Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

ho bieu chanh 4

Hạnh Phúc Lối Nào

1. LẦN THEO LỐI CŨ

Ở thành thị hay ở thôn quê mỗi chỗ có một thứ vui riêng. Trong chốn thôn quê, hễ mùa mưa vừa dứt, mùa nắng tới rồi, thì cảnh vật trông ra vui vẻ lạ lùng, vui mà khỏi lo xệp túi hao tiền, vui mà khỏi sợ xa hoa trụy lạc.

Thú vui là thú vui được tiếp xúc với cảnh đời thiệt thà, thơ thới, giản dị, ôn hòa của đám nông phu, vui được cảm thấy cách buồn lo, cách bực tức, cách hối hận, cách thẹn thùa, cách yêu gia đình, cách quí danh dự của hạng bình dân gái trai già trẻ. Phải gần gũi đặng thấy rõ bề cư xử của người sống giữa đồng bái, mới thấu hiểu cá tánh và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Vậy ai muốn tìm hiểu thế thái nhân tình thì nên nới ra khỏi chốn thị thành, mới biết thú vui đáng mến, mới thấy sự thật đáng hiểu.

Nếu các bạn không tin lời của chúng tôi, thì chúng tôi mời các bạn đi chơi với chúng tôi vài bữa. Chẳng cần phải lội lặng đi đâu cho xa. Chúng ta đi xuống vùng Cần Giuộc cách Saigon vài chục cây số ngàn mà thôi. Chúng ta chung sống với nông gia một thời gian, thì cũng đủ cho chúng ta hài lòng và sáng trí.

Đây chúng tôi giở hé thử một góc bức màn đen tối che đậy cuộc sanh sống thôn quê, giở hé cho các bạn liếc mắt sơ qua mà nhìn xem ít gia đình nông dân, xem vài nhà có cơm tiền với vài nhà thường thiếu hụt, xem người thiệt thà chơn chất chớ không phải dại khờ, còn tham lam thiệt cũng dám hung hăng ngang ngược vậy.

Năm nầy cũng như các năm khác. Bước qua đầu tháng 11 thì buổi chiều gió chướng thổi lai rai, còn đêm khuya gió bấc phất man mát.

Trong vườn quýt, cam đều đơm trái, bầu, mướp đua trổ bông, dưới bầu trời xanh xanh với vài cụm mây trông trắng trắng.

Còn ngoài đồng thì rải rác có người đứng theo mấy bờ ruộng mà câu cá, đầu đội nón lá, mình mặc quần áo sơ sài, đứng châm bẩm, dầu rê cá lóc hay là nhử cá rô, cũng bền chí đứng cả buổi, không sợ nắng, không biết mỏi. Giữa cánh đồng minh mông, gần hay xa đâu đâu cũng là lúa, mấy chú câu nầy giúp tạo ra một bức tranh đẹp đẽ, hữu cảnh, hữu nhơn, lại có mấy xóm dạng dạng[1] phía trong xa, với giặng cây trâm bầu áng trước mấy cái nhà sùm sụp.

Đồng im lìm, bằng thẳng, mấy đám lúa sớm đã chín rồi nên phơi màu vàng, hứa hẹn áo quần Tết cho con, vợ. Mấy đám lúa lỡ, bông trổ đã gần đều nên khoe màu xám xám, sắp giúp tiền để sắm lễ vật mà cúng quải trong ba ngày xuân. Còn những đám lúa xanh dờn, chỗ thì bụi đương nở, chỗ thì đã ngậm đòng đòng, cả thảy đều chung giúp cho nông gia thanh toán chi phí hoặc nợ nần nuôi sống gia đình quanh năm, mà còn dư để giúp cho tô điểm cửa nhà, hoặc để dự phòng tốn hao bất trắc.

Trong vùng Cần Giuộc cũng như các vùng xa xôi khác, đến lúc nầy nhơn dân giàu hay nghèo thảy đều hân hoan thơ thới, quên hết các cực nhọc đã qua để vui rước sung sướng sắp tới, bởi vậy già trẻ đều lăng xăng rộn rực, người đi thăm lúa, kẻ lo trồng rau, mong ước lúa bán được giá cao, hàng mua được giá thấp đặng ngày Tết vui say chơi ít bữa mà chào năm mới bình an mạnh giỏi.

Từ trong vườn trong rẫy ra ngoài ruộng ngoài sông, chỗ nào cũng thấy cuộc sanh hoạt mạnh mẽ của con nhà nông. Ấy là triệu chứng tâm hồn vững vàng cứng cõi của dân tộc Việt Nam cương quyết sanh tồn, không kể cuộc đời đổi xây không sợ tai họa năm dọa.

Ở trên Chợ Lớn đi xuống Cần Giuộc, khi gần tới dốc cầu đúc bắt để qua chợ, nếu các bạn lưu ý thì tự nhiên các bạn sẽ thấy bên phía tay mặt có một thớt vườn sum sê, nằm cách công lộ chừng một trăm thước. Từ mé lộ vô tới vườn có một bờ đắp rộng lớn cao ráo, xe ngựa xe hơi vô ra dễ dàng. Bờ phóng ngang qua đám ruộng, hai bên không có trồng cây cối chi hết, đầu trong đi ngay vô giữa vườn, không có cửa ngõ, nhưng phía nầy mỗi bên có trồng một hàng cây bông bụp để làm hàng rào. Dài theo rào đó thì trồng cây sua đũa, đến mùa nầy nó trổ bông trắng nõn xem cũng vui vui. Qua khỏi rào rồi thì tới một cái sân rộng lớn bỏ trống để mùa gặt chất lúa bó mà đập, còn một bên thì có một cái chuồng lợp lá dừa để nhốt trâu.

Sau cái sân nầy thì có một tòa nhà nhỏ ngói ba căn hai chái, nền đúc, cửa cuốn, cất theo kiểu xưa. Phía sau nữa mới có nhà bếp, vựa lúa, chuồng heo, chuồng gà, chuồng vịt, rồi thì tới vườn có cau trầu dừa chuối trồng chen nhau lộn xộn.

Hỏi ra mới biết cuộc nhà nầy là cuộc của bà Xã Cầm ở. Xóm nầy gồm hơn một chục nóc gia, chớ không phải bà Xã Cầm ở riêng một mình. Vì bà ở đầu ngoài lại có vườn áng khuất các nhà khác ở dọc theo mé rạch Cần Giuộc, nhằm phía sau vườn của bà, bởi vậy đi ngoài công lộ ngó vô không thấy được. Cả xóm ai cũng là tá điền và bà con xa xa với chồng bà hết.

Tưởng nên nói phứt cho các bạn hiểu bà Xã Cầm nầy là ai.

Bà Xã Cầm là một bà sương phụ năm nay đã 60 tuổi, đầu tóc bạc hoa râm, răng rụng hết vài cái, nhưng sức khỏe bà vẫn còn đầy đủ. Thuở nay bà ở với tá điền tá thổ có nhơn, ở với bà con bên chồng có nghĩa, bởi vậy trong làng trong xóm, từ già chí trẻ, ai cũng kính mến bà. Mà cả vùng nầy từ cầu Ông Thình xuống Cần Giuộc, Mồng Gà, Chợ Trạm, Cần Đước, qua tới Rạch Đào, Rạch Kiến, ai nghe tên bà cũng đều kính nể.

Người ta nói quả quyết rằng không phải tại bà giàu có nên bà được thiên hạ kính nể: Bà là một sương phụ, chồng bà hồi sanh tiền chỉ mới làm chức Xã trưởng mà thôi chớ không có oai quyền gì. Hiện thời bà có nhà cửa ruộng đất, nhưng bình thường mỗi năm bà thâu góp huê lợi lối hai ngàn rưởi thùng lúa; bà phải mua trâu mướn bạn làm dây ruộng trước nhà nên số lúa của bà mới lên được ba ngàn thùng. Ấy vậy bà là người có cơm tiền, chớ không phải là người giàu lớn nên thiên hạ kiên sợ. Sở dĩ người ta kính nể ngợi khen bà chỉ vì bà là người ham nhơn nghĩa, biết lễ giáo, bà biết thương nhà nghèo, bà ở phải với bà con làng xóm, bà sẵn lòng cứu giúp những người bị tai nạn, nhứt là bà biết thủ tiết với chồng, chồng chết hồi bà 26 tuổi mà bà ở góa nuôi con, ở góa trót 40 năm trường, không có tiếng tăm chi hết, cái hạnh đó mới thiệt là quí.

Tại như vậy nên ở vùng Cần Giuộc, ai nghe nói đến tên bà Xã Cầm thì cũng cho là bà là "người hiền đức". Bà được thiên hạ tặng cho cái danh tốt như vậy thiệt là quí. Có nhiều bà, chồng làm đến chức Hương Cả, có huê lợi hàng năm bằng mười số lúa của bà, mà nào có được ai khen ngợi quí trọng như bà vậy đâu.

Bà Xã Cầm được như vậy là vì bà sanh trưởng trong nhà nho học ở bên Rạch Đào. Ông thân sanh của bà hồi trước học thức rộng, làm thuốc hay, ông dạy dỗ bà trong khuôn khổ nho giáo.

Nhũ danh của bà Lê Thị Nữ. Khi bà được 20 tuổi, cha mẹ gả bà cho Nguyễn Văn Cầm, con trai của một ông Hương sư có cơm tiền ở bên Cần Giuộc.

Về nhà chồng, nhờ có nho phong của cha ung đúc, nên bà giữ trọn phận làm dâu thảo làm vợ hiền. Chẳng may làm dâu mới được một năm thì cha mẹ chồng lần lượt chết hết. Vì chồng bà là con một trong gia đình, bởi vậy bà tận tâm giúp chồng cư tang trúng đạo, cúng tế đủ lể.

Đến năm bà 23 tuổi, bà mới sanh được đứa con trai. Vợ chồng vui mừng lựa tên Nguyễn Văn Đường mà đặt cho con.

Cha mẹ để lại một cuộc nhà với vài chục mẫu ruộng. Cầm tính lo làm ruộng đặng nối nghiệp của mẹ cha. Cầm cày cấy 4 mẫu đất chung quanh nhà, còn 16 mẫu xa thì chia cho tá điền mướn. Trong nhà nhờ có vợ lo bề nội trợ, Cầm làm trong ít năm thì số lúa đã được thêm nhiều.

Làng thấy Cầm có cơm tiền, lại tánh tình thuần hậu, mới ép cử làm Xã trưởng. Không thể từ chối được. Cầm phải ép lòng lãnh chức mà giúp việc làng. Nào dè làm xã trưởng chưa được một năm, Cầm nhuốm bịnh rồi chết, bỏ lại người vợ góa 26 tuổi với đứa con côi cúc mới 3 tuổi.

Thím Xã Cầm chồng chết mà thím còn trẻ quá, sắc đẹp mới nở nên hình dáng yêu kiều, nho phong nhồi mài nên tánh tình thuần hậu; đã vậy mà thím còn làm chủ một sự nghiệp khả ái, một năm có sẵn lúa ngàn. Ấy là một miếng mồi ngon treo mà nhem nhèm bợm tham tài với khách háo sắc gần xa, bởi vậy thiếu chi kẻ lân la hoặc dòm ngó.

Thím xã ta lại không quan niệm cảnh đời sống tương lai của thím như ý thiên hạ tưởng tượng. Thím nhận thấy trời đất từ đây phú cho thím ba nhiệm vụ ấy đều cao thượng cả ba.

Thứ nhứt: thủ tiết với chồng mà thờ chồng và thay thế cho chồng mà phụng sự mẹ cha ông bà bên chồng;

Thứ nhì: nuôi dạy đứa con thơ ngây đặng chừng khôn lớn nó đủ trí mà nối nghiệp cho tông môn;

Thứ ba: giữ gìn tài sản của ông cha lưu hạ, đặng ngày sau giao lại cho con, nếu bành trướng them được thì càng tốt; còn như không được thì cũng phải giữ cho y nguyên không phép làm hao mòn mẻ sứt.

Đã biết gánh thì nặng, đường thì xa, nhưng thím xã ta cương quyết vừa xách vừa bưng thím để cả ba gánh lên vai rồi mạnh mẽ bước vào đường đời ngó ngay trước mặt mà đi tới, không kể yến anh nhảy nhót trên rào hoặc hát ca ngoài ngõ.

Hễ nói sao thì làm vậy, dầu mệt cũng không thối chí, dầu buồn cũng không thở than. Trót mấy năm thím Xã tiếp tục cày cấy ruộng gần và cho mướn ruộng xa, cũng như hồi chồng còn sống. Thím chăm nom thờ phụng cúng quẩy chồng và ông bà cha mẹ bên chồng hẳn hoi. Thím cậy người trong xóm dạy con tập đọc tập viết, hễ rãnh thì thím dạy con điều nên lẽ hư cho con nghe, chỉ tánh tốt tật xấu cho con thấy, cố tâm ung đúc cho con trở nên người đứng đắn, mà cũng mong gây đời hạnh phúc sẵn cho con an hưởng.

Khi bé Đường được 8 tuổi, thím cho qua trường Cần Giuộc học. Thím kiểm điểm công lao của thím lại, thì thím nhận thấy cả ba nhiệm vụ thím đều làm được vuông tròn. Số huê lợi cho mướn ruộng với số lúa làm ra thím dành dụm được một số tiền khá lớn. Thím tu bổ nhà cửa cho chắc chắn, dọn dẹp vườn sân cho sạch sẽ, mà thím còn mua thêm được một sở ruộng 10 mẫu trong mé Rạch Mồng Gà. Công phu được kết quả tốt đẹp như vậy càng nung chí cho thím đi tới hoài. Bành trướng thêm sự nghiệp cho con và xây dựng nền hạnh phúc để con hưởng, đó là hai mục tiêu của thím, không bao giờ thím quên cho được.

Vốn con nhà có giáo dục, bé Đường biết kính mến cha mẹ, biết quí trọng tông môn. Lớn lên chàng thấy trong gia đình có một mình bà mẹ còn mà săn sóc dạy dỗ chàng mà thôi, chớ ông cha đã quá vãng hết, bởi vậy chàng đặt tất cả tình thân yêu vào bà mẹ, phải mẹ vui thì chàng mới vui, chớ mẹ buồn thì chàng không vui được. Nghe mẹ dặn phải ân cần học tập để lập thân thì chàng đi học chàng chăm chú, học siêng năng đặng làm cho vui lòng mẹ. Với ý trí ấy tự nhiên chàng học mau tinh tấn, được mẹ với thầy rất vui lòng, mà cũng được chúng bạn đều yêu mến.

Năm lên 13 tuổi, Đường thi đậu bằng tiểu học. Thím Xã Cầm thầm nghĩ chàng còn nhỏ quá, để ở nhà không ích gì. Hơn nữa muốn làm người thông thạo cần phải mở rộng vòng nghe thấy, nhứt là cần phải tiếp xúc với đời cho biết hay dở dại khôn, bởi vậy thím đem Đường lên Saigon gởi ở nhà một người quen đặng chàng học tiếp trong một trường tư thục cho ngày sau khỏi quê mùa nhút nhát.

Đường học được 4 năm. Mà năm sau chàng cứ bịnh hoài, học không tấn phát. Thím Xã lên đem con đến bác sĩ khám sức khỏe. Bác sĩ nói Đường phổi với tim đều không tốt. Ông khuyên kiếm chỗ có cảnh thanh tịnh, có gió mát mẻ cho Đường ở tốt hơn là ở Saigon.

Thím Xã nghĩ vì kiếng họ Nguyễn của Đường không trường thọ, lại ít con ít cháu, bây giờ chỉ còn có một mình Đường xơ rơ đó mà thôi. Vậy điều cần thiết là phải duy trì sức khỏe cho con, chớ học cho nhiều rồi mang bịnh mà phải chết sớm thì càng thêm hại. Huống chi giá trị của con người do nơi tâm chí của đức hạnh, chớ không phải nhờ học thức rộng, với địa vị cao. Nhà đã có sẵn cơm tiền, Đường chẳng cần phải làm thầy hay làm ông đặng lãnh lương mà nuôi sống. Ở nhà lo tiếp dưỡng sức khỏe, chừng lớn khôn thì cưới vợ mà lập gia đình, rồi cư xử cho đúng đắn, trong nhà lo phụng tự ông bà, giữ sự nghiệp của tổ tiên, kính bà mẹ, yêu vợ con, ra đường biết hòa nhã với mọi người, biết tuân hành pháp luật, làm được bao nhiêu đó, tuy không cao sang, song cũng khỏi ai chê cười mà hổ thẹn.

Nghĩ như vậy thím Xã mới xin con thôi học rồi rước con trở về nhà mà hoạn dưỡng, tổ chức bề ăn ở cho con thong thả thảnh thơi, khuyên con mua sách mua báo đặng đọc để giải khuây, sớm mơi với chiều mát xúi con ra ruộng mà hứng thanh khí.

Sống giữa cảnh im lìm mát mẻ trong chốn thôn quê. Đường phục sức khỏe lần lần. Bây giờ đã được 17 tuổi rồi, lại có lìa nhà xa mẹ lên Sai gon ở học mấy năm, chàng đã được thấy thói đời với tình người chút đỉnh. Về nhà hễ trời mát thì chàng hoặc vác cần câu đi câu cá, hoặc thả bước qua chợ dạo chơi. Trưa nắng và đêm tối thì chàng nằm đọc sách. Mọi việc trong nhà cho tới việc ruộng nương và vườn tược thì mẹ đều giành lo lắng hết, lại còn chăm nom từng miếng ăn giấc ngủ cho chàng nữa.

Không có cha, từ nhỏ Đường chỉ được bà mẹ tưng tiu nựng nịu mà thôi. Thuở nay Đường yêu mẹ thiệt, nhưng yêu vì mẹ dỗ ngủ, mẹ đút cơm, mẹ ẵm bồng, mẹ tắm rửa, yêu vì gần gũi mẹ đêm ngày, nên thành thói quen mà yêu, tình yêu ấy chưa có ý nghĩa sâu xa cao cả. Hôm nay đã có trí suy xét, đã biết công ơn bà mẹ mang nặng đẻ đau, dạy đủ điều, nuôi dạy không biết mỏi. Đường mới cảm thấy công ơn nghĩa của mẹ chất ngất như non cao, minh mông như biển rộng. Tình mẹ thương con không có ranh giới, tận tụy với con không kể ngày đêm. Trước cảnh tình của bà mẹ như vậy, phận làm con phải lo đền đáp, dầu hiểm nguy hay cực nhọc cho mấy đi nữa cũng không được phép thối thoát hay lãng lơ.

Từ đây Đường mới lập tâm quyết chí thảo thuận với mẹ, chăm nom làm cho mẹ vui luôn luôn, không để cho mẹ lo, không nên trái ý mẹ. Trên mẹ vui tận tụy, dưới con quyết phục tùng; mẹ con chung sống với mỗi người một tinh thần như vậy, thì làm sao mà không êm ấm khắn khít được.

Gia đình của thím Xã Cầm trải qua một chuổi ngày thân yêu lai láng, ân nghĩa tràn trề, không cần ham giàu mà tự nhiên cũng có ruộng thêm nữa.

Ông thân của thím ở bên Rạch Đào qua đời, có để lại vài chục mẫu ruộng. Anh em chia phần cho thím được 4 mẫu. Ở bên nầy số lúa thím thâu góp hơn mười năm nay, thâu nhiều mà xài ít, bởi vậy bạc tiền dành dụm hoá thành một số to. Nhơn dịp người ta bán một sở ruộng 25 mẫu gần Chợ Trạm, biết ruộng rẻ thím xuất tiền mà mua thêm thành ra ngày chồng chết để lại cho thím 20 mẫu ruộng mà trong 14 năm thím gầy ra tới 60 mẫu để cho con.

Bây giờ có ruộng nhiều, lại có ruộng xa nữa. Đường phải phụ giúp với mẹ trong công việc cho mướn ruộng. Đường lãnh phần coi lập tờ tá và đi thăm chừng mấy sở ruộng xa. Chàng mua một chiếc xe máy để đi cho tiện, sợ sắm xe ngựa còn phải tốn tiền mướn một đứa bạn ở giữ ngựa.

Thím Xã thấy con biết tính lợi hại từng chút như vậy thì thím cười. Từ khi con thôi học về ở nhà thì cái mộng làm sui đã bắt đầu phưởng phất trong trí thím. Tuy chưa nói ra, song thím đã lóng nghe coi nhà nào có con gái xứng đôi vừa lứa với Đường đặng thím dọ dẫm tánh nết, nếu được thì thím bàn với con mà đi xem tướng mạo rồi cậy mai mối xin cầu thân. Vì phận góa bụa đơn chiếc, thiệt thím muốn làm sui trong làng dễ hơn là làm sui xa xuôi.

