Chương 3: trưởng tôn nhà Chúa
Lý Hi Bạch lên ngôi, tôn hiệu là Minh Đức đế, chọn niên hiệu là Đại Thịnh với đại ý đất nước dưới sự trị vì của ông sẽ ngày càng vững mạnh và hưng thịnh, dân chúng được sống trong cảnh ấm no, thái bình.
Nhiều đời vua Lý sau này đều dùng chữ Đức khi đặt tôn hiệu để noi gương chân lý trị quốc của Minh Đức đế, làm vua thì phải biết yêu lấy dân, phải dùng tấm lòng bác ái như cha mẹ để đối đãi với dân để không đi vào vết nhơ của triều đại vua Dương năm xưa, khiến lòng dân oán hận nghìn đời.
Sau khi lên ngôi, vua Lý sửa đổi lại các luật lệ khắc nghiệt của triều đại cũ, đề cao tính nhân đạo khi ban hành những đạo luật mới như trả lại đất đai, bãi bỏ thuế sưu vô lí trước kia.
Nhà Chúa Trịnh đứng trước sự giao thoa giữa hai triều đại cũng vấp phải những nguy nan bấp bênh, thế lực ngày càng yếu kém hơn với quyền lực nhà vua.
Khi ấy, chúa Trịnh hiểu rõ, nếu không thuận theo ý vua mới thì cơ nghiệp mấy đời nhà Chúa sẽ bị tước đoạt. Vì vậy, trong suốt hơn trăm năm dưới thời vua Lý, nhà Chúa đã không còn có thể giương oai hống hách như trước kia.
..
Năm 1442, tức là vào năm thứ hai mươi Khâm Hòa, Hiếu Tông Thánh Đức đế bỗng dưng mắc một căn bệnh oái ăm: vào mùa hè thì phát sốt đỏ ran cả người, vào mùa đông thì da nổi mẩn đỏ nếu không tắm nước lạnh thì sẽ không thuyên giảm, hễ trái gió trở trời thì lập tức đổ bệnh khiến quần thần vô cùng lo lắng, đứng ngồi không yên.
Thừa dịp thiên tử rơi vào cảnh bệnh tật, chúa Trịnh mượn cớ giúp vua lo chuyện triều chính mà âm mưu gây dựng lại quyền lực trước kia, từng bước một thâu tóm vương quyền của vua.
Vua Lý bệnh tật triền miên, tuy chỉ có thể nằm vật ra giường nhưng vua vẫn nhất mực cho diễn ra các buổi chầu sớm đều đặn, mỗi ngày ra lệnh hầu cận phải đọc hết một lượt tấu sơ, cái nào cấp thiết thì phê tấu ngay còn nếu không thì để sang ngày hôm sau vua đỡ hơn rồi duyệt.
Song, vốn cơ thể đã đau yếu vì bệnh tật nay còn chịu lao lực quá độ, thần sắc nhà vua ngày càng tiều tụy.
Tuyên Thái hậu thấu hiểu nỗi lòng của vua Lý nhưng là một người mẹ, bà lại càng thương xót nhiều hơn cho con trai mình.
"Biết con nặng lòng vì dân vì nước nhưng nay bệnh tình ngày một thuyên giảm, chi bằng chia một nửa tấu sớ cho nhà Chúa.."
Vua nghe đến đây thì ho sùng sục "Xưa kia nhà Chúa chuyên quyền, phần nhiều những cuộc nổi dậy đều có phần Chúa chứ không chỉ riêng triều đình nhà Dương. Là ai thổi vào tai Thái hậu những điều xằng bậy để người khuyên can ta như thế?"
Tuyên thái hậu nước mắt lưng trong, đau xót vuốt ve lồng ngực nhà vua.
"Ta hiểu, nhưng hơn trăm năm nay nhà Chúa đều chịu quy phục dưới trướng vua ta..có lẽ chúng đã từ bỏ ý định năm xưa. Thân là mẹ mà không phụ giúp được con lòng ta khổ đau trăm bề.."
Bà thấy nhà vua đương muốn tiếp lời thì vội vàng nói thêm vài câu, "Nếu muốn nhanh khỏi bệnh thì phải an tâm tịnh dưỡng, tránh lao lực quá sức thì chỉ còn cách nhờ nhà Chúa giúp ta. Mẹ biết điều con canh cánh trong lòng, nếu nhà chúa thật sự có ý định làm quấy thì sao ta lại có thể để chúng nhởn nhơ thế kia?"
Nhà vua càng nghĩ càng thấy không an tâm nhưng bỗng nhiên bệnh tật tái phát, vua đau đớn ho ra búng máu tươi. Khi ấy Người mới chịu giao một nửa việc triều chính cho nhà Chúa trông coi.
Lại nói về nhà Chúa, sau khi được vua Lý tự nguyện trọng dụng thì Chúa càng ra sức bành trướng thế lực trong triều, hơn một nửa quần thần đều quy hàng dưới trước nhà Chúa, một lòng thờ phụng Chúa.
Chúa Trịnh tên thật là Trịnh Hữu, là một người túc trí đa mưu, tinh thông cả võ nghệ lẫn nho học. Tuy nhiên, chúa lại chỉ có được hai mụn con gái dù cho đã cưới rất nhiều thê thiếp, vì vậy hai người con gái ấy được chúa hết mực yêu chiều.
