân Pháp đem quân chiếm đóng trái phép Phủ toàn quyền cũ ở Hà Nội ngày 25-6-1946, âm mưu làm đảo chính lật đổ Chính phủ ta vào ngày 14-7-1946 và lập ra "Chính phủ Nam Kỳ tự trị" v.v. ngày càng lộ rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, nguy cơ bùng nổ chiến tranh trên phạm vi cả nước ta là không tránh khỏi. Vừa nhân nhượng vừa cảnh giác và kiên quyết đấu tranh khi không thể nhân nhượng được nữa thì nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng quyết tâm tiến hành kháng chiến để giành độc lập, thống nhất hoàn toàn.

Như vậy, trong vòng 16 tháng (từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946), một trong những thành công nổi bật của Đảng ta góp phần bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng là đã triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Lúc thì hoà hoãn nhân nhượng với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm thời hoà hoãn với Pháp để đuổi nhanh quân Tưởng. Đó là những biện pháp cực kỳ sáng suốt và là một mẫu mực tuyệt vời của sách lược lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù và sự nhân nhượng có nguyên tắc, thể hiện tư tưởng dĩ bất biến ứng vạn biến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tranh thủ thời gian hoà hoãn, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tích cực đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, tích trữ lương thực, phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng các chiến khu, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, chính quyền nhân dân được củng cố vững chắc hơn, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Quốc hội thông qua; tích cực tuyên truyền trong nước và quốc tế về cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta. Qua lãnh đạo đấu tranh và xây dựng, Đảng đã lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Nội bộ của Đảng được củng cố, thống nhất, đội ngũ cán bộ của Đảng được đào tạo và phát triển. Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở miền Nam có điều kiện phát triển thuận lợi hơn.

Trong vòng vây và sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động, trong điều kiện chưa có sự giúp đỡ trực tiếp của các nước anh em, bầu bạn trên thế giới, sự tồn tại và vững mạnh của Nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ được quyết định bởi chính sức mạnh của nhân dân và của dân tộc. Chính bản lĩnh và sự sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã tạo thành sức mạnh không thể phá vỡ nổi mà kẻ thù không thể không thừa nhận. Những chính sách về chính trị, kinh tế, vǎn hoá, xã hội đúng đắn đã khơi dậy sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn của nhân dân. Tất cả đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, tạo nên thế và lực mới của chính quyền nhân dân.

Những kinh nghiệm của Đảng ta trong thời kỳ này:

Thực tiễn lịch sử của thời kỳ này đã đem lại cho Đảng ta nhiều kinh nghiệm quý báu:

Thứ nhất,nhanh chóng xác lập cơ sở pháp lý và tính hợp hiến  của chính quyền , chú trọng xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, chế độ XH mới. Thực hiện hoà hoãn, nhân nhượng với kẻ thù nào, Đảng ta cũng luôn luôn giữ vững nguyên tắc chiến lược, là giữ vững chủ quyền và mục tiêu độc lập thống nhất đất nước, giữ vững chính quyền và thành quả cách mạng. Nguyên tắc hoà với Pháp là giữ vững quyền tự chủ. Giữ vững nguyên tắc nhưng không cứng nhắc mà có sự mềm dẻo về sách lược và linh hoạt về hình thức đấu tranh, luôn luôn nêu cao chính nghĩa và tỏ ra thiện chí của ta.

Thứ hai, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, dựa vào dân. Phát huy cao độ sức mạnh của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chính quyền. Chính quyền được xây dựng sau Cách mạng Tháng Tám thực sự của dân, do dân và vì dân. Chính phủ đã thực hiện những chính sách thiết thực như: bầu cử dân chủ, chính sách ruộng đất, xoá nạn mù chữ... để nhân dân có thể hưởng những quyền lợi do chế độ mới đem lại, từ đó ủng hộ, tin tưởng tuyệt đối vào chính quyền, vào Đảng. Tranh thủ thời gian chuẩn bị cho kháng chiến. Đảng xác định phải có thực lực cách mạng, nghĩa là phải có sức mạnh cần thiết. Cách mạng không đủ mạnh thì kẻ thù không bao giờ chịu lùi bước. ở đây sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân là một trong những nhân tố cơ bản. Dựa trên sức mạnh của quần chúng nhân dân để chủ động tiến công, phân hoá hàng ngũ địch. Trên thực tế "muốn ngoại giao thắng lợi, phải biểu dương thực lực".