Thím cũng không có ý muốn kén chỗ giàu sang, nghĩ vì mẹ con thím lo an phận thủ thường, không háo danh trục lợi mà cần phải kiếm chỗ cao sang cho con nương dựa. Thím chỉ muốn sui gia thuộc nhà hiền đức, nàng dâu có nết na, biết trọng lễ nghĩa, biết quí tiết hạnh mà thôi. Giàu hay nghèo đều do mạng ở trời, mà con thím đã có cơm tiền đủ sống thong thả mãn đời, không cần phải mong mỏi cậy nhờ gia tài của vợ làm chi nữa.

Trong cuộc làm sui, thím Xã Cầm nêu ra mấy điều kiện dễ lắm, mà xét lại thì khó vô cùng, những người ở gần nếu phải chỗ làm sui thì họ không có con gái, hoặc có con mà con họ không gặp tuổi hay là kém đức hạnh. Đời nào chỗ nào cũng vậy dễ vì mà kiếm được một nhà gồm vừa cha mẹ ăn ở hiền lương vừa con gái biết trọng tiết hạnh.

Tại cái khó đó mà trót hai năm nay thím Xã không đành bụng chỗ nào hết. Cùng thế rồi thím mới muốn dóng ý con coi nó có cảm tình với gái nào không rồi thím sẽ liệu định.

Một hôm, mẹ con ngồi nói chuyện thím Xã bèn nói với con:

- Năm nay, con đã 19 tuổi rồi, còn vài tháng bước qua hai mươi tuổi. Đến tuổi nầy lo vợ cho con cũng vừa. Xưa rày, má có ý hỏi coi có ai xứng với con hay không. Người ta có chỉ vài chỗ mà má không ưng bụng.

- Má tính cưới vợ cho con làm chi gắp vậy má?

- Ba con không còn. Má chỉ có một mình con, chớ không phải nhiều đứa. Má lo cưới dâu để may nó sanh con mà nối nghiệp tông môn. Đó là một nhiệm vụ cần thiết của má, bởi vậy con lớn rồi má phải tính chớ sao con.

- Ạ, má lo cho con có người nối nghiệp tông môn theo ý đó thì con không dám cãi lại má. Nhưng riêng về phần con thì con ở trong nhà hủ hỉ với má cũng đủ vui chẳng cần phải cưới vợ. Con có vợ, biết nó có hiệp ý với mẹ con mình hay không. Nếu nó nghịch thì trong nhà hết đầm ấm nữa.

- Thì má kiếm chỗ hiền đức mà cưới cho con chớ cưới gái thất giáo làm chi mà sợ nó nghịch. Má hỏi thiệt con, thuở nay con cảm tình với một cô gái nào hay không?

- Thưa, không có. Con chưa hề để ý đến việc vợ chồng.

- Lớn rồi, con phải để ý chớ, "Quân tử chi đạo tạo đoan hồ phu phụ". Vợ chồng là mối đạo đầu tiên của người quân tử. Phải có vợ chồng mới tạo ra cha con, anh em, tôi chúa được.

- Con thưa thiệt với má, công ơn má nuôi dạy con nặng nề quá. Con chưa đền đáp được chút nào, con muốn để tất cả lòng kính yêu của con cho má. Nếu con có vợ thì con phải chia sớt sự kính yêu đó cho vợ với cha mẹ vợ, là người chưa có ơn nghĩa gì với con hết. Tại như vậy nên con không tính tới việc cưới vợ.

- Con nghĩ như vậy sao phải. Trong sự kính yêu, ai có phần nấy, chớ đâu phải có vợ rồi con mắc yêu vợ, con hết yêu má, hay là con chắc kính cha mẹ vợ, con hết kính má. Đã biết vợ chồng là người dưng, thuở nay không quen biết nhau, nên chưa có cảm tình cảm nghĩa chi hết. Nhưng ai cũng vậy, hễ cưới vợ rồi, vợ chồng chung sống với nhau trong một nhà lần lần gây cảm tình, rồi có chung cực chung lo với nhau, còn gây thêm cảm nghĩa nữa. Lâu ngày chầy tháng, tình nghĩa nặng dầy, vợ chồng mới ở đời với nhau, tạo ra gia đình, sanh con đẻ cháu mà nối nghiệp cho tổ tiên. Để má nói lại cho con hiểu. Ngày cha con mất con mới được có 3 tuổi, còn má 26 tuổi. Cha con để lại cho má ba nhiệm vụ hết sức nặng nề: một là thay thế cho cha con mà phụng tự cha mẹ ông bà, hai là nuôi dạy con và tạo hạnh phúc cho con an vui trong đời sống của con, ba là giữ sự nghiệp để truyền lại cho con hưởng. Về nhiệm vụ thứ ba má làm vuông tròn, má còn làm lớn thêm gấp ba lần hồi trước. Về nhiệm vụ thứ nhứt còn tam nham chưa dứt khoát, con phải cưới vợ sanh con đặng tiếp theo mà phụng sự ông bà, nối nghiệp cho cha, má có sống hoài được đâu mà làm việc đó. Còn nhiệm vụ thứ nhì nữa, phải cưới vợ đặng gây hạnh phúc cho con trước khi má chết chớ.

- Nếu con phải cưới vợ cho má trọn nghĩa với cha, thì dầu muốn dầu không con phải chịu con không dám thất thoát. Má biết người biết đời hơn con, vậy má coi chỗ nào nên, hễ má chịu thì con chịu, con không kén chọn chi hết.

- Con nói như vậy thì để thủng thẳng má liệu. Dầu thế nào má cũng phải lựa nhà hiền đức mới chịu làm sui.

Cách ít ngày có một người bà con với thím Xã Cầm qua chợ Cần Giuộc có việc riêng. Người ấy ở bên Rạch Đào, là chỗ tổ phụ của thím, nhơn dịp mới ghé thăm thím. Thím tỏ ý muốn kiếm chỗ làm sui. Người ấy mới chỉ ông Hội Đồng Mai ở trên Rạch Kiến, mà nói hai vợ chồng ông hội đồng lối năm mươi tuổi, vẫn là người hiền đức, có nhà cửa tử tế với mười mấy mẫu ruộng chớ không phải giàu lớn, song có ba người con, một trai hai gái. Người gái lớn có chồng làm việc trên Saigon. Người trai kế đó có vợ rồi cũng làm việc trên Saigon. Bây giờ còn người con gái út, tên Trần Thị Oanh, lối 18 - 19 tuổi, theo chị ở học mấy năm. Từ hồi năm ngoái mới đem về nhà học nữ công và hủ hỉ với cha mẹ.

Thím Xã nghe như vậy có ý mừng, mới cậy người bà con đó dò hỏi đặng làm mai cưới cô Oanh cho Đường nghĩ vì hai trẻ tuổi xê xích với nhau, lại sui gia coi cũng xứng. Người bà con về nhà rồi bửa sau lên Rạch Kiến nói chuyện làm mai. Hai vợ chồng hội đồng Mai bằng lòng cho thím Xã Cầm đến coi cô Oanh.

Thím Xã Cầm thấy bề ăn ở của ông hội đồng Mai thì thím vừa ý; hỏi thăm người ta thì người ta nói nhà đó không giàu nhưng hiền đức. Lại cô Oanh nhỏ hơn Đường một tuổi và tướng mạo không có chỗ nào chê được. Thím Xã Cầm về nhà hỏi ý con, thì Đường nói mẹ liệu định thể nào tự ý mẹ, chớ chàng không chê khen chi hết. Thím Xã Cầm mới cậy người bà con làm mai mối giùm vợ chồng ông hội đồng qua nhà chơi cho biết. Không hiểu đàng gái bàn tính với con lẽ nào mà hơn một tháng mới trả lời với ông mai chịu qua coi nhà đàng trai. Ông Mai mướn xe rước vợ chồng ông hội đồng quan nhà Thím Xã Cầm ở ăn một bữa cơm rồi về chịu gả con.

Tháng 11 năm đó cho đi lễ hỏi rồi qua tháng 2 năm sau, Đường được 20 tuổi rồi thì cho làm lễ cưới. Nhà sẵn cơm tiền dư dả, lại có một đứa con mà thôi, thím Xã Cầm làm đám cưới hẳn hòi, nhóm họ đãi đằng linh đình, sắm lễ vật với nữ trang đủ hết, lại mướn xe hơi đi rước dâu rần rần.

Đám cưới xong rồi, khách về hết, đã dọn dẹp lại yên nơi, thím Xã Cầm lộ sắc mặc vui mừng, bà con chòm xóm cũng đều ngó thấy.

Đường thấy mẹ vui chàng cũng vui. Nhưng vợ chồng ăn ở với nhau được một tháng chàng nhận thấy tánh ý của vợ chàng không giống tánh ý của chàng chút nào hết. Chàng thì giản dị, ôn hòa không se sua, ưa an tịnh; còn cô Oanh thì câu mâu, nóng nảy, ưa lòe lẹt, thích ở Saigon đặng vui chơi. Trong mấy tháng sau cô lại than ở chốn thôn quê buồn bực cô chịu không được. Cô súi chàng lên Saigon kiếm việc xin đi làm. Chàng nói nhà có hai mẹ con, không thể nào chàng bỏ mẹ mà đi ở chỗ khác được. Ở đâu cũng vậy hễ mẹ vui thì chàng vui, chớ chàng không được phép tìm vui riêng mà bỏ mẹ hiu quạnh. Ngôn ngữ của chàng thiệt thà mà rõ ràng dễ hiểu, thế mà cô không quen nghe, nên cô không thấu ý nghĩa rồi cô buồn, cứ lửng lơ như người thất vọng.

Lâu lâu, Đường cảm thấy tánh tình của vợ chồng chàng khác nhau như trắng với đen, thà lìa nhau ai đi đường nấy hoặc may mới gặp hạnh phúc được mà hưởng chớ chung chạ hoài thì cả hai đều thảm sầu đau khổ, không vui sướng gì.

Nhiều khi vợ đi về Rạch Kiến thăm cha mẹ ít bữa, Đường muốn bày tỏ nỗi lòng của chàng cho mẹ nghe. Ngặt vì chàng cứ thấy mẹ vui mừng cưới được vợ tử tế cho con mẹ cưng dâu khoe dâu, nói chuyện với bà con chòm xóm mẹ không ngớt hãnh diện ngợi khen dâu là con nhà hiền đức, chàng sợ nói ra rồi mẹ buồn mẹ lo chớ không ích gì, bởi vậy chàng phải ngậm miệng cắn răng mà chịu.

Cô Oanh dòm thấy mẹ chồng tưng tiu quí trọng còn chồng thì nhịn nhục chìu lòn, cô lên nước lấn tới hiếp chồng; cô đi Saigon thường hoài hễ muốn đi thì thưa cho mẹ chồng hay nói đi thăm chị thăm anh rồi cô đi, không kể tới chồng, có khi cô đi vắng tới năm bảy bữa.

Có chồng được năm sáu năm cô Oanh đã quen thói khinh rẻ chồng, rồi cô lại còn sanh tánh ghen tuông hỗn ẩu với chồng nữa.

Đường buồn quá chịu hết nổi, nên một đêm vợ đi Saigon, chàng ở nhà thở than với mẹ, sợ gia đạo không yên.

Thím Xã Cầm bây giờ đã gần 50 tuổi rồi, lại làm sui với ông hội đồng, bởi vậy làng xóm gọi là bà Xã chớ không kêu bằng thím như hồi nhỏ vậy nữa.

Bà Xã Cầm nghe con than phiền bà mới an ủi, khuyên con đừng buồn. Bà nói Oanh còn nhỏ tự nhiên hay nhớ anh nhớ chị, nhớ mẹ nhớ cha, ham ăn mặc lòa loẹt, ưa xem hát và dự cuộc vui, đợi trong ít năm nó sanh con, nó ham con nó thuần nết rồi nó ôn hòa cũng như người khác.

Đường nghe mẹ nói như vậy, chàng nhớ mẹ dạy con trai cưới vợ chủ ý sanh con để nối nghiệp cho tổ tiên, chớ không có mục đích nào khác. Chàng không dám cãi với mẹ sợ mẹ lo buồn nên không dám nói nhiều nữa. Từ đây chàng quyết cầm lòng chịu khổ để cho mẹ khỏi buồn. Mà chàng cũng xem vợ ở trong nhà như cái cối xay lúa, hay là cái cối giã gạo nên vợ muốn đi chổ nào, muốn làm việc chi thì chàng cũng không thèm để ý đến. Chàng cố tâm làm cho mẹ vui lòng mà thôi. Chàng kể vợ như cái máy để đúc con, vì mẹ, vì tông môn nên chàng phải lau chùi săn sóc cái máy vậy thôi dầu máy có trục trặc làm cho chàng phải nhọc lòng, chàng cũng phải ráng mà chịu, không cần than thở nữa.

Té ra Đường ăn ở với vợ trót 19 năm, chàng phải chịu đau lòng bực trí không biết bao nhiêu mà kể; mấy năm sau chàng đau khổ quá đến sanh bịnh, rồi mới 39 tuổi mà chàng chết, không để lại cho mẹ già một đứa cháu nội nào hết, mà trong khoảng đời sống đó chàng cũng không được nếm tình sâu nghĩa nặng của đạo vợ chồng chút nào hết!

Thảm thay!... Tội nghiệp quá...

Tội nghiệp cho một góa phụ còn trẻ tuổi mà biết noi theo phong hoá cổ truyền, chồng chết lo thủ tiết dạy con và kế nghiệp cho tông môn nhưng vì thiếu sáng suốt và thiếu kinh nghiệm về đường đời nên nhiệm vụ không được vuông tròn.

Cũng tội nghiệp cho một nam nhi biết nâng cao nghĩa hiếu đạo, đáo đáo thờ cha kính mẹ, ăn ở thủ phận hiền lành nhưng vì không biết tự trọng, không dám cương quyết nên đời sống vợ chồng không có đủ điều kiện mà xây nên hạnh phúc lại để cho hư hỏng.

Mà thật nhiều khi họa là ngòi của phước. Vậy để xem coi bà Xã Cầm có biết đi sai đường mà hối ngộ hay không, rồi bà liệu lẽ nào mà chuyển họa với phước.

Buổi chiều đó, ăn cơm sớm rồi, bà Xã Cầm biểu ông ba Tào, là người ở làm vườn cho bà, bưng một chục ngọn bầu bí ương đã lên cao rồi đem ra mà đặt vào cái giồng ông đã cuốc và vô phân dọc theo hàng rào phía trước sân. Bà đứng mà chỉ cho ông ba Tào đặt bầu cho ngay hàng, có con Cát 15 tuổi, là cháu ngoại của người tá điền ở dưới Mồng Gà, bà đem cả mẹ con nó về bà nuôi cả ba năm nay, nó xẩn bẩn theo một bên bà mà chơi. Thấy ông ba Tào đã đặt lên giồng được hai ngọn bầu rồi, bà biểu con Cát vô lấy cái lon lớn múc nước đem ra đặng bà tưới gốc bầu cho im đất. Bà dặn ông Ba hễ để bầu đặt rồi ngày mai ông phải lo đốn cây trâm bầu cho sẵn đặng chừng bầu bắt đầu bò, thì làm giàn co nó leo, cặm cây giác giàn vô trong sân thì xuôi theo ngọn gió chướng bầu bò mới mạnh.

Bà đương đứng nói láp dáp, thì ông Lê Đại Thắng, làm hiệu trưởng trường Cần Giuộc hơn 20 năm. Ông mới hưu trí chừng một năm nay, thấy trời mát ông đi chơi, nhơn tiện bước ông ghé thăm bà Xã.

Bà thấy ông bước vô sân bà lật đật chào hỏi:

- Tôi kính chào cậu Đốc. Hôm nọ tôi có một chút chuyện tôi muốn hỏi cậu. Tôi sai trẻ qua coi có cậu ở nhà hay không thì mợ Đốc nói cậu đi Saigon ở chơi với con cả tháng nay mà chưa về. Cậu về hồi nào vậy?

- Tôi mới về hồi sớm mơi. Lóng nầy chị mạnh giỏi hay không chị Xã?

- Mạnh. Cám ơn. Cậu có hai người con mà hai người đều dạy học, lại có chồng có vợ hết rồi. Bây giờ cậu hưu trí, cậu thả đi chơi, khỏi lo chi hết, khỏe quá hả?

- Dạy học mấy chục năm, tuổi gần sáu mươi rồi, tôi được phép nghỉ mà chơi chớ phải làm hoài hay sao chị. Ruộng của chị mùa nầy trúng hay không?

- Khá. Nghe nói sở nào lúa cũng tốt đều hết. Còn đất của mợ Đốc ở bển thế nào?

- Ối! Bả có năm sáu mẫu có nghĩa gì đâu. Bả cho mướn, lại mua lúa xa mãi mỗi năm kiếm ít thiên[2] đủ ăn vậy thôi. Mà nghe nói năm nay cũng dễ chịu.

- Cậu lên Saigon ở chơi với hai cháu, vậy mà hai cháu ở chung hay là ở riêng?

- Hồi thằng Khoa mới được cấp bằng dạy trường Sư phạm Đất Hộ. Từ ngày nó cưới vợ rồi thì nó mướn một căn phố mà ở riêng, song cũng thuộc một đường với con Đào nên chị em nó cũng ở gần nhau.

- Chắc cậu lên cậu ở nhà cô giáo Đào.

- Không. Tôi ở với thằng Khoa.

- Con gái thường hay lo cơm nước áo quần cho cha mẹ. Sao cậu không ở với con gái, lại ở với con trai?

- Vợ chồng con Đào mắc đi dạy học. Nó lại có con nhỏ, nó mướn vú nuôi cho bú sữa bò. Hễ về nhà con Đào mắc lo cho con nó. Vợ thằng Khoa ở nhà chớ không có đi làm. Nó mời tôi ở dưới nó đặng nó rảnh nó lo cho tôi.

- Cậu có phước quá. Có con rồi có dâu có rể tử tế hết.

Ông Đốc học Thắng thấy con Cát bưng lon nước đem ra cho ông Ba Tào tưới nước cho bầu thì ông ngó nó trân trân rồi ông hỏi bà Xã Cầm:

- Tôi nghe nói cách mấy năm trước chị có đem một đứa con nhỏ của tá điền về chị nuôi, phải cháu nầy hay không chị?

- Phải. Tôi đem mẹ con nó về ở với tôi ba năm nay.

- Tôi coi nó giống thiệt chị à.

- Ai cũng nói giống, bởi vậy tôi mới đem về tôi nuôi đó. Mời cậu vô nhà, vô uống nước nói chuyện chơi.

Bà Xã đi vô nhà. Ông Đốc thủng thẳng theo sau, mắt ngó mấy nọc trầu trồng bên chái nhà, lá vàng khè, rồi ngó đám rau thơm trồng kế đó tốt tươi dày bịt.

Bà kéo ghế mời ông Đốc ngồi tại bàn giữa, bà kêu người trong nhà biểu chế một bình trà mới mà đãi khách, rồi bà ngồi trên bộ ván gõ lớn ngang đó têm trầu mà ăn.

Ông Đốc hỏi bà Xã:

- Cô hai về bên Rạch Kiến mấy năm nay cô có hay qua thăm chị hay không vậy chị Xã?

- Đã lấy chồng khác rồi còn tình nghĩa gì mà thăm viếng.

- Có chồng khác thì có chớ. Làm dâu chị đã gần 20 năm, dầu chồng chết, không có con, cũng phải nghĩ chút tình xưa nghĩa cũ coi mới được chớ.

- Người ta có phải như mình vậy đâu cậu Đốc. Thiệt tôi lầm ngay. Hồi trước ai cũng khen nhà anh hội đồng là nhà hiền đức nên tôi mới nong nả làm sui. Té ra con dâu không biết điều mà sui gia cũng chẳng ra gì hết. Mấy năm nay hễ nhớ tới thì tôi hối hận hết sức. Có vậy mới biết lời khen chê của thiên hạ không nên tin, vì không đúng với sự thật.

- Sắp nhỏ tôi nó gặp cô hai hoài. Nó nói cô có một đứa con nhỏ.

- Có con hay sao?

- Nó nói gặp cô đi chơi, có bồng đứa nhỏ chừng quá đôi nôi.

- Tôi không hay có con. Tôi chỉ nghe nó trở về bên Rạch Kiến ở chừng vài tháng rồi có chồng làm việc theo ở với chồng trên Saigon. Lấy chồng khác không thèm nói với tôi mà vợ chồng anh Hội Đồng cũng không cho tôi hay. Ăn ở như vậy thì tôi hiểu người ta đã dứt tình nghĩa rồi, nên tôi không muốn biết việc của người ta làm chi nữa.

- Tại cậu Đường vô phước quá mới gặp vợ như vậy, hơi nào mà phiền chị.

- Tôi cũng nghĩ như cậu vậy. Cậu nhắc tới Đường làm tôi mới nhớ...