Sau khi lớn lên, một trong hai người con gái của Chúa vì đem lòng yêu một nông phu rồi chẳng may mang thai, Trịnh Hữu biết tin thì cả giận, đày người con gái thành thường dân rồi đuổi cổ đi ngay trong đêm, sang hôm sau thì thông cáo thiên hạ công chúa Trịnh Mẫn Chi phạm tội lăng loàn nên bị phế truất. Từ đấy về sau không còn ai nghe thấy tin tức về nàng nữa.
Bẵng đi một năm sau, trong một đêm mưa to gió lớn, trước cửa phủ Chúa lại xuất hiện một rổ mây chứa một đứa nhỏ, trong rổ đi kèm chỉ có một cái vòng ngọc cùng với mảnh vải được viết bằng máu đỏ tươi.
Trong thư nói đứa nhỏ lọt lòng cách đây không lâu này là con trai của thứ nữ Trịnh Mẫn Chi, nó đích thị là đứa cháu trai ruột thịt của chúa Trịnh.
Chúa bán tính bán nghi nhưng khi nhìn thấy cái vòng tay năm xưa chúa đích thân sai người khảm tặng, còn khắc chữ Trịnh lên trên thì đã tỏ tường.
Chưa hết, bức huyết thư còn kể rõ nỗi lòng khốn khó của Trịnh Mẫn Chi. Sau khi bị đuổi ra khỏi phủ, Chi có tìm đến nơi ở của nông phu kia monng được ở cùng nhưng khi nghe tin Chi vốn đã bị phế truất còn bị đuổi ra khỏi phủ Chúa thì dứt khoát xua đuổi nàng. Hận tình lang bạc bẽo tuyệt tình, nàng Chi tủi nhục bỏ lên trên núi sâu tìm nhà hoang mà tá túc.
Hằng ngày đi kiếm củi trên rừng về sửi ấm, đói thì đào khoai, nấm dại, hái rau rừng mà ăn, khát thì lấy tô hứng nước mưa để uống. Đêm chỉ có thể nằm lót lưng trên mớ rơm ẩm mốc, cuộc sống khốn khó đủ đường. Song, nàng vẫn quật cường tìm đường sống sót để hạ sinh đứa nhỏ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên khi chào đời, đứa nhỏ rất yếu ớt. Chi biết thân mình còn lo không xong thì huống chi là nuôi con, nàng gắng gượng chút sức tàn còn lại để xé rách miếng vải rồi viết ra một bức huyết thư đầy thương tâm, lê lết cơ thể tàn tạ xuyên qua màn mưa đêm tìm đến phủ Chúa. Nàng mong cầu, nếu Chúa không niệm tình cha con thì cũng nể tình mà thương xót đứa cháu máu mủ thịt thà này mà cưu mang nó.
Chúa nghe đến đây thì cả giận nhưng nghĩ đến nhà Chúa đã lâu không có thế tử nối nghiệp cơ đồ, nay có được một đứa cháu trai thì càng phải ra sức chăm lo rèn dũa để mai sau còn làm chuyện lớn.
Chúa ẵm đứa nhỏ trên tay, trông thấy mặt mày của nó sáng sủa, đôi chân mày tuy còn mờ nhạt nhưng lại toát lên khí chất lạ thường. Có lẽ mai sau sẽ làm nên đại sự, vậy nên chúa bèn lấy tên gọi là Huân, lót một chữ Chí với mong muốn tên vận vào mệnh người, tên như người mà người cũng như tên.
Lại nói, sau khi Huân được chúa cho về phủ ở, được kẻ hầu người hạ, chăm bẵm hết mực nên phát triển rất nhanh, chỉ mới lên hai mà Huân đã nói chuyện rất sỏi. Khi lên ba thì lộ rõ khí chất hơn người, trí nhớ rất tốt, vừa thông minh lại sáng dạ nên dạy gì là nhớ ngay. Đứa cháu trai này rất được lòng Chúa, ngày một lớn thì lại càng thêm xuất chúng.
Khi Huân lên tám thì người dì cả là Trịnh Mẫn hạ sinh một đôi trai gái, phủ Chúa lại càng thêm náo nhiệt sum vầy. Tuy Trịnh Kiệt – con trai Trịnh Mẫn cũng được nuôi dạy hệt như Trịnh Chí Huân, song, lại không có được tư chất thông minh như Huân. Chúa thấy vậy càng thêm yêu quý đứa cháu này.
Nói về Vua Lý, sau khi nằm liệt trên giường bệnh suốt mấy năm liền thì long thể càng thêm yếu ớt, cẳng tay cẳng chân chỉ còn da bọc xương, đã không còn phong thái hiên ngang của bề trên trước kia.
Khâm Hòa năm thứ 25, Hiếu Tông Thánh Đức đế băng hà, lập con trai thứ là Lý Bình Cường lên ngôi.
Vương quyền vốn đã nằm trong tay nhà chúa hơn nửa, sau khi vua mới lên ngôi thì nhân lúc chính sự còn đang nhiễu loạn, chúa đã ngay lập tức thao túng chuyên quyền, mở ra hàng loạt biến sự sau này.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com