Thứ ba, lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính, nguy hiểm nhất. Giai đoạn này, chúng ta đã lợi dụng mâu thuẫn (Anh - Pháp, Mỹ -Tưởng, mâu thuẫn giữa các nhóm trong chính quyền và quân đội Tưởng, mâu thuẫn trong nội bộ thực dân Pháp) để phân hoá, làm suy yếu các kẻ thù, tranh thủ xây dựng lực lượng và bảo vệ được chính quyền nhân dân. Thực hiện nhân nhượng có nguyeentawsc, sách lược ngoại giao thêm bạn bớt thù… không thể có thành công về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù nếu không tỉnh táo, sáng suốt về chính trị, hoặc mất cảnh giác, ảo tưởng vào sự thành thật của kẻ thù. Khi hoà hoãn và nhân nhượng phải dự kiến những diễn biến xấu nhất để chủ động đối phó. Bất kể trong tình hình nào cũng phải chủ động. Sự chủ động dựa trên sự phân tích đúng đắn những vấn đề phát sinh phức tạp, lòng tin vững chắc và quyết tâm cách mạng rất cao của đội tiên phong lãnh đạo là Đảng ta, kết hợp với nhiệt tình cách mạng của nhân dân ta.

Thứ tư, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng. Mặc dù Đảng rút vào hoạt động bí mật, nhưng vẫn không ngừng củng cố và phát triển. Trong điều kiện có nhiều đảng phái tham gia chính quyền, Đảng vẫn giữ vai trò lãnh đạo nhà nước một cách khéo léo. Vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm việc giữ vững bản chất cách mạng của chính quyền nhân dân. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị đã phân tích, đánh giá đúng âm mưu, hành động, thế và lực của từng kẻ thù để kịp thời có đối sách thích hợp.

Liên hệ với việc xây dựng nhà nước hiện nay

Hiện nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt NamXHCN đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách, phức tạp trước sự vận động, biến đổinhanh chóng, khó lường của tình hình thế giới, của các mối quan hệ quốc tế. Mốiquan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta là đảm bảo lợi ích quốc gia dân tộc -xây dựng đất nước phát triển bền vững, xây dựng thành công CNXH; độc lập, tự docủa Tổ quốc, an ninh và phát triển là lợi ích tối cao của dân tộc. Để đảm bảolợi ích quốc gia dân tộc, cần nhận thức rằng, bối cảnh tình hình mới đang làmcho hình thức tập hợp lực lượng, diễn biến các mối quan hệ quốc tế, các phươngthức hợp tác cũng đa dạng và phong phú hơn. Trước những biến động đó, mộtmặt, chúng ta phải giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH -mục tiêu bất biến; mặt khác, cần ý thức đầy đủ mối quan hệ giữa hợp tácvà đấu tranh; nhân nhượng và đấu tranh trong hợp tác quốc tế. Trong một thếgiới đang biến đổi sâu sắc, việc xử lý đúng đắn và hài hòa quan hệ của Việt Namvới các nước láng giềng và nước lớn, biết mình, biết người là điều kiện quantrọng để đảm bảo vững chắc độc lập dân tộc. Trên ý nghĩa ấy, những kinh nghiệm lịch sử từ việc ký kết Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) vẫn soi rọi con đườngđưa đất nước đi tới phồn vinh.

Từ những thành công của Đảng trong việc xây dựng, bảo vệ chính quyền giai đoạn 1945-1946, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình xây dựng nhà nước ta giai đoạn hiện nay như sau :

Một là, phải gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa hẳn vào dân, vì lợi ích của nhân dân, đó là nguồn gốc sức mạnh của chính quyền trong các giai đoạn cách mạng.

 Hai là,  phải thường xuyên củng cố bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, chống nguy cơ quan liêu hoá, bảo đảm khả nǎng tự bảo vệ.

Ba là không ngừng chǎm lo xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội là sự bảo đảm cho chính quyền nhân dân vững mạnh .

Bốn là phải có sách lược mềm dẻo, khôn khéo,  phải biết kết hợp giữa thế - thời - lực để lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh; phải biết phải biết xác định đúng kẻ thù chính của từng giai đoạn  biết mình biết địch, nhân nhượng có nguyên tắc,

Năm là sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh và sự tồn tại của chính quyền nhân dân .

Tóm lại, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân là một bài học lớn của quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân ta từ khi Đảng lãnh đạo chính quyền. Diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ quá độ ở nước ta đòi hỏi Đảng và nhân dân ta nâng cao cảnh giác, nỗ lực phấn đấu xây dựng chính quyền nhân dân thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là công cụ có hiệu lực nhất tổ chức thắng lợi sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: #end1