Bà Xã nói chưa dứt câu thì cô Thâm, là mẹ của con Cát đứa gái bưng lon nước để tưới bầu ngoài trước đó, tay cô xách bình trà, tay cô bưng cái tách, ở trong đi ra cúi đầu chào Ông Đốc rồi để bình với tách trà trước mặt ông. Bà Xã biểu: "Rót trà ra đi con, rót một tách cho ông Đốc giải khát".

Ông Đốc liếc mắt nhìn cô thì thấy một thiếu phụ thôn quê, tuổi ngoài ba mươi, mặc quần lãnh áo bà ba lụa đen tướng mạo yểu điệu, gương mặc sáng rở nhưng hiền lành. Cô rót một tách trà rồi xách bình đi vô để trong giỏ, cô mới bưng giỏ bình với một cái tách nữa đem ra để dựa ô trầu chỗ Bà Xã ngồi.

Bà Xã mời ông Đốc uống trà và nói: "Tôi không biết chữ Việt. Từ ngày Đường thôi học về ở nhà thì tôi giao hết bằng khoáng ruộng đất cho nó giữ. Các tờ tá cho mướn ruộng nó cũng coi làm. Nó có cái tủ cây riêng nên nó cất hết giấy tờ trong tủ của nó rồi nó giữ chìa khóa. Năm nó bịnh, lối năm bảy tháng trước ngày nó chết, thừa bữa vợ nó không có ở nhà, nó ôm giao cho tôi một cái gói, ngoài bao giấy và buộc dây kỹ lưỡng chắc chắn, mà xin tôi cất giùm trong tủ sắt. Nó nói gói đó là gói giấy tờ quan trọng với bằng khoán ruộng đất, phải cất trong tủ sắt mới khỏi sợ mất. Nó lại dặn tôi đừng cho ai lấy gói đó nếu rủi nó chết mà trong nhà có việc chi bối rối, thì tôi mở gói ấy ra mà coi, trong đó nó có biên đủ mọi việc để lại cho tôi hiểu.

Vì tôi biết tánh con tôi nó kỹ lưỡng, bởi vậy tôi mới mở tủ sắt ra tôi cất cái gói cho nó thấy. Tôi không nghi ngờ điều chi hết, nên tôi không cần gạn hỏi. Cách mấy tháng sau nó chết, thì tôi buồn, chớ không có điều chi rối rấm. Chôn cất nó rồi thì vợ nó cũng còn ở bên nầy gần một năm, có buồn thì nó đi về bên Rạch Kiến, hoặc lên Saigon mà chơi, rồi cũng trở về với tôi như thường. Chừng tôi nghe mấy người trong xóm thỏ thẻ nói với tôi rằng con gái của ông Hương nghị Thiệt làm ruộng của tôi ở dưới Mồng Gà nó không có chồng, mà nó có một đứa con gái chừng 12 tuổi, con nhỏ sao mà nó giống thằng Đường như đúc. Tôi nhớ hồi trước con tôi hay cỡi xe máy đi ruộng dưới Mồng Gà. Sau đó tôi mua ruộng ở dưới chợ Trạm cùng một phía đó, nó càng đi thường hơn nữa. Tôi phát nghi. Nó chết rồi không có con nếu con nhỏ đó thiệt là con của nó, thì may cho tôi lắm. Nhưng tôi không dám nói cho ai biết. Tôi mướn xe tôi đi thăm ruộng, xuống nhà vợ chồng Hương nghị Thiệt tôi gặp đủ hai ông bà ở nhà với đứa con gái ra rót trà cho cậu Đốc uống hồi nãy đó.."

Ông Đốc Thăng ngạc nhiên hỏi:

- Té ra cô hồi nãy là mẹ con nhỏ xách nước ra tưới bầu ngoài sân đó sao?

- Phải. Hai mẹ con nó đó. Tôi thấy con Cát thiệt giống thằng con tôi quá, giống từ bàn tay bàn chưn, giống mắt mũi, giống tiếng nói, giống tướng đi, cái gì cũng giống hết thảy. Tôi kiếm chuyện nói với mẹ nó, tên Thậm có ý dọ coi tánh tình thế nào. Tôi hỏi chồng nó làm nghề gì, nó có được mấy đứa con. Nó nói chồng nó chết, để lại cho nó có một đứa con gái đó.

- Nó thấy chị xuống chắc nó mừng lắm hả?

- Không. Nó bình tĩnh như thường, không chộn rộn chi hết. Vợ chồng Hương nghị cũng vậy.

- Không nghi chị xuống nhìn cháu nội hay sao?

- Không có. Tánh tôi dè dặt, có ý đợi coi con Thậm hoặc cha mẹ nó có mở hơi, nói xa nói gần gì hay không. Té ra không ngờ, không ai chịu ló mòi gì hết.

- Chắc là vợ chồng Hương nghị chơn chất thiệt thà, sợ bà chủ điền nên không dám nói chớ gì.

- Cả nhà từ cha mẹ xuống đến con đều thiệt thà lắm. Mà cử chỉ như vậy cũng làm cho tôi sợ tôi nhìn lầm nên tôi cũng không dám hở môi. Tôi muốn đem mẹ con con nhỏ về ở với tôi ít ngày đặng tôi dọ tình ý cho chắc rồi sẽ hay. Nếu phải thì chừng nào nhìn cũng được, không có chi gấp mà phải vội. Tôi mới than với vợ chồng Hương nghị rằng, Đường tôi chết bỏ tôi hiu quạnh, đêm hôm không có người hủ hỉ mà giải buồn. Tôi muốn cậy con Thậm đem con nó lên ở giùm tôi ít ngày, mẹ thì giúp coi sóc việc trong nhà, còn con thì theo tôi lo lấy trầu chế nước. Bà Hương nghị kêu con ra mà hỏi thì nó chịu đi. Tôi mừng; tôi biểu gói áo quần rồi sẵn có xe đi luôn với tôi cho tiện. Về tới nhà tôi nói tôi kiếm người ở phụ giúp trong nhà chớ không nói chuyện nhìn dâu nhìn cháu chi hết. Mấy đứa trong nhà ác nghiệt, thấy con Cát cứ theo nhìn ngó rồi xầm xì với nhau. Chòm xóm hay họ cũng chạy lại họ coi làm cho con Oanh là dâu tôi nó chừ bự. Nó hỏi tôi rước quân ăn mày đó về làm gì?

- Cha chả! Vô lễ đến thế lận sao?

- Cậu Đốc nghĩ mà coi. Tôi hiền lành hết sức. Tôi cũng thương nó nhiều. Chồng nó chết đã gần làm tuần giáp năm. Nó cứ ở đây với tôi. Tôi có ý mừng, tưởng nó bắt chước gương của tôi, thủ tiết thờ chồng. Tôi tính chừng tôi qua đời thì sự nghiệp của tôi nó thừa hưởng chớ ai vô đây mà giành với nó được. Nó không cải giá, cứ thủ tiết mà phụng tự ông bà bên chồng, hưởng huê lợi mãn đời. Tôi cũng có tính nếu mãn tang mà nó muốn lấy chồng thì tôi cũng sẽ biết phải với nó, tôi giúp cho nó lập gia đình khác mà sống với cảnh đời thong thả, sung sướng với người ta. Ví dầu nó biết con Cát là con của chồng nó thì nó thưa với tôi rồi rước con nhỏ đem về nó nuôi mới phải. Nó không biết làm như vậy. Mà tôi đem về chớ tôi chớ cũng không nhìn nhận con cháu gì hết, sao nó lại dám mắng tôi. Thiệt rõ ràng là con nhà thiếu dạy. Tôi hiền như Phật mà nghe cái giọng nó nói tôi phải nổi giận. Tôi tái sắc mà nói với nó như vầy: "Con giàu mấy mươi mà con gọi người ta là quân ăn mày? Dầu người ta ở làm mướn mà lấy tiền công, con cũng không phép khinh rẻ người ta như thế. Huống chi người ta là con cháu của một tá điền, có chức vị chút đỉnh trong làng, má cậy lên giúp mà coi sóc việc nhà chớ không phải ở mướn. Sao con dám nhục mạ người ta. Con đừng có dại như vậy, thiên hạ họ ghét chớ không phải họ khen hay họ sợ đâu. Trong nhà nầy má làm chủ, má muốn sắp đặt thế nào thì tự ý má. Con lấy quyền gì mà ngăn cản má được... Má cấm biệt từ rày sắp lên con không được nói động tới mẹ con của nó nữa, mà cũng không được vô lễ với mọi người trong nhà của má".

- Chị cho cô bài học như vậy thì hay lắm.

Thấy trời sẩm tối, Bà Xã kêu người trong nhà lên đèn rồi bà nói tiếp:

- Để tôi nói hết cho cậu Đốc nghe. Con Oanh nghe tôi quở nặng, nó mắc cở hay là phiền giận không biết mà nó ngoe ngoảy bỏ đi vô buồng khép cửa lại. Chiều nó không thèm ra ăn cơm. Sáng bữa sau có chiếc xe ngựa qua đậu trước sân. Nó sai đi kêu hồi nào tôi không hay. Nó ra thưa với tôi cho nó về thăm ba mẹ ít bữa. Tôi ừ và mở tủ lấy một trăm đồng bạc cho nó đi. Nó nói nó có tiền, nó không thèm lấy, nó cho ông Ba Tào vác giùm cái gương của nó đem để lên xe rồi nó đi. Tôi vô trong buồng nó tôi coi, thì đồ đạc áo quần của nó không còn thứ gì hết. Tôi chắc nó giận tôi nó đi luôn. Thiệt quả làm tuần giáp năm cho thằng Đường nó không về mà sui gia cũng không có ai qua. Cách ít tháng tôi nghe nó có chồng khác tôi cười, cười cái dại của nó, mà thiệt tôi cũng phiền, tôi không còn kể nó là dâu của tôi nữa. Mẹ con con Thậm ở với tôi cũng xong. Mẹ con thiệt thà, nhỏ nhoi, hiền lành, mẹ thì lo coi sóc việc trong nhà, con thì theo hầu trầu nước cho tôi, không ham muốn, không đòi hỏi thứ chi hết. Vì vậy tôi mới may đồ hàng lụa cho bận. Tôi biểu ăn cơm chung với tôi cho vui. Mỗi tháng tôi cho mẹ con nó về thăm ông Hương nghị, có đi chợ cũng ghé thăm, ba năm nay mẹ con nó ở với tôi đầm ấm lắm. Chúng nó không nói, mà tôi cũng không hỏi điều chi hết. Không có rắc rối về ruộng đất hay gia đạo nên tôi quên lời của thằng Đường nói, khi nó giao gói bằng khoán cho tôi cất. Mãi đến hôm trước đây người làm dây ruộng của tôi ở xớm trong bị người ta lấn ranh sao đó mới qua làng mà thưa.

Cậu Hương Hào qua nói với tôi xin cho tôi bằng khoán sở ruộng đó đặng biết ranh rấp mà phân xử. Tôi mở tủ sắt đem gói bằng khoán ra đưa cho cậu mà lựa vì tôi không biết chữ nên không biết bổn nào thuộc về sở đất nào. Cậu Hương Hào mở ra thì thấy một phong thơ, còn niêm kín, nằm trên chồng bằng khoán. Cậu cầm coi mà đưa cho tôi mà hỏi: "Có lời trối của anh Đường để lại cho bà đây. Anh chết đã mấy năm rồi, sao bà chưa xé bao thơ ra mà đọc?". Tôi chưng hửng. Cậu Hương Hào mới đọc mấy hàng chữ biên ngoài cho tôi nghe như vầy: "Lời trối của tôi để lại cho mẹ tôi. Khi tôi chết rồi thì một mình mẹ tôi được phép xé thơ nầy mà coi, chớ vợ tôi không được phép xé".Tôi cảm động quá. Tôi lấy phong thơ cầm trong tay mà suy nghĩ.

Hương Hào ngồi soạn bằng khoán mà coi. Tôi mưốn xé bao thơ mà mượm cậu đọc giùm. Mà tôi sợ con tôi nói chuyện mẹ con, con Cát đây chớ không có gì lạ. Chuyện đó không cho người ngoài biết. Tôi tính bữa sau tôi đem qua cậy cậu đọc tôi nghe. Hương Hào coi bằng khoán xong rồi cậu trả lại cho tôi mà đi về. Tôi sắp mà rối gói lại tử tế, rồi đi để lại trong tủ. Tôi để bao thơ của con tôi lên trên mà cất luôn. Sáng bữa sau tôi sai một đứa qua hỏi coi có cậu Đốc ở nhà hay không. Mợ Đốc nói cậu đi chơi trên Saigon chưa về. Tôi cất cái thơ hổm nay, không muốn mượn người trong xóm đọc, sợ họ biết gia đạo của tôi rồi họ dị nghị. Bây giờ tôi mới mở tủ sắt. Vậy sáng mai tôi mở tôi lấy đem qua mượn cậu Đốc đọc giùm cho tôi nghe coi con tôi nó nói làm sao.

Ông Đốc Thắng nói ông không đem cặp mắt kiếng theo. Dầu có thơ bây giờ ông đọc cũng không được. Huống chi Đường chết đã bốn năm rồi mới hay có chúc ngôn. Để trễ thêm một bữa cũng không hại gì. Lại chắc Đường chối việc mẹ con con Cát. Mà mẹ con nó đã ở trong nhà nầy rồi thì có chi đâu mà lo gấp.

Ông Đốc nói rồi ông đứng dậy cáo từ mà về. Bà Xã kêu ông Ba Tào biểu đưa giùm ông Đốc tới cầu. Bà hẹn ngày mai ăn cơm sớm mơi rồi đem thơ qua. Bà đưa ông Đốc ra tới sân rồi để ông đi với Ba Tào. Bà đứng suy nghĩ, đến ông bà Tào trở về mới vô nhà.]

Hạnh Phúc Lối Nào

2. NHẬN THẤY LỖI THỜI

Ông Lê Đại Thắng, Đốc học hồi hưu, ở nhà ngói ba căn, vách ván sau có một cái nhà bếp chón hón; cuộc nhà tuy không đồ sộ, song có vẻ thảnh thơi, vui vẻ, nằm dựa công lộ Saigon xuống Gò Công. Từ chợ Cần Giuộc lại đó chừng vài trăm thước. Trong nhà bàn ghế tủ ván tầm thường nhưng nhờ sắp đặt, khéo léo nên xem cũng đẹp. Trước cửa có chừa một cái sân vài thước, theo mé lộ có đóng cây làm hàng rào, dọc theo chưn rào có trồng bông rau dừa, bông đỏ chen bông trắng trổ hằng ngày, không kể mùa mưa hay mùa nắng. Đêm trăng nhắc ghế để ngoài sân mà uống trà đàm đạo cũng được thưởng thức ít nhiều thú phong lưu.

Dạy học hơn 30 năm, tuy lương bổng không nhiều, song nhờ ông Đốc siêng năng, bà Đốc tiện tặn, vợ chồng biết ráng chịu cực lúc trẻ tuổi đặng an vui tuổi già, bởi vậy có một đứa con gái với một đứa con trai thì chăm nom nuôi chúng ăn học đặng chúng nó lập thân mà bay nhảy theo đời, lần lần tạo cửa nhà đặng ăn ở cho ấm êm, rồi còn sắm được mấy mẫu ruộng để có sắn cơm áo mà độ nhựt.

Gần một năm nay. Ông Đốc hưu trí, hai con đã làm giáo viên có gia thất xong rồi. Ông Đốc rảnh rang thường thả lên Saigon ở chơi với hai con, để bà Đốc ở nhà chăm nom ruộng đất cửa nhà, có mướn một đứa gái cho bà sai khiến.

Y như lời Bà Xã Cầm hẹn với Ông Đốc Thắng hồi hôm, sớm mai nầy, gần 10 giờ, Bà Xã che dù đi qua nhà Ông Đốc đặng cậy ông đọc tờ di chúc của con. Thấy Bà Xã bước vô thì bà Đốc vui vẻ chào mừng, bà mời lại ván ăn trầu, bà nói Ông Đốc đi ra thăm chủ tiệm thuốc bắc ngoài chợ, ông có dặn nếu Bà Xã có qua sớm thì mời bà ngồi chơi chờ một chút ông sẽ về.

Hai bà hỏi thăm nhau về sức khỏe, rồi bắt qua chuyện mùa màng, vừa nói tới con thì Ông Đốc về ông bước vô, làm cho hai bà phải đứt ngang câu chuyện.

Ông Đốc biết nhiều chuyện về tâm sự của Đường, nhưng thuở nay ông không dám hở môi. Hồi hôm nghe Đường có viết lời trối mà để lại cho mẹ thì ông có ý muốn biết coi Đường trối về chuyện nào, bởi vậy vừa thấy Bà Xã thì ông liền hỏi có đem theo phong thơ hay không. Bà Xã mở cái khăn lấy đưa cho Ông Đốc một phong thơ to lớn lại nặng. Ông Đốc lấy làm lạ. Ông châu mày để phong thơ trên ván, day qua cái bàn lấy cặp mắt kiếng mà mang rồi kéo cái ghế để dựa mé ván mà ngồi giữa hai bà. Ông cầm bao thơ mà xem thì có thấy hàng chữ y như lời Bà Xã nói hôm qua. Ông với lấy con dao ăn trầu rọc một phía kỹ lưỡng, rồi tra ba thứ giấy tờ, một sấp thơ viết tay, một tờ khai sanh với bản sao án Tòa. Ông để khai sanh với bản sao án Tòa một bên. Ông cầm sấp giấy mà nói: Cậu Đường để giấy tờ gì nhiều quá vậy không biết, tôi đọc bức thơ trước cho chị nghe rồi sẽ hay. Tôi đọc chầm chậm đặng chị nghe rõ ràng".

Ông Đốc mới đọc:

Thưa má,

Con thường nghe người ta nói : "con là máu thịt của cha mẹ".

Theo ý con, chưa gồm hết ý nghĩa đầy đủ về đứa con. Phải nói: "Con vừa là máu thịt, vừa là tâm hồn của cha mẹ". Nói như vậy mới trúng chánh nghĩa, mới hạp thiên ý, mới khỏi thiếu sót.

Riêng về phần con, lúc con vừa mới biết đi biết nói, thì cha vội theo ông theo bà, nên con chưa hiểu tâm hồn của người cha như thế nào. Có một mình má ở lại với con từ ngày đó cho đến bây giờ, chẳng những má chung sống với con, má chăm nom dưỡng dục con hằng ngày, mà má còn rèn lòng mở trí, hướng dẫn ý chí, ung đúc tánh tình cho con luôn luôn, bởi vậy từ khi con lớn lên thì con cảm thấy con với má tuy phân làm hai thân thể nhưng sống chung một tâm hồn rõ ràng. Hễ má vui thì con vui, hễ má buồn thì con buồn, hễ má lo thì con lo, hễ má muốn thì con cũng muốn, ấy là lúc má muốn cưới vợ cho con. Mà con du dự không muốn cưới vợ, chẳng lẽ con tính trái ý má. Con du dự là tại như vầy: con sợ người vợ không hấp thụ chung một giáo dục như con, thì không thể có một tâm hồn giống như tâm hồn của mẹ con mình được. Cưới người về ở chung một nhà, phải ở mãn đời, nếu vợ chồng tánh ý khác nhau thì hòa khí trong gia đình tiêu tan, rồi cái vui thuở nay hoá ra cái buồn, buồn cho con mà buồn lây cho má nữa, tình cảnh như vậy con làm sao mà chịu nổi.

Má mới cắt nghĩa cho con hiểu, má nói: " Quân tử chi đạo tạo đoan hồ phu phụ" vợ chồng là đạo đầu tiên của con người. Phải có vợ chồng rồi mới có cha con, anh em tôi chúa, bằng hữu rồi mới thành gia đình, tông tộc, xã hội mà duy trì giống nòi, kiến thiết quốc gia. Đạo vợ chồng là đạo trọng hệ, không phải hướng về sự ôm ấp, sự vui chơi, mà chánh nó hướng về sự sanh con để nối nghiệp tông môn và phụng tự tổ tiên. Cưới vợ mà biết chủ tâm về ý nghĩa cao thượng đó, thì mặc dầu ban đầu vợ chồng khác tâm hồn, nhưng chung sống lâu ngày, có chung cực chia vui với nhau, thời gian sẽ gây cảm nghĩa cảm tình, rồi tâm hồn biến chuyển cải hoá lần lần, tự nhiên sẽ điệu hòa nhứt tâm nhứt đức.

Thuở nay con kính má như trời biển, con xem lời mà dạy như thánh ngôn, bởi vậy nghe má cắt nghĩa con liền xuôi theo, để cho má dắt đi coi vợ. Đi qua Rạch Kiến về, má rất hài lòng, má nói nhà sui hiền lành tử tế, con dâu hạp tuổi, dễ thương; má hớn hở vui lòng, làm cho con cũng vui mừng như má.

Té ra cưới vợ về với nhau được ít ngày, con cảm thấy vợ chồng con khác nhau như trắng với đen như trời với vực. Cái mà con lo ngại trước đó, nó đã hiện ra trước mắt. Con bắt đầu sợ đời sống của con là chuỗi ngày sầu thảm ăn năn. Con muốn bàn lại với má. Ngặt má đang vui mừng, đương yêu dâu, đương cưng dâu, nếu nói ngay ra con sợ làm cho má mất vui nên con phải ôm lòng ngậm miệng.

Đến chừng vợ con hổn ẩu ta bà thái quá, con chắc má cũng buồn như con, nên con mới dám thở than chút đỉnh với má coi má có liệu lẽ nào mà cứu hạnh phúc của nhà hay không. Chẳng dè má lại khuyên con phải lấy đạo trung thứ mà cư xử, chẳng nên gắt gao cố chấp. Má nói vợ con còn khờ, nên nó hay nhớ anh nhớ chị, mẹ cha, ham vui chơi chút đỉnh. Trong một hai năm có con rồi, nó ham con, thương con, nó sẽ thuần nết, rồi niềm vợ chồng sẽ êm ấm an vui.

Nó không sanh con, mà nó lại sanh tật!

Con xin má hiểu giùm cho con. Làm người, nên thuật việc tốt của kẻ khác, chớ không nên thuật việc xấu. Làm bạn chừng xa nhau đừng nói việc xấu cho nhau. Vì tâm hồn của con như vậy nên má khuyên con ẩn nhẩn mà chờ thì con vâng lời, con không dám trái ý má, mà cũng không nỡ kể tội lỗi của vợ con cho má nghe.

Con ẩn nhẩn được, mà con không bỏ dứt cái buồn được. Cái buồn cứ lẩn quẩn trong đầu óc con hoài, nó làm cho lòng con sanh chán nản, việc nào con cũng chán hết. Từ đó con coi vợ con như một cái cối xay lúa. Con cần dùng nó đặng sanh con nối dòng, chớ không tình nghĩa chi hết, cũng như thiên hạ cần dùng cối xay cho ra gạo, dầu để nó nằm nghênh ngang chật nhà gai mắt cũng phải ráng mà chụi.

Con thưa thiệt với má, lòng con tràn trề ảo não, bầm dập ủ ê, con mới cảm thấy đàn ông con trai cưới vợ, chẳng những là kiếm người giúp tay để sanh con nối dòng mà thôi có lẽ còn có ý kiếm một người bạn đồng thinh đồng khí đặng siết tay kết cánh mà dìu dắt nâng đỡ nhau để đi trên đường đời cho vững bước, khi sung sướng thì chung vui khi đau khổ thì chia buồn với nhau, dám hy sinh tất cả vui sướng để chung sống với nhau, biết phú thác tất cả mạng vận để bồi bổ tình yêu với nhau.

Người vợ con cưới đây nó không để ý giúp cho con có trẻ nối dòng mà nó cũng không nghĩ tới sự vui buồn chung vui với con. Trái lại, vợ con nó muốn đi riêng một ngả, để cho con đi ngả nào tự ý con. Má khao khát cháu nội, còn con tìm kiếm tình yêu. Má không thỏa mãn, mà con cũng thất vọng. Con buồn nên tối ngày con kiếm chỗ thanh vắng ngồi câu cá giải khuây. Thứ năm chúa nhựt con thường gặp vợ chồng thầy giáo Hiển ở bên chợ cũng thích đi câu cá như con. Gặp làm quen nói chuyện với nhau vài lần thì con cảm thấy vợ chồng thầy là một đôi bạn đời thuận hòa êm ấm với nhau hết sức, mà đối với con cũng đồng tình hiệp ý nữa. Đồng thinh tương ứng, đồng khi tương cầu, thầy giáo Hiển mời con qua nhà thầy chơi. Trong nhà thầy có cô giáo Hưởng ở đậu mà đi dạy học. Mới gặp cô lần đầu, nói chuyện với nhau một lát, thì con thấy con với cô Hưởng giống tánh ý nhau, ôn hòa, thành thiệt, ưa thanh tịnh, ghét lòe lẹt, trọng danh dự, ham nghĩa nhơn.

Vợ chồng thầy Hiển mời con bữa chúa nhựt qua sớm đặng hiệp nhau đi xuống miệt dưới câu chơi, trưa về nhà thầy ăn cơm rồi nghỉ một lát rồi xế đi câu nữa. Lần nầy có cô Hưởng đi câu. Hai cô đều vui vẻ, hay nói chuyện, hễ được cá thì mừng la om sòm, làm cho con được tham dự cuộc vui thanh nhã lại thân yêu, mà từ ngày con có vợ con chưa hề được thưởng thức.

Về ăn cơm trưa với nhau, con lại được dự một bữa ăn vui thân yêu nữa, làm cho con cảm hết sức. Vợ thầy Hiển hỏi thăm gia đạo con. Cô nói chúa nhựt cô hay đi Saigon, cô thường gặp vợ con, cô khuyên con chẳng nên để vợ đi Saigon một mình, cô khuyên như vậy, chớ không có nói việc gì phạm đến danh giá của vợ con; nhưng con hiểu ngầm lời khuyên ấy chứa nhiều ẩn ý quan hệ. Con xúc động, con nhớ tâm sự của con, con buồn đến ứa nước mắt, con mới than thở nỗi lòng tê tái của con cho vợ chồng thầy Hiển và cô Hưởng nghe. Cả ba người đều tội nghiệp cho thân con có đủ điều kiện mà sống giữa an vui thanh thã, nhưng vì xấu số nên cảnh đời thơ thới tốt tươi hoá ra cảnh đời u sầu đen tối.

Đi câu buổi chiều, cô Hưởng lựa chỗ ngồi gần con đặng nói chuyện. Cô kiếm lời an ủi cho con dường như kiếm phương pháp cứu chữa tâm bịnh của con. Con đương mang chứng đa sầu đa cảm, được nghe cô thiếu nữ thiết tha khuyên dỗ, tự nhiên con cảm tình mến nghĩa, rồi người có bịnh với người chữa bịnh phát ra yêu nhau, yêu với một tình yêu nồng nhiệt say sưa, gái quên lững phụ nữ tiết trinh, trai hết sợ đạo nhà gai góc.

Con với cô giáo Hưởng gần nhau mới có mấy tháng mà đã thụ thai. Cô hồi tâm mà ngó tương lai, rồi cô hối hận, hối hận cực điểm. Bây giờ con mới tỉnh giấc mà thấy bước đường của con lén đi với cô đã bít lối, không có ngả ra. Con giựt mình, con cũng hối ngộ, một lo danh giá cho người con yêu mà con lại báo hại, hai lo đạo nhà con rắc rối, không biết xử trí thế nào cho vuông tròn.

Không nói cho con bay, cô Hưởng làm đơn xin đổi dạy xứ khác đặng tránh tiếng thị phi. Đồng thời cô cũng lánh mặt, không để cho con gặp được nữa.

Không hiểu ai tọc mạch với vợ con, mà một bữa thứ bảy nó đi Saigon rồi sáng chúa nhựt nó trở về, nhưng ngồi xe đò đi luôn qua chợ. Việc nầy sau thầy Hiển thuật lại con mới hay. Thầy nói vợ con lại nhà thầy, có dắt theo hai chị đàn bà mặt mày dữ tợn lắm. Nó bước vô hỏi có con qua đây hay không. Thầy Hiển nói không có, nó hỏi cô Hưởng và xin kêu cô ra cho nói chuyện. Vừa thấy mặt cô Hưởng thì nó làm dữ, vừa mắng chưởi, vừa xông vô muốn đánh người ta, cử chỉ như hàng tôm hàng cá. May nhờ có thầy Hiển ngăn cản nó đánh không được. Nó cứ chưởi quân trôi sông lạc chợ dám đến đây giựt chồng nó. Nó xúi hai chị bộ hạ của nó vô sởn tóc cô Hưởng. Vợ chồng thầy hiển nhỏ nhẹ can gián nó không biết nghe, lại mắng luôn vợ chồng thầy chứa điếm đặng ăn tiền đầu. Thầy Hiển nổi giận không thèm kể phải quấy gì nữa. Thầy xô hết bọn nó ra sân. Nó ra đứng ngay cửa kêu tên cô Hưởng mà chưởi, biểu phải ra cho nó sởn tóc và lột quần. Chòm xóm lại coi, ai cũng bất bình. Có người khuyên can mà cũng có người nổi cáu, biểu cô Hưởng ra, coi ai dám làm gì thì làm, có cả xóm đây cô sợ gì. Cô ra thử coi ai lột quần ai cho biết.

Có một anh đánh xe ngựa, có tánh hảo hớn, anh thấy vợ con làm phách ăn hiếp cô Hưởng là người tử tế thiệt thà, anh dằn lòng không được. Anh bước lại điểm mặt vợ con mà nói: "Cô muốn đánh lộn thì đánh với tôi đây chớ cô giáo yếu đuối thiệt thà, kéo cả bầy tới cửa om sòm có giỏi gì đâu. Cô nói người ta giựt chồng cô, giựt hồi nào? Cô bắt được hay không mà dám nói? Mà cô có ngu dại hay là cô có lấy trai, chồng cô hết yêu cô nữa, nó đi kiếm tình yêu khác, thì cô phải xét mình mà hổ thẹn, chớ sao cô lại chưởi người ta? Cô đừng ỷ có cơm tiền rồi muốn nhục mạ ai cũng được. Hạng bình dân nầy biết trọng người hiền dám trừ kẻ dữ, chớ không phải như cô ỷ có cơm tiền coi thiên hạ như rơm như rác vậy đâu. Cô thử đánh chưởi tôi đi rồi cô sẻ biết sức dân Cần Giuộc nầy dám làm dám chết với nghĩa lắm, không khiếp nhược như cô vậy đâu. Cô còn nói một tiếng nữa tôi mần liền cô ngay bây giờ".

Sắp nhỏ trong chợ áp lại coi chúng nó vỗ tay khen rộ. Vợ con mắc cở mà lại sợ, nên tái mặt, đứng nín khe. Hai chị bộ hạ cũng ghê, nên bước lại nắm cánh tay kéo đi. Vợ con lẩm bẩm nói: " Để rồi coi". Anh đánh xe ngựa đi theo mà kêu hỏi : "Ê! Còn hăm he hả? Tính cắn trộm hay sao? Tôi làm ơn nói trước cho cô biết: nếu cô cắn trộm thì tôi trả đũa liền. Mà tôi trả đũa trước mặt, chớ không thèm làm lén".

Vợ con ríu ríu lại bến xe đò rồi cùng với hai bộ hạ lên xe mà đi Chợ lớn, hết dám hó hé nữa.

Vợ con náo động bên chợ, xấu hổ hết sức mà con nằm êm bên nhà con có hay gì đâu. May thầy giáo Hiển viết thơ, rồi chiều tối thầy sai một đứa học trò đem qua cho con. Con đọc thơ thì con bủn rủn tay chân, con vô mùng con khóc. Con tư tình với cô Hưởng gần nửa năm con biết con có tội lỗi với gia đình nhiều. Khi cô Hưởng có thai thì con ăn năn vì con làm hư tiết gái mà con không tìm được cách nào để cứu chữa. Thiệt con sợ cái hậu quả là đời sống tương lai của mẹ con đứa nhỏ sắp sanh ra đời con biết làm sao mà bảo bọc dưỡng nuôi. Con không dè cái hậu quả của vợ con nó gây ra đây nữa, nó làm xấu hổ cho nhiều người quá, cho nó, cho cô Hưởng, cho vợ chồng thầy Hiển và luôn cho má nữa.

Làm tưng bừng như vậy rồi vợ con nó trở lên Saigon chớ không có về nhà. Đêm đó con muốn lạy má mà thú tội rồi xin má tha thứ và tính giùm cho con. Biết má nằm ngoài ván, con dợm hai ba lần mà con không dám ra.

Con thổn thức đến khuya con nghĩ lại con sợ vợ con quá. Nếu nó có chút tình yêu với con thì con có cần phải đi kiếm tình yêu nào khác mà sanh rắc rối như vậy. Con phải mang tội lỗi là tại nó thúc đẩy con, chớ không phải tự ý con có vợ bé vợ nhỏ. Vậy con tính đợi vợ con về con kể hết tội lỗi của con cho nó hiểu, con nói trắng ra trước mặt má, rồi dầu nó chịu hay không chịu con cũng lạy má mà xin làm hôn thú bực nhì với cô Hưởng rồi rước cô về với mình, trước con cứu chữa danh giá cho cô Hưởng, chừng cô sanh con, con nuôi dạy đứa nhỏ là máu thịt của con. Nếu vợ con nó không bằng lòng nó tính lẽ nào tự ý nó. Con là người Việt, con được hưởng luật đa thê. Vợ con không phép ngăn cản, bất quá nó ly dị.

Tính như vầy rồi con yên lòng, con giấu má, đợi vợ con về rồi sẽ hay. Sáng bữa sau con qua nhà thầy giáo Hiển thì người nhà nói thầy đã đi vô trường dạy học, còn vợ thầy thì đi Saigon với cô Hưởng hồi khuya. Con đi luôn vô trường kiếm thầy Hiển mà thăm. Thầy không phiền con, nhưng chưa hết giận vợ con. Thầy nắm tay con kéo lại đứng dựa cửa sổ rồi nói nhỏ nhỏ mà thuật lại chuyện xô xác hôm qua, y như thầy đã viết trong thơ mà con biên ra phía trên kia. Thuật hết rồi thầy kết luận: "Từ hôm qua bên chợ nầy ai cũng khinh bỉ vợ bạn thái thậm. Con dâu nhà tử tế mà láu táu hổn hào như bọn hàng tôm hàng cá, làm cho ai cũng ghét hết. Bởi vậy cả chợ áp lại binh cô Hưởng, làm bà mợ xò, rồi anh ba Thẹo, đánh xe ngựa, ảnh tiếp mà dạy cho một bài học khôn trước mặt thiên hạ, bà mợ xuống nước chạy te như gà mái mắc mưa, thiệt tệ hết sức".

Con xin lỗi tại con mà vợ chồng thầy phải mang tiếng chung. Thầy nói con không có lỗi gì hết, có phải con xúi vợ con làm như vậy đâu. Vợ chồng thầy không phiền, chỉ tội nghiệp cho má với con đều là người hiền đức, ai cũng thương yêu kính trọng, rủi rước một con ác phụ như vậy vào nhà, cho nó ăn mặc sang trọng, rồi nó thả lên Saigon làm xấu làm hổ mà chưa đã còn về đây diễn một lớp tuồng hào hứng đặng bia danh trong xứ cho thiên hạ biết. Thầy cũng tội nghiệp cho phận cô Hưởng bối rối hết sức. Bị tình yêu lôi cuốn, lỡ có thai nghén, cô biết ở đây không được nữa. Hôm đầu tháng cô đã có gởi đơn xin đổi đi tỉnh khác như không cho thì cô từ chức. Nha học chánh chưa quyết định, kế xảy ra vụ nầy. Cô hổ thẹn với thiên hạ nên cô khóc dữ quá. Hồi hôm cô gởi thơ cho ông Đốc hay cô phải bỏ xứ mà đi, dầu bị cách chức cô cũng chịu, chớ cô không còn mặt mũi nào mà ở đây nữa. Ông Đốc thương phận cô nên ông cho phép cô nghỉ ít bữa đặng cô vận động đổi đi chỗ khác. Hồi khuya nầy cô về Saigon có vợ thầy Hiển đưa cô đi. Cô chở hết áo quần đồ đạc theo chắc dầu thế nào cô cũng không trở lại Cần Giuộc nữa. Con lau nước mắt mà về.

Đến chiều con lấy một ngàn trong số bạc má giao cho con giữ để xuất phát đó, rồi con trở qua nhà thầy Hiển coi vợ chồng thầy về hay chưa đặng con hỏi thăm. Cô về rồi, cô Hưởng lên ở nhà cô giáo Huyền trong chợ Quán. Vợ thầy Hiển nói Cô Hưởng buồn lắm, thà cô bị cách chức chớ cô không chịu trở xuống Cần Giuộc nữa. Cô cậy nói với Đường đừng đeo đuổi theo cô nữa, để cho cô ẩn núp cho an thân, đợi sanh đẻ rồi cô kiếm người mà cho đứa con đặng cô đi cho xa mà vùi lấp cái thân nhơ nhuốc. Con nghe như vậy con khóc. Tan học thầy Hiển về. Vợ chồng hỏi con bây giờ tính lẽ nào. Con mới nói con đợi vợ con về coi nó nói làm sao. Con vái nó gây gổ với con, thì con hài hết tội lỗi của nó cho má nghe, rồ con xin phép làm hôn thú bực nhì với Cô Hưởng. Con sẽ châu cấp cho mẹ con Cô Hưởng no ấm mãn đời. Nếu vợ con không bằng lòng nó nài ly dị thì con rứt quách cho xong đặng con rước Cô Hưởng về nhà mà ở. Vợ chồng thầy Hiển cho con tính như vậy là phải. Con mới đưa một ngàn đồng bạc cậy giao giùm cho Cô Hưởng ăn xài chừng sanh đẻ con sẽ bao hết.

Cách ít bữa sau, vợ con ở trên Saigon về, nó xin lỗi với má và con, nó vui vẻ lăng xăng nói lên Saigon rồi tối lại nó cảm, nên nóng lạnh rồi chị hai nó bắt ở trển cho bác sĩ tiêm thuốc, bữa nay mạnh nó mới về được.

Con biết đó là lời xảo trá, nhưng thấy má tin quá, má ân cần biểu nó phải tiếp dưỡng; nó lại mơn trớn chìu chuộng con, nên con không biết liệu làm sao.

Con đương lửng lơ dụ dự, thầy Hiển lại cho con hay có nghị định gởi xuống chấp thuận đơn từ chức của Cô Hưởng và vợ thầy giao một ngàn đồng bạc cho Cô Hưởng thì cô không chịu nhận, cô nói nếu cô lấy tiền của con té ra cô bán trinh tiết hay sao.

Cô cậy nói giùm với con một lần chót đừng có tiếp xúc với cô nữa mà gây họa thêm. Cô lại còn khuyên con chẳng nên để ý đến đứa con tội lỗi cô đương mang trong bụng, vì nó là quả báo của tội cô với con làm quấy, nó ra đặng gây khổ, chớ không phải ra để giúp vui mà mong muốn. Con phải cạn lời năn nỉ với vợ chồng thầy Hiển cứ gởi số tiền con gởi đó và ráng khuyên lơn Cô Hưởng bớt buồn rầu để tiếp dưõng thai bào, là sanh mạng của tạo hoá phú cho, vậy không nên khuấy phá mà thêm nặng tội. Con phải thề thốt dầu thế nào con cũng không quên được Cô Hưởng là một phụ nữ duy nhứt đã giúp cho con biết say sưa tình yêu chơn thành nồng nhiệt trót mấy tháng trường, mà con cũng không bỏ được đứa con sắp ra đời, vì nó là máu thịt của con cấu tạo, dầu họa, dầu phước con cũng sẵn lòng nhìn nhận.

Trước tình cảnh biến chuyển bất ngờ, vợ con thì đổi hẳn thái độ, nó không nói tới Cô Hưởng, không nhắc chuyện xô xác bên chợ; còn Cô Hưởng thì quyết bứt đứt mối tình yêu của con, lại còn tính bỏ rơi đứa nhỏ là hậu quả, là dấu tích của tình yêu nồng nàn đó nữa, con mất hết phương hướng, không tìm được ngả nào mà đi. Công cuộc con tính toán sắp đặt để xin phép má mà hất ác phụ vô hậu ra và rước hiền phụ có con vào, mà vì tình cảnh xáo trộn làm cho sự con toan tính đều hư hỏng hết, không thể thực hành được.

Lúc ấy con chẳng khác nào như người đi lạc trong rừng rậm mịt mù, không tìm được ngả mà ra. Con vu vơ trót mấy tháng, kế được thơ kín của thầy Hiển cho hay Cô Hưởng đã sanh rồi, sanh được một đứa con trai, mẹ con đều khỏe mạnh.

Đã mấy tháng rồi vợ con không ló mòi ghen tuông chi hết. Mà dầu khó dầu dễ con cũng quyết đi thăm Cô Hưởng, trước tỏ cho cô biết tình yêu của con không phai lạt, sau thấy mặt đứa con trai của con, là hy vọng tối cẩn, là mục đích duy nhứt của má trông mong thuở nay. Con qua nhà cậy vợ thầy Hiển dắt giùm con đi thăm Cô Hưởng. Cô chịu và cô nói sáng bữa sau cô cũng đi thăm. Con hẹn giờ với cô rồi bữa sau con lấy một ngàn đồng bỏ vào túi và con thưa với má con đi Saigon ở chơi ít bữa đặng kiếm sách mà mua rồi con qua chợ đi xe đò với vợ thầy Hiển.

Lên tới Chợ Quán vợ thầy Hiển dắt con ghé nhà cô giáo Huyền hỏi thăm coi Cô Hưởng nằm tại nhà bảo sanh nào, rồi mới đi lại đó. Con đưa trước số bạc con đem theo cho vợ thầy Hiển mà cậy trao cho Cô Hưởng. Cô Hưởng cấm không cho con vào phòng, cô nhứt định không chịu thấy mặt con và nghe con nói chuyện nữa.

Con phải ngồi ngoài phòng khách để một mình vợ thầy Hiển vô thăm. Cách một hồi thiệt lâu vợ thầy Hiển mới ra nói cô an ủi hết sức mà Cô Hưởng không chịu lấy tiền, cô nhét đại trong gối mà để đó. Con xin cho con thấy mặt đứa nhỏ một chút rồi con đi khai sanh mà nhìn nhận đó là con. Cách một hồi nữa vợ thầy Hiển bồng em nhỏ ra, có cô mụ đi theo. Hai người đều nói thiệt em nhỏ giống con. Cô mụ lại nói sanh bữa nay được 6 ngày rồi, hôm qua cô đã vô Tòa thị sảnh Chợ lớn mà khai sanh cho em rồi nữa. Vì vợ chồng không có hôn thú nên phải khai theo họ mẹ là họ Võ đặt tên là Càn, không có cha.

Con bối rối thêm nữa. Ra khỏi nhà bảo sanh rồi, con cám ơn vợ thầy Hiển con tẻ ra Saigon ghé thăm người quen, chỗ con ở học hồi trước. Con bày tỏ việc của con. Người đó nói muốn nhìn con không có khó gì cứ giao cho trạng sư họ làm cho, con chíp trong bụng, đi mua vài quyển sách thăm anh vợ và chị vợ mỗi nhà một chút rồi về; thầm tính ít ngày sẽ trở lên lo việc nhìn con và nếu có thể được thì lãnh con đem về nuôi dạy.

Cách chừng một tháng con đi Saigon nữa. Con đã biết chỗ rồi nên con đi một mình và đem tiền theo đặng mướn trạng sư lo việc nhìn con. Con đến nhà cô giáo Huyền mà thăm mẹ con Cô Hưởng thì cô Huyền nói Cô Hưởng không có ở nhà cô nữa. Nằm trong nhà bảo sanh Chợ Quán 8 bữa rồi Cô Hưởng bồng con về. Cô ở được mười bữa rồi cô cáo biệt, nói đi kiếm bà con cậy nuôi giùm em nhỏ đặng cô làm mà nuôi sống.

Con chắc thế nào con cũng kiếm được Cô Hưởng, bởi vậy con không lo. Con ra văn phòng của một vị trạng sư mà cậy làm giấy tờ cho con nhìn nhận là cha của một đứa con trai tại nhà bảo sanh Chợ lớn ngày 5 tháng chạp dương lịch, mẹ là Võ thị Hưởng, 22 tuổi, cựu giáo viên vì cha mẹ không có làm hôn thú nên đứa nhỏ theo họ mẹ và đặt tên là Võ Văn Càn, không có biên họ cha. Ông trạng sư biên các điều con nói, ông hỏi địa chỉ, tuổi và nghề nghiệp của con mà biên nữa. Ông biểu con đóng trước 500 đồng để trả sở phí giấy tờ; ông sẽ làm đơn rồi buổi chiều con quay lại ký tên. Ông sẽ thay mặt cho con xin sao lục khai sanh để đính theo đơn mà gởi. Con cứ về để ổng lo cho, nếu có điều chi trắc trở cần phải có mặt con thì ổng sẽ gởi thơ mời con lên.

Con về nói chuyện lại cho vợ chồng thầy Hiển hay. Tuần sau vợ thầy Hiển đi Saigon về nói cô có ghé thăm cô Huyền và cô Huyền cũng nói y như lời đã nói với con. Qua tháng 3 năm sau con mới được thơ của ông Trạng sư cho hay công việc đã xong rồi hết và ông biểu con đem lên đóng thêm 500 đồng nữa đặng lãnh giấy tờ. Con lên đóng tiền rồi ông Trạng sư bèn giao cho con một tờ khai sanh tên Võ Văn Càn, không có cha, còn mẹ là Võ Thị Hưởng với một bản bổn sao án Tòa sửa khai sanh đó lại tên Nguyễn Văn Càn, cha là Nguyễn Văn Đường, mẹ là Võ Thị Hưởng. Con đính hai tờ ấy theo thơ nầy để chứng minh cho má biết con có một đứa con trai tên là Nguyễn Văn Càn con của Võ Thị Hưởng đẻ.

Con rất tiếc con có con trai mà thấy mặt nó có một lần hồi mới sanh rồi từ ấy đến nay con với vợ chồng thầy Hiển kiếm hết sức mà không biết nó ở đâu đặng đem về mà nuôi. Cách vài ba năm sau thầy Hiển cho con hay thầy nghe chắc Cô Hưởng có chồng rồi cô theo chồng ra ở ngoài Huế, còn đứa con của cô thì người nói cô đem theo, kẻ nói cô cho người khác nuôi làm con, nhưng ai cũng nói mờ ớ như vậy chớ không ai biết rõ ra Huế Cô Hưởng ở đâu, làm nghề chi, còn nói con cô cho người khác nuôi, mà người đó tên gì, ở đâu cũng không biết.

Thưa má.

Trót mười mấy năm nay con sống giữa tình cảnh như vậy đó, có vợ mà như người không có vợ, có con mà cũng như người không có con; vợ con đều có mà không và không mà có. Thiệt trớ trêu hết sức!

Đời con hư hỏng, con không tiếc gì. Con chỉ buồn cho bổn phận con làm trai mà con không trọn thảo với cha mẹ ông bà, con lại làm hại một cô thiếu nữ có học thức nhiều ít, có tương lai tươi cười, vì con yêu mà cô phải chịu nhực nhã hư tương lai rồi bỏ tất cả mà phiêu lưu nơi đất khách, mà con còn bỏ bơ vơ một đứa con thơ của con cấu tạo, không hiểu nó còn hay mất, sướng hay cực, không biết giờ nầy nó có được no ấm vui cười như người ta, hay là nó vất vả lang thang ở bên chuồng trâu hay nằm dưới mái chợ!

Ngó lên trên, ngó xuống dưới, ngó ra ngoài, ngó vô trong, ngó chỗ nào con cũng thấy con lầm lỗi, nên con buồn bực vô cùng. Sống mà như có lưỡi dao cắt ruột gan, hay có mũi dùi đâm đầu óc, sống như vậy năm nầy qua năm khác, phẩm chất con đã yếu sẵn, tự nhiên sức khỏe con phải hao mòn, trái tim con phải hồi hộp, rồi con bịnh, đó là lẽ thường chớ có chi là lạ.

Vì con sợ má buồn nên con phải gượng gạo ăn uống cho má vui, chớ thiệt con biết con bịnh nhiều, trái tim con yếu lắm má à. Con sợ con không thể sống lâu cho má vui nhiều ngày nữa được. Con ghé mắt vào cảnh tương lai của nhà mình, con cảm thấy hễ con chết rồi thì má khổ tâm nhọc trí nhiều lắm. Má đã già rồi, má còn sức khỏe với nghị lực đâu mà đảm đương để phá tan giặc sầu thảm cho nổi! Con sợ má cũng sẽ ngã như con vậy nữa! Mà má ngã rồi, sự thờ phượng ông bà, má gởi lại cho ai? Cửa nhà với tài sản của ông bà lưu lại, rồi má dày công mở rộng ra thêm nữa, má sẽ giao lại cho ai gìn giữ?

Con nghĩ tới tương lai thảm đạm nầy con tức quá! Con tức con tập tánh nhu nhược, nhẫn nhịn, nên con thua thiên hạ. Con tức con thiếu dũng cảm, thiếu cương quyết, nên con không đi kịp với đời. Con tức con muốn làm quân tử giữa đám tiểu nhơn, nên bị tai hại. Con tức con đeo theo hiếu đạo một cách mù quáng, dại khờ, con không biết day trở nên con được hiếu nhỏ mà mất hiếu lớn. Con tức con cư xử lỗi thời, nên đời sống của con là chuỗi ngày thảm sầu, rồi chìm ngấm trong đen tối. Nếu má may cho con một cái áo, con bận chật hẹp, coi không hạp mắt, thì con cởi mà quăng phứt nó đi, rồi may cái áo khác mà bận cho vừa, dầu má có phiền con, thì phiền trong ít ngày, rồi má thấy con y phục vừa vặn dễ coi, tự nhiên má sẽ vui lại, vui nhiều lắm, mà đời con cũng an vui, khỏi hư hỏng.

Con biết con không sống lâu được, bởi vậy hổm nay con có ý muốn tỏ hết nỗi lòng của con cho má hiểu, rồi con xin má tha lỗi cho con trở về âm cảnh, trí an ổn, lòng nhẹ nhàng. Ngặt nói ra con chắc má sẽ buồn hay má lo vì con, bởi vậy con không dám nói ngay với má. Con phải cậm cụi ngồi viết mấy trương giấy nầy mà để lại cho má, viết với tất cả thành kính của con.

Lúc con ngồi viết ở đây, trí con bình tĩnh, con không có ý phiền má hay là giận ai hết. Con chỉ tiếc cho con cư xử lỗi thời, con giữ đạo hiếu mù quáng, con thiếu cương quyết nên con không làm vui lòng má được. Con chỉ muốn má sáng suốt mà nhận định đường lối để má đi, sau khi con lìa má mà theo cha xuống chín suối.

Má muốn hạ lớp tuồng bi hỷ kịch thế gian, má muốn giũ sạch hồng trần để lo tìm đường về đức Phật hay lên cõi Tiên hoặc má vì nhơn nghĩa mà lân la nơi cửa thánh má chọn đường lối nào tự ý má.

Còn nếu má vì tình nghĩa với cha con, má không đành để tông môn của cha chấm dứt, thì có thằng Càn đó, nó là máu thịt của con, có giấy tờ minh chứng tính theo sấp giấy di bút của con đây. Có lẽ trời phật không nỡ phụ tấm lòng ngay thành kính của má đối với người quá vãng, sẽ giúp cho má mãn nguyện.

Trước khi lạy má mà vĩnh biệt, con sực nhớ con còn một mối nợ trần nầy nữa. Đứa cháu ngoại gái của ông Hương nghị Thiệt ở Mồng Gà, nó tên Cát, con của Thị Thậm, nó cũng là di tích của con. Nếu má thương con thì con cúi xin má sang tình thương của má qua chút nợ của con đó. Con vẫn biết nó là con gái không nối dòng được, bởi vậy con yêu cầu má châu cấp cho nó no ấm vậy thôi, đặng dưới suối vàng con khỏi ân hận.

Đứa con bất hiếu Nguyễn Văn Đường của má khóc lạy má mà vĩnh biệt.

Ký tên Nguyễn Văn Đường".

Ông Đốc Thắng đọc dứt rồi ông xúc động cực điểm, thấy bà Xã Cầm ngồi khóc, ông đưa xắp thơ với giấy tờ cho bà rồi ông ra đứng trước cửa mà ngó ngoài đường.

Bà Đốc coi cho con nhỏ ở dọn cơm ở trên bàn, bà mời bà khách gặp bữa qua ăn cơm với bà. Bà Xã Cầm cám ơn bà nói bà ăn cơm rồi mới đi đây.

Vợ chồng Ông Đốc biểu con nhỏ ở rót nước trà mời khách uống, rồi ngồi lại ăn cơm.

Bà Đốc nói:

- Tôi nghe đọc thơ của cậu Đường tôi cảm động quá. Tội nghiệp cậu hết sức. Con nhà có tiền, mà bị con vợ không biết điều nên đời của cậu không vui sướng chút nào hết. Bữa mợ nọ mướn hai người theo đặng làm nhục Cô Hưởng đó, có tôi chứng kiến. Công chuyện thiệt y như lời cậu nói trong thơ. Con nhà mất dạy nên khờ quá. Tính làm nhục cho người ta còn bị thiên hạ ghét nên họ nhục mạ.

Bà Xã nói:

- Việc vỡ lỡ như vậy mà tôi có hay đâu. Nếu hồi đó tôi hay thì tôi thâu xếp, có lẽ yên ổn được, đâu có khổ như vầy.

Ông Đốc nói:

- Việc nhà của chị, ai biết bụng chị thế nào nên dám chen vô mà nói. Lúc đó tôi đổi lên Cần Giuộc vừa mới được một năm, tôi chưa quen biết chị cho lắm. Cô Hưởng khóc nói cho tôi hay cô phải bỏ trường mà đi, bị cách chức thây kệ. Tôi thấy vậy tôi thương, tôi lén cho phép cô nghỉ đặng cho cô đi vận động xin thôi, khỏi bị cách chức. Mà việc đã qua rồi nhắc lại không ích gì đâu. Bây giờ thơ di chúc của cậu Đường nói như vậy đó chị tính làm sao đây ?

Bà Xã nói:

- Cần gì phải tính. Tôi hay tôi có tới hai đứa cháu nội. Trời khiến tôi thấy đứa con gái tôi thương, tôi đã đem về tôi nuôi mấy năm nay rồi. Bây giờ còn đứa cháu nội trai nữa, tôi phải kiếm, dầu mất công tốn của bao nhiêu tôi cũng quyết kiếm cho được.

Ông Đốc nói:

- Chị xử như vậy là phải hơn hết. Có tiền bạc để làm gì mà bỏ rơi con cháu. Chị làm như vậy cậu Đường ở dưới cửu tuyền chắc cậu vui lòng lắm, mà danh giá của chị càng lớn thêm.

- Con tôi nó nói nó có lỗi tại nó tập tánh nhu nhược, nó cư xử lỗi thời nên nó mới bị hại. Tôi nghĩ lại lỗi tại tôi chớ đâu phải tại nó. Tôi mù quáng không biết dạy nó ăn ở hạp thời. Bây giờ tôi mới thấy tôi lỗi thời chớ không phải nó. Cậu Đốc có biết vợ chồng thầy Hiển bây giờ ở đâu hay không?

- Tôi nghe nói bây giờ ở bên Hương Cỏn[1]. Cách mươi năm nay anh vợ thầy lập hàng xuất nhập cảng trên Saigon, biểu thầy xin thôi về giúp rồi cho hết hai vợ chồng thầy qua Hương Cỏn ở học tiếng ăng lê và coi giùm cái chành lập để rước hàng bên nầy qua và gởi hàng ở bển về. Vợ chồng ở luôn bển từ đó đến giờ.

- Còn cậu Đốc có nghe Cô Hưởng với con của cô ở đâu hay không?

- Không.., À, tôi nhớ mày mạy dường như sắp nhỏ tôi có nói có gặp Cô Hưởng, mà đứa nào nói tôi quên rồi, để ít bữa tôi lên hỏi lại coi.

- Chừng nào cậu đi?

- Tôi về thăm nhà chơi năm ba bữa rồi tôi sẽ đi nữa.

- Được a. Cậu đốc lên hỏi thăm rồi ráng kiếm Cô Hưởng hoặc thằng Càn giùm cho tôi. Cậu làm ơn mướn người ta đi kiếm, chịu tiền xe cho họ, tốn hao bao nhiêu tôi chịu hết. Cậu đừng ngại chỗ đó. Được một đứa cháu nội trai dầu mất mấy dãy ruộng tôi cũng vui lòng.

- Giống gì mà tới mất ruộng lận!

- Vậy chớ sao cậu. Không có con, mà không kiếm được cháu nữa thì ruộng để cho ai ăn? Để chiều tôi đem một số tiền qua tôi gởi cho cậu dùng làm sở phí mà đi kiếm. Cậu mướn xe mà đi. Tìm được cậu bao xe lô chở về đây giùm cho tôi cậu được phước đức lớn lắm.

- Đọc thơ của cậu Đường hồi nãy tôi quá cảm. Tôi sẽ ráng kiếm cho được Cô Hưởng mới ra thằng Càn, kiếm đặng làm ơn cho chị, mà cũng làm ơn cho Cô Hưởng nữa.

Bà Xã Cầm đút hết giấy tờ vô bao thơ rồi gói lại trong khăn và từ giã vợ chồng Ông Đốc Thắng mà về, hứa chiều bà sẽ trở qua nữa.

]Hạnh Phúc Lối Nào

3. VÌ THƯƠNG NÊN PHẢI...

Cô Giáo Hưởng, một nạn nhơn của ái tình vì ăn năn, hối hận nên cô phải bỏ xứ mà phiêu lưu nơi đất khách, quyết vùi thân trong chốn rừng núi, để chôn lấp thanh danh nhơ nhuốc mà hàn gắn vết thương tâm. Vì không nỡ chịu mang tiếng giựt chồng mà quấy rối gia đạo của người yêu nên cô phải hy sinh xa người yêu 18 năm. Mà cũng vì không đành kéo đứa con thơ ngây chung sống trong cảnh đời phiêu lưu vô định nên phải cắt bỏ rời luôn máu thịt trót 17 năm.

Bụi thời gian đã phủ lấp nhiều lớp trên đống dĩ vãng, là di tích của ái tình, lắm ngọt bùi, mà cũng lắm cay đắng. Tuy vậy mà có khi Cô Hưởng trong đêm thanh vắng ngồi một mình với một ngọn đèn, cô chẳng những hồi tưởng việc năm xưa, nhớ người yêu, không biết bây giờ người có an vui hiển đạt hay không, rồi cũng nhớ đứa con dại không biết bây giờ nó còn hay đã mất.

Đã bốn mươi tuổi, đã từng chịu phong trần nhiều năm, đã bỏ dẹp cái tâm hồn đa sầu đa cảm mà xem cuộc đời như hí trường, như trò chơi, không có chi đáng buồn hay đáng vui nữa, vì cuộc đời là lượng sóng đẩy đưa lôi cuốn con người, chẳng khác nào ngọn gió mạnh hất bay lá cây khô mà bỏ rải rác chỗ cao chỗ thấp, không làm sao mà định trước được. Cô Hưởng chắc nợ đời cô đã trả đủ, tình yêu cô đã lợt phai, nên nhơn có tiền bạc, lại được rảnh rang cô mới trở về Saigon đặng lóng tai nghe thử chuyện xưa liếc mắt dòm qua lối cũ.

Ngày qua tháng lại chỉ có 17 năm trời mà đã nhiều lần sao dời vật đổi, kẻ mất người còn, kẻ mất thì đau lòng ứa lụy đã đành, khổ nỗi người còn không biết ở đâu mà kiếm.

Cô Hưởng rảo bước trót mười bữa mà tìm người bà con, là cô giáo Hạnh, hồi trước ở Bà Chiểu, người cô gởi con rãnh tay mà đi xa. Cô hỏi thăm lần lần, mới hay cô giáo Hạnh cách mười năm trước cô thôi dạy học bán nhà về ở miệt Củ Chi, nhưng cô gả người con gái lớn, tên Thinh, lấy chồng ở vùng cây Quéo. Lên miệt đó hỏi mấy bữa nữa mới hay cô Thinh đã mướn một căn phố lầu trong đường đâm qua hông đất Thánh Tây, ngoài đất Hộ, chồng đi làm việc. Cô mở tiệm may treo bảng hiệu Tân Hưng. Cô Hưởng ra đó thiệt gặp cô Thinh, chị em mừng nhau, rồi dắt nhau lên lầu mà nói chuyện.

Cô Thịnh mới kể chuyện ở nhà cho Cô Hưởng hay. Má cô là cô giáo Hạnh, nuôi em Càn đến 8 tuổi, em mạnh khỏe, học siêng nên khá lắm, trong nhà ai cũng yêu. Rủi má cô đau phổi. Bác sĩ khuyên kiếm chỗ cao ráo mát mẻ mà ở đặng tịnh dưỡng, chẳng nên dạy học nũa. Má cô gả cô lấy chồng, rồi xin từ chức bán nhà ra Củ Chi mà ở. Vì em Càn ham học lại có khiếu thông minh, mà cô không nỡ đem về chốn thôn quê mà ở cho em chịu dốt. Cô Tư Phúc ở trên Tân Định, là em con nhà chú, có chồng làm việc mà không có con, cô xin lãnh em Càn mà nuôi làm con đặng cho em ăn học. Chẳng dè em Càn ở chừng một năm rồi em bỏ đi mất không biết đâu mà kiếm.

Cô Hưởng mất con cô ngơ ngẩn. Chánh lúc ấy là lúc chánh phủ đương lo chấn hưng luân lý, cương quyết cấm nhặt tứ đổ tường, để diệt trừ tục tồi phong. Các nhà báo đều hưởng ứng, gây ra một phong trào mạnh mẽ bài trừ những thói xấu xa, như gái lẳng lơ, trai nhảm nhí. Hội : "Xây dựng đời sống mới" nhơn đó mới tiếp sức mà cổ động bảo thủ trinh tiết của gái thiệt thà, và chỉ trích hạnh kiểm hèn mạt của trai háo sắc, hễ trai gặp gái thì ghẹo chọc, dùng đủ lời ngon ngọt, đủ chước giả dối mà gây cảm tình, để gần nhau cho có con, rồi gái vì muốn cứu thanh danh trai vì trốn trách nhiệm, đồng bỏ đứa nhỏ của mình cấu tạo thành con nhà hoang, còn nhỏ thì vất vả lang bang ở xó chợ góc đường, chừng lớn lên thì ngênh ngang hung dữ, tạo ra một hạng côn đồ đàng điếm mà cướp giựt làm cho xã hội mất vẻ đẹp, mất an ninh.

Những biểu ngữ in chữ lớn mà ván khắp vách tường, hoặc viết thành tấm bảng mà cặm tại ngã ba đường cái, để nhắc nhở gái lẳng lơ phải biết giữ gìn trinh tiết, trai nhảm nhí phải lo sữa lại tánh tình cho đúng đắn.

Gặp phong trào như vậy Cô Hưởng cảm thấy cô lỗi tới hai lần: một là lúc thanh xuân cô không biết thận trọng, để cho tình yêu xô đẩy làm cho cô mất tiết mất trinh, hai là lỡ có con rồi cô không lo nuôi con mà bỏ cho nó mất đi, chắc nhập bọn với hạng trẻ hoang đàng, thù oán mẹ cha, khuấy rối xã hội. Cô tính kiếm chỗ ở cho yên rồi cô đi tìm con, phải tìm cho được mà đem nó ra khỏi vòng "vô gia đình" đặng nó nếm chút mùi thân yêu hạnh phúc.

Vợ chồng Cô Thịnh mới nói tiệm may Tân Hưng lèo hèo chỉ có vài cô thợ, tối thì họ về nhà hết nên tiệm rộng rãi. Vợ chồng bèn nhượng từng trên cho Cô Hưởng ở, có sẵn đồ đạc đủ dùng.

Có chổ ở yên rồi Cô Hưởng mới đi kiếm con. Đi chừng một tháng cô gặp cô giáo Đào, là con gái của Ông Đốc học Thắng ở Cần Giuộc, hồi còn nhỏ cô Đào có học với cô. Cô Đào nhìn cô. Hai đàng mừng nhau, hỏi thăm gia đình, nhắc sơ chuyện cũ Cô Hưởng mới hay cậu Đường là tình nhơn của cô ngày trước, đã chết rồi, chết mà không có con.

Đã yên một mối rồi, bây giờ cô chỉ lo tìm con mà thôi, cha nó đã mất, phải tìm cho được nó đặng bảo bọc. Nhờ có cô Tư Phúc ngày em Càn trốn mà đi, người ta có gặp em theo sắp nhỏ bán sách bán báo, Cô Hưởng phăng lần lần mới gặp được Càn ở chùa nhơn Hòa, bên Chí Hòa mang đạo hiệu Huệ Minh. Mẹ con gặp nhau mà Càn lợt lạt không có cảm tình chi hết, muốn rước ra nhà đặng nói chuyện chơi thì Càn từ khước không chịu đi.

Cô Hưởng về cô buồn nên nằm tiu hiu luôn mấy bữa tuy được biết con tu hành tinh tấn, ấm áo no cơm, khỏi hoang đàng cực khổ, song con không muốn gần mẹ, nên con lơ lãng không có tình nghĩa mẹ con, té ra có cũng như không, thế thì làm sao mà vui mừng cho được.

Cô đương đau khổ nỗi lòng, vì tìm được con mà con lơ lãng nó không muốn nhìn, rồi lại nhớ đến người gặp gỡ ngày xưa, vì quá thương quá trọng người, nên phải hy sinh tình yêu để cho người trọn thảo với mẹ đặng gia đình êm ấm. Nào dè người yêu chết mất lại không có con mà đứa con mình sanh ra cho người thì không được nhìn; té ra mình yêu người thành mình ghét người, yêu mà hại thì thà đừng yêu cũng còn nhẹ tội.

Cô Hưởng nằm tư lự như vậy, thình lình Cô Thịnh lên lầu cho cô hay có một ông xưng là Đốc học hưu trí ở dưới Cần Giuộc; ông ghé tiệm may hỏi thăm cô và muốn gặp cô. Cô Hưởng ngạc nhiên lật đật ngồi dậy thay áo rồi theo Cô Thịnh xuống từng dưới tiếp khách. Cô vừa thấy Ông Đốc Thắng đương đứng tại cửa tiệm thì cô vội vã bước riết ra vừa đi vừa nói:

- Em kính chào Ông Đốc, ông bà đều mạnh giỏi hết phải không?

- Cám ơn, mạnh giỏi.

- Em đã về mấy tháng rồi mà em không xuống thăm ông bà được, thiệt em có lỗi nhiều lắm. Xin ông tha lỗi cho em. Chắc cô giáo Đào có nói với ông nên ông mới biết em ở đây...

- Ừ, tôi nhờ con Đào nó nói nó có gặp cô. Cô nói cô ở đậu tiệm may lối nầy tôi mới biết tôi lại kiếm đặng thăm một chút. Cô đi mất 18 - 19 năm nay tôi hỏi thăm hoài, nhưng không ai biết cô ở đâu mà chỉ. Hôm qua tôi lên chơi, nghe con Đào nói nên sáng nay tôi mới đi kiếm đây.

- Hôm em về Saigon được ít ngày tình cờ em gặp cô Đào. Cô nhớ em cô nhìn. Em mới hay cô có chồng, vợ chồng đều làm giáo viên dạy trường Đa Kao. Em hỏi thăm ông bà thì cô nói ông bà đều mạnh, ông đã hưu trí rồi ở luôn dưới Cần Giuộc.

- Phải. Vợ chồng tôi cất nhà ở luôn cho rộng rãi mát mẻ. Cô đi đâu mà bặt tin gần 20 năm nay vậy ?

Cô Hưởng cười rồi ngó quanh quất mà nói: "Em mời Ông Đốc chịu khó đi lên lầu uống nước. Ở dưới nầy không có chỗ ngồi, lại người ta vô ra hoài, nói chuyện không tiện".

Ông Đốc Thắng cố ý muốn nói chuyện riêng với Cô Hưởng, nên nghe cô mời lên lầu thì ông đi theo cô liền, không dụ dự chi hết.

Lên lầu rồi Cô Hưởng kéo ghế dựa bàn mà mời Ông Đốc Thắng ngồi. Cô rót một tách nước trà, bưng lại mời ông uống. Cô ngồi cái ghế phía đầu bàn.

Ông Đốc ngó trong ngó ngoài rồi ông hỏi:

- Nghe nói cô có chồng, mà chồng làm việc gì ở đâu?

- Thưa em không có chồng.

- Ủa! Sao cô đi khỏi Cần Giuộc được chừng một năm rồi vợ chồng thầy Hiển nói cô có chồng và vợ chồng cô dắt nhau đi ra Huế làm việc.?

- Thưa, đó là lời em nói dối với cô giáo Huyền trong chợ Quán để cô đồn lại với vợ chồng thầy giáo Hiển cho người ta đừng kiếm tìm đeo đuổi theo em nữa.

- Cô báo hại quá! Cô làm cho cậu Đường tìm kiếm hết sức, tìm không được cậu buồn rầu đến mang bịnh. Còn đứa con trai của cô bây giờ nó ở đây với cô hay là ở đâu?

- Thưa không. Em sanh nó được vài mươi ngày em thấy ở nhà cô giáo Huyền bất tiện, vì anh Đường biết chỗ ảnh lẻo đẻo tới hoài, sợ vợ ảnh hay, tới làm nhục em nữa. Em mới nói dối với cô giáo Huyền em đi mướn người ta nuôi con đặng em kiếm việc làm mà nuôi sống. Em vô Bà Chiểu ở đậu một nhà người bà con. Được vài tháng em cứng cát rồi em kiếm việc mà làm. Em làm ký lục cho một bà cự phú. Bà có vốn nhiều muốn làm ăn lớn, ngặt không biết tiếng Pháp nên đi đứng khó một chút. Bà thương em, dùng em được một năm bà tin cậy em lắm. Bà biểu em đi với bà ra miệt ngoài kiếm đất đỏ mà khẩn hoặc mua để lập vườn mà trồng trà, trồng cà phê, là hai thứ bây giờ bán đắt lắm. Bà hứa cho em ăn lương tháng, lương xứng đáng mà giúp cho bà làm được việc, hễ có lợi thì bà chia cho em hưởng 10 phần 100 nữa, và bà Sáu Hẩu là một người sương phụ, chưa tới 40 tuổi, có phố ở Saigon nhiều, lại có bạc gởi tại nhà băng đến mấy triệu. Em làm ký lục cho bà gần một năm, em biết rõ tánh tình bà. Vì bà thất học nên bà khỏi bận rộn về tôn giáo, về luân lý, khỏi lệt bệt mắc lầy trong cái vũng thành kiến nhơn nghĩa hay cái đống phong hoá cũ kỹ như mình. Bà cứ nhắm thực tế mà đi, đi mau, đi mạnh nhưng đi với trí cẩn thận với mắt sáng suốt. Nghe ai nói tới ái tình thì bà la lớn mà cãi liền. Bà nói loài người không ai biết ái tình là cái quái gì. Họ mượn hai tiếng ái tình nghe cho êm ái đặng dễ gạt gẫm mà làm cho thỏa nhục dục hoặc cho ra bạc tiền mà thôi, chớ không có ái tình gì hết. Loài người chỉ đuổi theo một mục đích là giả dối để lừa gạt mà bóc lột nhau, ám hại nhau, cướp công giựt của lẫn nhau. Bởi vậy bà dạy ở đời mình chỉ cậy sức mình, chớ đừng tin bụng ai hết.

- Bà là bà triệu phú, mà bà quan niệm cảnh đời kỳ quá há?

- Thưa, kỳ thiệt. Tuy vậy em nhận thấy bà chơn thành, ngay thẳng, dám cứu người gặp cơn hoạn nạn, biết thương trong cảnh nghèo hèn. Bà dũng cảm, có quyết đoán mạnh mẽ, nhưng bà biết ơn người giúp công cho bà, bà cũng biết xúc động trước tai hại của người. Em đương đau khổ về tình yêu của em đối với anh Đường; em đương kiếm thế vùi thân nơi xứ xa cảnh lạ đặng trốn tránh anh Đường, bởi vậy em nghe bà biểu em theo bà đặng lên vùng đất đỏ mà lập vườn trà, vườn cà phê thì em chịu liền...

- Khoan. Xin cô ngừng cho tôi hỏi một chút rồi cô sẽ nói tiếp. Tại sao hồi đó cô với cậu Đường yêu nhau, gần gũi nhau đến có thai nghén rồi cô lại lánh mặt, không muốn gặp cậu nữa? Mà chừng cô sanh cho cậu được một đứa con trai rồi cô cũng còn tính trốn tránh cậu hoài? Hay cô có thai cậu có tỏ ý ăn năn, cậu có lợt lạt với cô hay sao mà cô phiền nên cô quyết xa cậu?

- Thưa, không. Hay em có thai, anh Đường mừng lắm. Đối với em, tình yêu của ảnh càng thêm mặn nồng. Mà đối với ảnh, tình em yêu ảnh cũng không lay chuyển.

Tại em yêu ảnh, mà ảnh cũng yêu em, hai đàng yêu nhau với một tấm lòng chơn thành, yêu vì đồng thinh đồng khí, chớ không có ý gì khác. Tại cái yêu đó nên em phải xa ảnh trước cho ảnh trọn thảo với mẹ, được êm ấm trong gia đình, sau em vùi tấm thân nhuốc nhơ trong chốn non cao rừng thẩm. Xin ông Đốc xét lại mà coi, anh Đường là người ở với mẹ chí hiếu. Mẹ cầm trầu, cầm cau mà đi cưới vợ cho ảnh. Nếu em để cho ảnh vì yêu em, mà nếu em vào nhà ảnh; thì ảnh bất nghĩa với vợ, lại thêm bất hiếu với mẹ nữa. Yêu ảnh mà làm cho ảnh hoá ra người bất nghĩa bất hiếu, đó là ghét, chớ đâu phải yêu.

Em không thể làm như vậy được. Em nghĩ chỉ có rời xa thì là thượng sách. Vì em mồ côi cha mẹ nhờ bà cô giúp em ăn học nên em lập thân. Bà cô mất rồi em không còn nơi nương dựa nữa. Em phải níu chưn ngạch giáo huấn để mà sống, bởi vậy khi em có thai, em làm đơn xin đổi qua xứ khác cho xa anh Đường. Em chưa kịp đi thì vợ ảnh làm rầy làm nhục nhã em quá, lại nhục lây cho vợ chồng thầy giáo Hiển nữa. À, nãy giờ em quên hỏi thăm vợ thầy giáo Hiển. Vợ chổng thầy mạnh giỏi, còn ở Cần Giuộc hay không ông Đốc?

- Không. Cô đi được ít năm rồi người anh vợ thẩy lập hãng xuất nhập cảng trên Saigon biểu thẩy xin thôi về giúp. Sau nghe nói vợ chồng thẩy đi hết qua Hương Cỏn học tiếng Anh rồi anh thẩy lập hãng ngành bến đò để cho vợ chồng thẩy coi. Từ đó đến giờ thẩy ở luôn bển.

- Té ra thẩy cũng bỏ ngành giáo huấn.

- Cô cắt nghĩa cho tôi ghe vì cô yêu cậu Đường nên cô phải xa cậu cho cậu trọn nghĩa tròn hiếu. Sống đời nay mà cô cư xử cao thượng quá, thiệt tôi kính phục cô lắm. Nhưng tôi tiếc thái độ ấy làm cho cậu Đường đau khổ hết sức. Mà thôi, xin cô nói tiếp chuyện của cô đi rồi tôi sẽ nói chuyện của cậu Đường cho cô nghe.

- Em chịu đi với bà Sáu Hẩu, mà đứa con của em mới giáp thôi nôi tại em chưa biết công việc của em sẽ ra thể nào, nếu đem nó theo lòng thòng bất tiện, bởi vậy em cho luôn nó cho cô giáo Hạnh ở trong Bà Chiểu nuôi làm con đặng cô dạy dỗ nó cho nên người tử tế.

- Xin cô nói phứt coi nó còn sống hay không; tôi muốn biết gấp cái điểm đó.

- Thưa, còn sống, mà nó...

- Thôi đủ rồi...Cô nói tiếp đi.

- Em đi với bà Sáu Hẩu ra Huế ở mấy tháng vận động mua được một sở đất đỏ rộng được một ngàn mẫu ở dựa chưn núi gần thị trấn Kontum. Em cùng bà lên đó qui dân cất nhà ở khai thác. Dân làm thì ít mà công việc làm thì nhiều, em với bà phải cực nhọc trót 15 năm mới gây thành môt sở trà và một sở cà phê tốt đẹp lắm. Trong 5 năm sau nầy mới có huê lợi vô, mỗi năm mỗi vô thêm nhiều. Nhờ vùi thân trong chốn rừng núi, sống chung với thổ nhơn, làm cực nhọc cũng như người em, mới quên được dĩ vãng đau khổ của em. Năm nay thành công mỹ mãn rồi, em khỏe khoắn, em mới nói với bà Sáu Hẩu mà về Saigon nghỉ một thời gian. Bà cho em đi, nhưng bà dặn em ra mau mau đặng coi sở thế cho bà rồi bà cũng phải về nghỉ. Về tới đây thì cô giáo Hạnh đã chết mất, đứa con của em không biết xiêu lạc ở đâu. May em gặp được cô Thinh, chủ tiệm may nầy, vốn là con gái lớn của cô giáo Hạnh, em mới hay con của em khi được tám chín tuổi, cô Hạnh mới giao nó lại cho cô Tư Phúc nuôi làm con rồi nó trốn đi mất kiếm không được.

- Trời đất ơi! Cậu Đường mong mỏi có con để nối dòng. Sao hồi ra đi cô không giao cháu lại cho cậu nuôi, cô lại cho người khác? Lúc đó cậu cậy vợ chồng thầy giáo Hiển kiếm cô hết sức mà không gặp. Chớ chi cô giao con cho cậu Đường thì xong quá, đâu có xiêu lạc được.

- Thưa ông Đốc, em sợ giao nó cho anh Đường thì nó phải chết mất đi. Ông nghĩ mà coi, vợ anh Đường là một ác phụ nham hiểm. Chồng của chị mà chị không biết thương, con của chồng chị thì chị thương sao được. Giao nó cho anh Đường chắc nó chết mau, chết vì tay mẹ ghẻ. Thà em giao nó cho người khác nuôi giùm, chừng nó khôn lớn rồi, nếu anh Đường không có con trai thì em sẽ chỉ cho ảnh biết đặng nếu ảnh muốn nhìn thì nhìn, còn nếu có con trai khác thì thôi.

- Cô tính xa quá... mà cô sợ như vậy nghĩ cũng phải... mà cô nói con cô còn sống mà bây giờ nó ở đâu?

- Em kiếm trót mấy tháng, em gặp cô giáo Đào em hay anh Đường chết mà không con, em càng kiếm lung hơn nữa. Mấy bữa trước đây em mới gặp được nó làm thầy chùa ở tu trong chùa Nhơn Hòa bên Chí Hòa. Mẹ con gặp nhau mà nó lơ láo không muốn nhìn em là mẹ. Em xin rước nó về nhà đặng em nói nguồn gốc của nó cho nó biết thì nó không chịu đi. Em tủi phận em quá. Sanh con mà bỏ rơi, không ra công nuôi dạy thì nó lơ lãng không có tình nghĩa chút nào. Nếu nó không chịu biết cha thì thôi, chớ em là mẹ nó, em banh da xẻ thịt mà đẻ nó, ít nữa nó có chút tình mới phải chớ. Em tính nếu nó không chịu nhìn bên nội thì em đem nó ra Kontum ở với em. Nó cứ nói nó đã chọn đường tu rồi, nó không muốn biết tới chuyện thế gian nữa.

Cô Hưởng nói tới đó rồi cô khóc.

Ông Đốc Thắng không nỡ cười khi cô khóc, song trong bụng ông mừng thầm, mừng cô Hưởng biết thủ tiết với người yêu chắc hiệp ý với bà Xã Cầm lắm, mà cũng mừng con trai của cậu Đường còn sống, trí đương tu tập đạo đức gần một bên Saigon đây chắc bà Xã Cầm sẽ vui sướng mà gom về đủ hai đứa cháu nội vơi hai con dâu hiền chung một nhà, đặng hưởng hạnh phúc ít năm, lãnh phần thưởng dĩ nhiên của trời Phật dành để cho người biết cư xử hiền lành, biết tận tụy với gia đình, chồng chết mà cũng giữ một mực lo bồi bổ cho tông môn bên chồng cũng như chồng còn sống.

Để cho cô Hưởng khóc một chút đặng giải bớt phiền não rồi ông mới kiếm lời mà an ủi. Ông khuyên cô chẳng nên thối chí. Ông nói cô biết hy sinh tình yêu, cùng các sự vui sướng mà vùi thân trong cực khổ mười mấy năm, cho người yêu được trọn thảo với mẹ già, cho con dại có một đời sống vững chắc, đức hy sinh cao cả dường ấy sớm hay muộn cũng sẽ được đền đáp, không mất đâu mà buồn. Rồi đó ông mới thuật lại cho cô nghe sự cậu Đường tìm không được mẹ con cô thì cậu buồn rầu mà sanh bịnh, bịnh trái tim. Nhưng vì thương mẹ già nên cậu ráng dằn lòng mà tiếp dưỡng đặng duy trì sự sống cho mẹ vui. Cách bốn năm trước cậu mới chết, chết mà không có con. Cô Oanh là vợ cậu, có lẽ vì gia tài cầm chưn cô ở lại với mẹ chồng được lối một năm. Chừng bà Xã Cầm hay con gái của người tá điền sanh được một đứa con gái đã được 12 tuổi rồi, con nhỏ giống hệt cậu Đường, bà mới xuống Mồng Gà mà xem rồi cậy mẹ con cô Thậm lên ở giúp bà, mẹ coi sóc việc nhà, con hầu giùm trầu nước, chớ không có nói nhìn con cháu gì hết.

Thế là cô Oanh tưởng bà nhìn cháu nội gái đặng sau để gia tài cho nó hưởng. Cô giận cô bỏ mà trở về bên cha mẹ bên Rạch Kiến rồi cách ít tháng sau nghe cô đã có chồng khác trên Saigon. Ba năm nay mẹ con cô Thậm ở trong nhà hủ hỉ với bà Xã Cầm nhưng hai bên không ai nói tới chuyện nhìn bà cháu gì hết. Mới đây có dịp mở gói bằng khoán ruộng đất tình cờ bà Xã gặp một xấp giấy của cậu Đường viết mà để lại di ngôn lại cho mẹ. Bữa trước bà Xã đem qua mượn ông Đốc đọc cho bà nghe, mới hay lời của cậu Đường chối với mẹ.

Ông Đốc tóm tắt lời di ngôn đó cho cô Hưởng biết nỗi khổ tâm của cậu Đường. Ông cũng nói cậu Đường có đính tờ khai sanh của Càn với bổn án Tòa nhìn nhận cha con, sữa đỗi họ Võ của Càn trong khai sanh ra họ Nguyễn nên Càn là Nguyễn Văn Càn, cha là Nguyễn Văn Đường, mẹ là Võ Thị Hưởng rành rẽ. Hôm qua, bà Xã đem bạc tiền đưa cho ông Đốc và cậy ông mướn người đi tìm giùm mẹ con cô Hưởng mà rước về cho bà. Vì được biết Càn còn sống ở tu trong chùa, thì ông mừng lắm. Ông xin cô để cho ông mướn xe rước cô xuống Cần Giuộc cho mẹ chồng với nàng dâu biết nhau và cho cô đọc xấp di ngôn của cậu Đường đặng cô thấy rõ lòng dạ của cậu đối với mẹ con cô.

Hạnh Phúc Lối Nào

4. HẾT MÊ TRẦN TỤC

Cô Hưởng cảm động cực điểm. Cô suy nghĩ một hồi rồi cô nói không thể đi được, vì cô đi té ra cô muốn tranh gia tài với mẹ con cô Thậm hay sao. Cô cứ chối từ. Ông Đốc Thắng cứ nài nỉ hết sức không được, túng thế ông mới cậy cô đưa ông qua chùa đặng ông giáp mặt với Càn là lập thế rước Càn đi. Cô Hưởng chịu.

Ông Đốc Thắng mới hẹn với cô đúng 3 giờ chiều ông sẽ ngồi xe lại rước cô đi Chí Hòa, rồi ông cáo từ mà về.

Nói chuyện với cô Hưởng một buổi sớm mơi, ông Đốc Thắng cảm thấy cô là người biết nâng cao tiết hạnh, biết cư xử đúng đắn, chớ không phải như đàn bà thường. Sẵn có một ngàn đồng bạc của bà Xã Cầm trao để làm lộ phí, ông muốn tỏ lòng ông yêu quí trọng cô, trước dụ cô đặng rước cô về Cần Giuộc cho cô giáp mặt với bà Xã Cầm, sau cậy cô giúp nói với Càn theo cô mà về cho bà Xã nhìn cháu. Tưởng phải đi đâu xa xôi tốn hao bao nhiêu, chẳng dè mới bước ra may gặp mẹ, rồi lại biết con ở gần nữa, thế thì khỏi lặn lội kiếm tìm nên phải tiện tặn.

Buổi chiều ông mướn một chiếc xe lô-ca-xông rồi đúng 3 giờ, là giờ hẹn, ông ngồi xe lại đậu trước cửa tiệm may Tân Hưng. Cô Hưởng cũng không quên lời hẹn, đúng 3 giờ cô thay áo quần sửa soạn xong rồi. Thấy xe lại tới, cô lật đật xuống lầu mà ra xe đặng đi với ông Đốc. Ông Đốc mở cửa xe bước ra chào cô, mời cô lên xe, ông ngồi một bên và biểu cô nói cho sớp-phơ biết đi đâu đặng ảnh chạy. Cô Hưởng biểu qua chùa Nhơn Hòa bên Chí Hòa. Anh sớp-phơ nói anh biết, vì anh có đưa khách qua chùa thường.

Xe phát chạy, thì ông Đốc nói với cô Hưởng : "Qua đó kiếm thế nói mà rước Càn xuống Cần Giuộc cho bà nội với cháu nội gặp nhau. Hễ tôi nói thì xin cô nói tiếp giùm, rồi cô cũng đi luôn cho vui. Tôi rước được hai mẹ con cô về đủ thì bà Xã mừng lắm".

Cô Hưởng chúm chím cười nói: "Em xin rước nó ra nhà em ở gần đây, mà nó còn không chịu ra, thầy rước đi xa em sợ khó nói".

Ông Đốc nói:

- Ấy! mà tôi có thể nói được. Mẹ trẻ tuổi mà lại ở gần, mẹ có nhớ thì qua chùa mà thăm được. Còn bà nội già lại ở xa, bà nội đi thăm sao được. Tôi giao với cô hễ tôi nói Càn chịu đi, thì cô phải đi với con nghe hôn.

- Em thưa thiệt với ông Đốc, em vẫn biết em đi là phải đi một công hai ba chuyện, đi đặng thăm bà Đốc luôn thể. Ngặt vì em ngại quá nên em không muốn đi.

- Tôi biết cô sợ thiên hạ không hiểu bụng cô, họ sắp cô theo hạng với cô Oanh, vì gia tài nên lết tới. Tôi sẽ chứng minh cho cô là người biết trọng tình nghĩa chớ không kể ruộng kể tiền. Mà bà Xã Cầm đưa bạc cho tôi mà cậy đi kiếm đặng rước cô, chớ phải tự nhiên cô đến hay sao mà ngại tiếng thị phi. Huống chi dân Cần Giuộc là dân biết điều, biết phân biệt kẻ phải với người quấy, đến anh đánh xe ngựa ngày trước ảnh cũng dám binh người hiền lành cô thế mà hạng người giàu có hoành hành, việc đó cô mục kích rõ ràng, có lẽ cô còn nhớ chớ.

- Thưa, em làm sao mà quên cho được. Em ngại nhứt là trở về chốn cũ em nhớ người xưa mà người không còn, chỉ thấy cái bàn thờ tiu hiu em đau lòng chịu không nổi.

Cô Hưởng khóc. Ông Đốc nói: "Cả hai người đều mang nặng một khối tình chung mà lại không được sum hiệp! Ông tơ bà nguyệt thiệt là trớ trêu quá!"

Thiệt anh sớp phơ biết chùa Nhơn Hòa, tới chợ Chí Hòa thì anh quanh tay mà chạy luôn vô đậu trước cửa chùa. Ông Đốc mở cửa xe cho cô Hưởng xuống. Cô mở bóp muốn trả tiền xe. Ông Đốc không cho; ông biểu sớp phơ ở chờ để có sẵn xe mà về, không biết chừng về luôn Cần Giuộc. Cô Hưởng cười, cô cười vì thấy ông lãnh cái nhiệm vụ đi tìm dâu tìm cháu nội cho bà Xã Cầm, ông nuôi một đức tin thành công mạnh mẽ quá.

Cô Hưởng biết chỗ ông Yết Ma trụ trì ở rồi, vì cô đã có vô hỏi thăm con hồi trước, bởi vậy cô dắt ông Đốc Thắng đi thẳng vô tịnh trai mà xin phép thăm Càn.

Ông Yết Ma cũng biết cô nên thấy cô bước vô ông hỏi phải cô muốn thăm huynh Huệ Minh hay không. Cô nói vì có người bà con bên nội của Càn muốn biết cháu nên cô xin phép thăm Càn một chút.

Thấy sư Huệ Tiên đi ngang ngoài sân. Ông Yết Ma kêu mà dạy rước khách đưa qua giảng đường rồi vô trong kêu huynh Huệ Minh qua đó đặng mẹ con nói chuyện cho thong thả.

Cô Hưởng với ông Đốc chào ông Yết Ma mà đi theo sư Huệ Tiên qua nhà khách. Sư kéo ghế mời khách ngồi tại bàn giữa, kêu một ni cô biểu chế một bình trà đãi khách, rồi sư trở qua phía sau tịnh trai kêu huynh Huệ Minh đương ngồi chép kinh.

Ông Đốc Thắng ngồi ngó kiểng vật, bàn ghế, khen cách chưng dọn tốt đẹp, lại có thứ tự, ngó mấy bức tranh thập điện treo hai bên tường ông khen vẽ khéo, màu tươi.

Huynh Huệ Minh là Nguyễn Văn Càn, con của cô Hưởng và cậu Đường, ở phía trong đi ra. Ông Đốc ngó trân trân. Càn lại tới, mới xá mẹ và xá ông Đốc, tưởng ông nầy là cha nên đứng ngó.

Cô Hưởng vừa kéo một cái ghế ra vừa nói:

- Con ngồi, ngồi một bên má đây đặng má nói chuyện nhà một chút. Ông đây là ông Đốc học, hồi trước làm hiệu trưởng trường Cần Giuộc bây giờ đã hưu trí rồi. Hôm trước má muốn rước con ra ngoài nhà đặng má bày tỏ nguồn gốc của con cho con biết cha mẹ ông bà là ai ở đâu, tại sao sanh con mà bỏ con xiêu lạc. Con không chịu đi với má. Hôm nay má phải trở vô chùa cho con hay là bà nội con ở dưới Cần Giuộc, vì già cả đi ông được, nên cậy ông Đốc đây lên kiếm má và kiếm con. Bà nội con muốn rước con xuống dưới đặng bà cháu biết nhau rồi bà nói việc nhà cho con hiểu.

Càn châu mày ngồi suy nghĩ.

Ông Đốc ngó cô Hưởng và nói nhỏ nhỏ:

- Giống quá! Thấy thì biết liền.

Càn mới hỏi:

- Còn cha của con là ai ở đâu?

Cô Hưởng nói:

- Cha con chết rồi, chết 4 năm rồi.

Ông Đốc Thắng mới tiếp mà nói:

- Câu chuyện ba với má cháu gặp nhau rồi sanh cháu là một chuyện dài lắm, lại thắc mắc lắm nữa. Ấy là một thiên tình sử éo le, phải nhiều thì giờ mới nói hết được. Cháu phải đi xuống Cần Giuộc cho bà nội cháu với má cháu kể chuyện lại cho cháu hiểu, đưa tờ di chúc của ba cháu với khai sanh của cháu cho cháu coi. Sẵn có xe hơi đậu ngoài trước. Đây xuống đó có vài chục cây số, xe hơi chạy nửa giờ thì tới. Xuống đó cháu ở chơi, chừng nào cháu muốn về thì xe đưa về.

Càn lắc đầu mà nói:

- Cháu không thể đi như vậy được.

- Sao vậy? Tu rồi bỏ hết ông bà cha mẹ hay sao?

- Thưa, không phải vậy. Cháu không thể đi được là gì thuở nay cháu không biết ông bà cha mẹ là ai hết. Bây giờ tình cờ gặp mẹ, gặp bà nội, cháu có biết chuyện chi đâu mà hỏi, bởi vậy gặp không ích gì. Gặp hay là không gặp cũng vậy.

- Cháu nói hơi cháu phiền mẹ với bà nội. Có má cháu ngồi đây, cháu chẳng nên nói như vậy má cháu buồn.

Cô Hưởng tủi phận nên chảy nước mắt.

Ông Đốc nói tiếp:

- Má cháu là một người đàn bà đúng đắn, cao thượng đời nay không dễ kiếm một người như vậy đâu cháu. Ba với má cháu vì hoàn cảnh trắc trở nên phải xa nhau mà cũng không được gần cháu. Chuyện ba với má cháu là một thiên tình sử bi ai, sầu thảm đến nỗi ba cháu chịu khong nổi phải mang bịnh mà chết, còn má cháu phải vùi thân trong cực khổ ở chốn rừng rậm non cao. Cháu biết được thiên tình sử đó rồi thì cháu sẽ kính yêu vong linh của ba cháu và quí trọng đức tính của má cháu.

Bà nội cháu cũng là một bà hiền đức thuở nay đất Cần Giuộc ai cũng biết danh, ai cũng kính phục. Thuở nay bà không dè có cháu, bà mới thấy tờ di chúc của ba cháu bà mới hiểu mà cậy qua đi tìm đây. Vậy cháu phải đi với qua xuống Cần Giuộc cho má cháu với bà nội cháu nói) rõ câu chuyện cho cháu nghe đặng cháu hết phiền cha mẹ ông bà nữa.

- Thưa, cháu đi không được. Từ khi cháu biết đi biết nói thì cháu không thấy cha mẹ chi hết chỉ có một bà nuôi dạy cháu cho đến tám chín tuổi. Bà đó bịnh mới giao cháu cho một cô khác nuôi. Cô nầy coi cháu như một đứa đầy tớ, không có tình chi hết. Chán buồn cháu bỏ cháu đi. Cháu vầy đoàn với đám nhà con hoang. Trót năm năm trường, cháu ăn bên lề đường, cháu ngủ dưới mái chợ, không nhà cửa, không mẹ cha. Sau vô chùa đây, cháu nghe kinh, cháu mộ phật, cháu mới cạo đầu xin ở mà tu. Cháu có lời nguyện hiến thân cho nhà Phật, không biết việc ngoài thế gian nữa. Cháu tu tập trót 4 năm nay cháu hết mê trần tục. Vậy cháu không cần biết nguồn gốc làm chi cho bận lòng. Cháu đã biết có một bà mẹ ở Saigon với một bà nội ở Cần Giuộc, biết bao nhiêu đó cũng đủ, không nên biết thêm nữa. Cháu tu cháu phải để cho trí tịnh tâm an, tiếp tục với thế gian rồi đầu óc lộn xộn tu làm sao cho đắc đạo được.

- Qua tỏ thiệt với cháu, kiếng họ Nguyễn của ba cháu khi ba cháu chết rồi thì tuyệt tộc. Bà nội cháu hay có cháu thì mà mừng lắm. Bà mong cậy cháu nối dòng đặng phụng tự tổ tiên.

- Thầy chùa mà nối dòng gì được.

- Thì cháu về ở trong nhà mà tu đặng cúng quẩy ông bà luôn thể.

- Cháu đã có lời nguyện hiến thân cho cửa Phật. Cháu không được phép bỏ lời nguyện.

- Cháu không chịu về ở nhà rồi gia tài sự sản của bà nội cháu ai ăn? Nhiều lắm cháu à. Có nhà cửa tử tế, có 60 mẫu ruộng thượng hạng, mỗi năm huê lợi không dưới ba ngàn thùng lúa, chớ phải ít sao. Cháu bỏ cho thiên hạ ăn uổng quá.

- Cháu không ăn thì người khác ăn cũng vậy, chớ có bỏ đâu mà uổng, hay là bà nội cháu coi ai thiếu hụt lúa mà nuôi sống, thì kêu họ mà cho. Làm như vậy bà nội cháu sẽ được lành cũng như tu.

Ông Đốc Thắng bí lối hết cãi được nữa.

Cô Hưởng mới tiếp với ômg mà nói:

- Thôi thì con về ở nhà thờ nếu bà nội con có giao gia tài cho con, thì con liệu phải cúng quẩy ông bà mỗi năm tốn hao bao nhiêu con để dành mà cúng; còn dư bao nhiêu con liệu mà phân phát cho nhà nghèo.

- Thưa, không được. Có phải tiền hay lúa của con làm ra đâu mà con được phép sử dụng. Nếu con làm như vậy, té ra con ăn cắp tiền lúa của người mà mua phước riêng cho con hay sao? Đó là cách dùng gian dối cầu phước.

Cô Hưởng bí lối luôn nữa.

Ông Đốc Thắng ngó cô Hưởng và lắc đầu mà nói:

- Thôi, để tôi về tôi nói lại cho chị Xã nghe coi chị liệu lẽ nào rồi tôi sẽ trở lên. Còn cháu Càn, qua khuyên cháu nên suy nghĩ lại cho kỹ. Một bên thì tu niệm đặng cầu phước cho cháu, còn một bên là yêu mến gia đình phụng tự tổ khảo, trọn đạo hiếu nghĩa, nối nghiệp tông môn. Cháu Càn phân coi bên nào nặng bên nào nhẹ. Theo ý qua thì hy sinh hạnh phúc của mình để làm cho tông môn tồn tại, được vậy mới thiệt là cao thượng. Cháu xét cho kỹ cái điểm đó".

Càn nói:

- Ông Đốc về, cháu xin ông tỏ lại với bà nội cháu rằng cháu hay cháu có bà nội thì cháu hoan hỉ lắm. Ngặt cháu đã xuất gia đầu Phật, cháu hết mê trần tục, cháu quyết dứt nợ đời, nên cháu không gần bà nội cháu được. Vậy cháu kính lời cầu nguyện trời Phật ban phước cho bà nội cháu sống dư trăm tuổi.

Ông Đốc với cô Hưởng đứng dậy đi qua tịnh trai cáo từ với ông Yết Ma mà ra. Càn đưa hai người ra tới xe. Ông Đốc nói về vài bữa rồi ông sẽ trở lên. Cô Hưởng từ biệt con và lên xe đi về với ông Đốc.

Xe vừa chạy thì ông Đốc nói:

- Thiệt nó giống cha nó quá. Sanh con mà mình không gần gũi với nó, không ra công nuôi dạy, thì nó lợt lạt như vậy đó. Bây giờ phải làm sao mà đem nó về cho chị Xã được! Tôi muốn cô đi luôn với tôi xuống Cần Giuộc đặng cô thăm chị Xã cho chị vui và đêm nay mình bàn tính với chị coi phải làm sao mà dụ nó trở về với gia đình.

Cô Hưởng nói:

- Em đã tỏ cho ông hết, em gặp bà Xã nhắc lại chuyện cũ như khêu đống tro tàn, em buồn lại chớ không ích gì. Em kính gởi lời cầu chúc cho bà khỏe mạnh, sống lâu, tưởng bấy nhiêu đó cũng đủ. Em với anh Đường cẩn hiệp mà sanh đứa con tội lỗi đó nó có thể đắc dụng cho nhà họ nguyễn thì bà lập thế mà đem nó về với gia đình, chớ phận em đã bỏ rơi nó, em không thể nói cho nó xiêu lòng được.

Xe đưa cô Hưởng về tiệm may. Ông Đốc nói sáng mai ông trở về Cần Giuộc; ông khuyên cô kiếm coi lý nào nói cho Càn bỏ tu mà về với bà nội được thì tính giùm rồi ít bữa ông sẽ trở lên.

Hạnh Phúc Lối Nào

5. TRẺ GIÀ HỘI NGỘ

Buổi sớm mơi, bà Xã Cầm lục đục trong nhà với con Cát, ông Ba Tào đương lau bàn ghế, cô Thậm đi chợ mua thịt mua cá chưa về mà ông Đốc Thắng ở trên Saigon ổng đã về tới, đường xăng xớm đi vô sân. Bà Xã ngó thấy, bà bước ra cửa mà chờ. Chừng ông vô gần tới thềm bà vui vẻ nói:

- Cậu Đốc về sớm dữ! Vậy mà tôi tính cho cậu đi ít nào cũng mươi bữa cậu mới về.

- Kiếm được rồi nên về cho chị hay liền.

- Được rồi? Được hết hai mẹ con hay là được đứa nào?

- Được đủ hai mẹ con. Gặp mẹ nó trước, rồi mẹ nó dắt đi cho gặp nó.

- Ở riêng hay sao?

- Ở riêng. Mẹ con cách biệt nhau từ hồi thằng Càn mới giáp thôi nôi. Mẹ nó gởi nó cho họ nuôi, đi ra ngoài Huế rồi ra xứ mọi mà ở, mới trở về Saigon mấy tháng nay. Người lãnh nuôi thằng Càn chết. Thằng nhỏ mới tám chín tuổi không ai chăm nom, nó đi hoang rồi bặt tin. Mẹ nó đi kiếm dữ quá, mới kiếm được ít bữa, kế tôi lên tôi gặp hôm qua đó, gặp mẹ sớm mơi rồi buổi chiều gặp con.

- May quá, mời cậu vô, vô uống nước rồi thuật chuyện cho tôi nghe coi.

Bà Xã Cầm kêu con Cát chế một bình trà nóng đem ra. Bà mừng nên lăng xăng hỏi ông Đốc lót lòng rồi chưa đặng bà sai bầy trẻ qua chợ mua đồ về dọn cho ông ăn. Ông nói hồi sáng dâu ông có mua đồ cho ông lót lòng rồi ông mới ra xe mà về. Bà thấy cô Thậm đi chợ bưng rổ về, bà kêu và dặn coi con trẻ nấu cơm sớm rồi dọn cho ông Đốc ăn đặng ở bên nầy nói chuyện trưa rồi sẽ về.

Thấy ông Đốc uống nước rồi bà mời kéo ghế ngồi ngay mặt ông mà hỏi:

- Cậu gặp đủ hai mẹ con sao cậu không mướn xe mà rước hết về dưới nầy giùm cho tôi?

- Tôi nói hết sức mà mẹ cũng như con không ai chịu đi hết, tại như vậy nên tôi trở về một mình mà cho chị hay đây chớ.

- Sao mà không chịu đi?

- Cô Hưởng là một người đàn bà cao thượng lắm chị ơi. Thiệt tôi không dè sớm mơi hôm qua tôi gặp, tôi nói chuyện, tôi biết được tâm hồn của cô Hưởng tôi cảm động cực điểm, tôi kính trọng cô hết sức. Người đàn bà như vậy ít có lắm chị ơi.

- Có chồng khác hay không?

- Đâu mà có. Tôi nói cô lánh mặt cậu Đường rồi lên vùng cao Nguyên vùi thân trong rừng núi ở với Mọi từ đó tới giờ. Tôi trách cô sao nỡ dứt tình yêu của cậu Đường mà đi, còn để con ở lại sao không giao cho cậu Đường, cô làm cậu Đường thất tình thất chí phải mang bịnh mà chết. Cô khóc mà cắt nghĩa cho tôi hiểu rằng cô với Đường vì đồng tâm đồng chí mà yêu nhau. Đường có vợ mà mẹ cầm trầu cau mà cưới. Nếu ở đây mà có con thì Đường lân la tới hoài rồi gia đạo của Đường sẽ xào xáo, Đường bỏ vợ thì bất nghĩa, trái ý mẹ thì bất hiếu. Tại vậy nên thà cô đè nén ái tình, hy sinh sung sướng để cho Đường trọn hiếu trọn nghĩa.

- Tội nghiệp quá!

- Còn cô giao con cho Đường không được là vì vợ Đường là một ác phụ, không biết thương chồng thì làm sao mà thương con riêng của chồng cho được. Giao đứa nhỏ cho Đường sợ nó phải chết vì tay cô Oanh. Nghĩ như vậy nên cô mới cậy người khác nuôi giùm, chừng nó khôn lớn rồi, như Đường không có con trai mà muốn có người phụng tự, thì cô sẽ chỉ cho Đường biết, nó đã đủ trí mà giữ mình hết lo ai ám hại được.

- Có nghĩa mà cũng có trí nữa. Cậu Đốc khen phải quá. Tôi cũng khen. Thứ dâu chua lét mà tôi phải khiêng mâm trầu chén rượu đến yêu cầu mà rước; còn dâu ngọt ngào như vầy mà tôi không dè tôi bỏ nó ngoài xó hè, rồi bây giờ tôi cậy Cậu Đốc kiếm mà kêu nó, chắc nó phiền nên nó không chịu đi chớ gì.

- Không phải vậy. Cô có dám phiền chị đâu. Cô ngại là vì Đường chết rồi, mà cô có con trai cô sợ người ta nói cô muốn chia gia tài cho con nên cô lết tới. Mà cô còn viện cái lý nầy càng cảm động hơn nữa, là cô xuống nhà chị thì chị đem chuyện cũ ra mà nói, cô nhớ tới Đường cô thấy bàn thờ của Đường, cô thêm đau lòng xót dạ chớ không ích gì. Vậy cô cậy tôi trao lời cô kính trọng chị và cô cầu chúc chị mạnh giỏi vậy thôi.

- Đáng quá! Tôi ăn năn hối ngộ vô cùng. Tại thằng Đường cứ sợ tôi buồn, nó giấu tôi hết, nên mới ra nông nỗi nầy. Thiệt bậy quá. Tôi rất cám ơn cậu Đốc, rước không được, cậu trở về mà cho tôi hay liền. Cô đó tôi phải bổn thân lên mà mời cô mới đáng. Tôi phải đi. Tôi sắp đặt việc nhà rồi sáng mai cậu Đốc dắt giùm tôi đi. Còn thằng cháu nội tôi nó nói làm sao mà nó không chịu xuống.

- Ô! cậu đó còn trắc trở hơn nữa! Cô Hưởng dắt tôi vô chùa đặng gặp cậu. Tôi tỏ nguồn cội của cậu cho cậu biết rồi tôi xin rước cậu về đây cho bà cháu biết mặt nhìn nhau. Tôi mướn xe hơi đem đậu sẵn trước cửa chùa cho cậu đi. Tôi hứa chừng nào cậu muốn về cũng sẽ có xe hơi đưa cậu về. Cậu lắc đầu mà nói cậu đã xuất gia đầu Phật, cậu không muốn biết chuyện thế gian nữa.

- Trời đất ơi! Nó tu hay sao?

- Chớ sao. Làm thầy chùa, cạo đầu trọc lóc. Mẹ vô thăm mà cậu lơ láo, coi bộ không có tình mẹ con. Nghe nói bà nội, cậu càng lạt lẽo hơn nữa. Tôi khuyên cậu về ở dưới chị đặng phụng sự ông bà. Câụ nói thầy chùa biết tu niệm chớ không kể nối dòng. Tôi nói tới gia tài thì cậu nói hết mê trần tục, cậu đã dứt nợ đời rồi. Cậu khuyên chị nếu không biết để gia tài cho ai ăn, thì phân phát cho kẻ thiếu hụt, chị làm lành chị sẽ được phước báo.

- Rối quá! Tôi phải đi mới được. Sáng mai cậu Đốc đưa giùm tôi đi. Mà cháu nội tôi tu ở trong chùa nào, ở đâu?

- Ở tu tại chùa Nhơn Hòa trên Chí Hòa. Cô Hưởng nói theo lời ông Yết Ma thì cậu Càn tu chính chắn lại thông kinh kệ lắm. Cậu là hy vọng của Phật giới.

- Tôi nhớ hôm trước người ta đồn chùa Nhơn Hòa có một ni cô tu đắt đạo nên thành bồ tát. Phải chùa nầy hay không?

- À! Chị nói tôi mới nhớ tới. Phải rồi! Chắc chùa nầy. Cảnh chùa đẹp lắm mà. Trong ngoài sắp đặt sạch sẽ, đàng hoàng, nguy nga, rực rỡ. Vô đó mắc lo thuyết phục cậu Càn, nên tôi quên. Tôi có kế làm cho cậu phải xiêu lòng bỏ tu để về dưới chị mà phụng tự ông bà rồi. Để mai lên trển rồi tôi sắp đặt với cô Hưởng.

- Cậu Càn bây giờ được bao lớn cậu?

- Mười tám tuổi, mà mạnh mẽ cứng cõi lắm. Tánh ý ôn hòa, mặt mày sáng rở, cha chả giống cậu Đường quá.

- Giống lắm sao?

- Giống lắm. Thấy thì biết con của cậu Đường liền. Để chị lên đó chị coi. Rước Càn không chịu đi, khi ra về tôi có nói cậu đứng trước hai ngả đường; một bên tu niệm để cầu phước cho riêng mình cậu, còn một bên thì phục vụ cho gia đình, phụng tự tổ tiên, duy trì cho cả tông môn. Tôi khuyên cậu hãy suy nghĩ rồi ít bữa tôi trở lên sẽ nói chuyện với nhau lại.

- Thiệt tôi mang ơn cậu Đốc lớn lắm. Cậu ráng giúp tôi đem mẹ con Càn về tôi nuôi được thì ơn cậu đến chết tôi cũng không quên.

Rồi đó bà Xã mới xin ông Đốc thuật tỉ mĩ lại cho bà nghe tại sao ông biết chỗ cô Hưởng ở mà kiếm, trót mười mấy năm cô đi làm việc ở đâu, nói lại cho kỹ một lần nữa, tại sao yêu Đường mà cô có con rồi phải trốn tránh không dám gần người yêu nữa, còn con thì cậy người ta nuôi giùm không dám giao cho Đường, chừng qua chùa gặp Càn thì thái độ Càn thế nào, Càn nói những lời gì thuật y lại cho bà nghe, không xót một mảy.

Cơm chín rồi, cô Thậm dọn một mâm, cậy ông Ba Tào bưng lên cho bà Xã với ông Đốc ăn mà nói tiếp chuyện nữa.

Đến trưa ông Đốc Thắng mới về bên nhà mà nghỉ, hẹn với bà Xã sáng bữa sau ông chờ bà qua rồi hiệp nhau lên xe đò mà đi Saigon.

Bà Xã Cầm nằm nghỉ trưa, bà nhớ những lời của Đường viết để lại mà bày tỏ tâm sự với bà, rồi nhớ tới câu chuyện của cô Hưởng mà ông Đốc Thắng mới thuật lại cho bà nghe hồi nãy thì bà xúc động vô cùng. Chưa thấy mặt cô Hưởng mà bà đã đem lòng thương yêu cô rồi, thương người mang nặng tình yêu mà không quên hiếu nghĩa, thương dám hy sinh các vui sướng của mình đặng để cho người yêu được êm ấm gia đình, được tròn hiếu đạo với mẹ, mà còn thương biết lo xa cho người yêu, quyết đem tình yêu vùi lắp trong chốn núi rừng, không thể bồng con nhỏ theo được, mà biết dấu con để giành, phòng khi cha nó không có con trai khác thì chỉ cho cha nó biết mà đem về cho khỏi tuyệt tộc. Nhớ đức hy sinh, nhớ lòng hiếu nghĩa, nhớ trí minh mẫn của cô Hưởng mà cái họa của nhà bà được chuyển thành cái phước, bà mất đứa con trai mà còn đứa cháu nội để nối dòng, bà mất đứa con dâu thất giáo, thì được đứa con dâu đầy đủ hiếu nghĩa tiết trinh.

Bà suy tới nghĩ lui, bà cảm, bà mừng rồi bà chẳng khỏi hối hận. Bà ăn năn về cách bà dạy con lỗi thời. Bà ung đúc cho con cái tâm hồn hiếu kính mà nhu nhược, dư thảo thuận ở trên mà thiếu cương quyết ở dưới, bởi vậy con bà đến chết mà chưa tìm ra lối hạnh phúc gia đình. Con bà nó tỏ lòng uất ức rồi nó chết là phải lắm. Nó nhắm mắt theo ông theo bà, mà nó phải mang túi uất ức theo xuống Cửu Tuyền là tại nó thiếu cương quyết, tại nó bị đạo thảo thuận mù quáng ngăn trở không cho nó cởi cái áo chật hẹp của mẹ nó sắm mà quăng đi, rồi nó may cái áo khác mà bận cho vừa, nên đời nó mới hư hỏng. Mà vì mang nặng chữ hiếu nó không dám trách mẹ, chớ kỳ thiệt tội lỗi đều tại bà gây ra, tại bà dùng cách giáo dục mù quáng cũ kỹ mà ung đúc tâm hồn cho con mới ra cớ sự như vậy.

Bà Xã hối ngộ, rồi bà ngó cái bàn bà dọn bên chái nhà để tưởng niệm vong linh của cậu Đường. Bà bước lại đó lấy tấm hình chụp chơn dung của con, chụp hồi 17 tuổi còn học trên Saigon, bà cầm lại ván ngồi mà nhìn, bà thương nhớ con nên rơi nước mắt. Bà tính phải đem tấm hình theo đặng lên Saigon bà nhìn coi Càn giống hay không. Bà mở cái khuông lấy tấm hình ra, rồi mở tủ để hình chung với giấy tờ của cậu Đường để lại đặng đem hết đi.

Bà kêu cô Thậm biểu lấy cho bà một cái giỏ mây nhỏ. Bà đem ra một bộ đồ mát để mặc ban đêm mà ngủ, với một cái áo dài cẩm nhung đen và một quần lãnh mới đặng đem hờ theo cho có sẵn mà thay đổi. Bà biểu cô Thậm xếp hết áo quần đó, rồi lấy giấy gói chung lại mà để vô giỏ cho bà.

Bà được may mắn bà vui lòng, bà muốn trong nhà ai cũng chung vui với bà, nên nhơn dịp mẹ con cô Thậm xẩn bẩn một bên bà, lo sửa soạn hành lý cho bà đi, bà mới nói cho cô Thậm hay ngày trước Đường tư tình với một cô giáo có sanh một đứa con trai. Thuở nay bà không hay. Bà mới nghe nói đây nên bà cậy Cậu Đốc Thắng đi kiếm. Ông gặp được rồi. Mẹ con cô giáo đó đều ở trên Saigon. Vậy bà phải lên nói mà đem về, đặng cháu nội trai, năm nay đã 17 tuổi rồi, nó tập cho biết công việc ruộng vườn, sau đó nó nối nghiệp mà phụng tự ông bà cha mẹ. Bà phú các việc trong nhà cho mẹ con con Thậm coi, dặn đừng có đi đâu xa và giao một trăm đồng bạc để ở nhà sai người nhà đi chợ mua cá thịt mà ăn. Bà nói bà đi ít bữa, hễ tính xong công việc thì bà về liền, chớ không biết đi mấy bữa mà nói trước được.

Thuở nay bà Xã Cầm chưa có khi nào bỏ nhà đi đâu đến đôi ba ngày, dầu hồi còn con dâu cũng vậy, bởi vậy hôm nay sửa soạn đi Saigon ít bữa mà rước cháu nội, phần thì mừng phần thi lo, bà rộn trí nên tối lại tính ngủ sớm mà bà ngủ không được. Bà lục đục đốt nhang cắm trên ba bàn thờ vái ông bà vái chồng giúp bà nói cho cháu nội chịu về ở với bà đặng có người phụng tự tổ tiên, rồi bà đi lại đằng chái nhà quét dọn bàn thờ của Đường sạch sẽ và cũng đốt nhang vái vong hồn của Đường có thương mẹ thì xuôi khiến vợ con thuận tùng về ở với mẹ, đặng gia đình sum hiệp, trên dưới thuận hòa, vui vẻ một nhà lửa hương ấm áp.

Đến khuya cô Thậm kêu chị bếp dậy sớm nhúm lửa nấu cơm, còn cô nấu nước, sửa soạn cho bà Xã ăn uống rồi bà đi Saigon.

Bà Xã cũng thức dậy gỡ đầu, rửa mặt, thay mà bận áo quần mới rồi mở tủ sắt lấy một ngàn đồng bạc bỏ túi đem theo và lấy trọn cái bao thơ của Đường để lại đó mà đem theo nữa. Bà khóa tủ kỹ lưỡng, để chìa khóa vào túi rồi cầm cái bao thơ ra ván ngồi dựa bên đèn mà soạn lại. Thấy còn đủ xấp giấy di ngôn của Đường viết với tờ khai sanh của Càn, và bổn sao án Tòa lại cũng có tấm hình chụp của Đường bà mới để vô đó hôm qua nữa. Bà mới lấy một cái khăn mà gói lại rồi để vô giỏ dựa bên gói áo quần.

Bà uống nửa tách nước trà nóng cho ấm bụng. Chừng trời rạng đông, con Cát bưng mâm cơm lên, bà mới lại ăn một chén đặng đi xa cho khỏi đói.

Ăn uống xong rồi thì trời đã sáng. Bà dặn dò cô Thậm một lần nữa rồi biểu con Cát xách giỏ đưa bà qua chợ, bà hiệp với ông Đốc Thắng lại bến xe đò mà đi.

Xe lên tới Sai gòn đã quá 8 giờ. Ông Đốc kêu hai chiếc xích lô đặng lên Đất Hộ. Ông biết giờ nầy con trai con gái với rể ông đều mắc đi dạy học hết, không có ai ở nhà, duy có con dâu của ông là vợ thầy giáo Khoa, rảnh rang mà thôi, ông mới đem bà Xã lại đó cho bà nghỉ một lát rồi sẽ đi thăm cô Hưởng.

Vợ thầy Khoa mừng cha chồng mừng bà Xã lăng xăng lo nấu nước, chế trà, sai chị bếp đi chợ mua đồ ăn thêm đặng trưa đãi khách. Uống một chén nước trà rồi bà Xã có ý muốn giáp mặt với cô Hưởng liền. Ông Đốc kêu hai chiếc xích lô. Bà Xã mở cái giỏ lấy cái gói giấy tờ của Đường đem theo cho Hưởng xem. Vợ thầy Khoa nói đi chơi rồi trưa trở về ăn cơm với vợ chồng cô. Ông Đốc ừ rồi lên xe đi với bà Xã.

Cô Thinh là chủ tiệm may, đã biết ông Đốc Thắng rồi, nên thấy ông vô tiệm thì chắc ông đến thăm cô Hưởng. Cô liền nói có cô Hưởng ở nhà nên mời khách đi thẳng lên lầu.

Hồi trước cô Hưởng xuống Cần Giuộc dạy học gần hai năm, tuy cô không có dịp gặp và nói chuyện với bà Xã, song chừng kết tình với Đường rồi thì khi nào bà Xã Cầm có qua chợ thì vợ thầy Hiển chỉ nên cô biết mặt bà. Bởi vậy sớm mơi đó cô đương ngồi đọc báo, tình cờ thấy ông Đốc lên thang lầu, lại có bà Xã theo sau thì cô lật đật buông tờ báo đứng dậy mà chào khách.

Ông Đốc chỉ bà Xã mà nói với cô Hưởng :

- Bà đây là thân mẫu của cậu Đường.

Cô Hưởng liền chấp tay cúi đầu xá bà Xã. Bà xúc động nên bước tới nắm cánh tay cô vừa khóc vừa nói:

- Tội nghiệp quá! Con hết lòng thương yêu thằng Đường mà con lại biết quí trọng gia đình của nó nữa. Bây giờ má mới biết được con đây. Mà thằng Đường có còn đâu, đặng vợ chồng sum hiệp!

Cô Hưởng cũng xúc động quá nên cô đứng trơ trơ, tuôn nước mắt dầm dề chớ không nói được một tiếng.

Ông Đốc lấy tờ nhựt báo cầm trong tay và nói:

- Tôi mời cô xuống thăm bà Xã, cô không chịu đi nên tôi phải dắt bà lên thăm cô đó.

Cô Hưởng nghe mấy lời ấy cô sợ bà Xã tưởng cô tự cao tự trọng, bởi vậy cô chữa lỗi:

- Thưa bà, ông Đốc biểu con đi với ông xuống đặng gặp mặt bà mà tỏ hết tâm sự hồi trước cho bà nghe. Con không đi là vì Cần Giuộc là chỗ con bị một vết thương tâm đau đớn hết sức. Xuống đó rồi nhắc chuyện cũ lại và thấy bàn thờ anh Đường con càng thêm đau đớn nhiều hơn nữa. Con xin bà hiểu giùm tánh ý của con, chớ không phải con tự cao để cho bà phải lụm cụm lên đây.

Bà Xã nói:

- Ông Đốc nói chơi. Má hiểu hết. Ông Đốc về hôm qua, ông có thuật đủ mọi việc cho má nghe rồi. Con với thằng Đường thành thiệt yêu nhau mà phải chịu đau khổ, phải rời rả thảm thiết đó là lỗi tại nơi má. Má ăn năn hối ngộ lung lắm. Con ngồi đặng má nói chuyện cho con nghe.

Ông Đốc nhắc một cái ghế để gần cửa sổ ngồi đọc nhựt báo, có ý làm lơ cho mẹ chồng và nàng dâu thong thả mà phân trần tâm sự với nhau.

Cô Hưởng thấy bà Xã không đợi mời thỉnh, bà ngồi dựa cái bàn đương mở cái khăn gói bà ôm theo đó ra, thì cô đi vô phía trong tính lấy tách với bình trà đem ra. Bà liền kêu mà nói:

- Lại đây con, lại ngồi một bên má đây, đặng má cho con coi cái nầy.

Cô Hưởng nói:

- Để con bưng trà cho bà uống.

Bà Xã nói lớn:

- Thôi, thôi má mới uống nước đằng nhà thầy giáo. Má với ông Đốc không khát đâu mà lo. Lại ngồi đây mà.

Bà lại nắm tay kéo cô trở lại cái bàn vừa đi vừa nói:

- Con đừng có kêu má bằng bà nữa chớ. Đã hiểu biết nhau rồi thì là mẹ con. Con cứ kêu bằng má cho má vui một chút con. Mấy năm nay, Đường chết rồi, thì má sống như một cây khô héo đứng trơ trọi giữa trời nắng. May nhờ rể châm sâu xuống đất mát nên chưa chết. Con làm ơn tưới nước giùm, con sẽ được phước nhiều.

Bà ép cô ngồi cái ghế một bên bà. Bà vừa mở cái gói vừa nói:

- Để má cho con xem cái nầy. Con có làm cô giáo con biết đọc chữ, chớ má không biết. Bữa hổm ông Đốc có qua có đọc cho má nghe rồi. Nhưng má muốn con đọc cho má nghe một lần nữa. Đây là đồ của Đường để lại, má mới gặp được mấy bữa rày đây. Con lấy mấy tờ nó viết ra mà đọc lớn cho má nghe với.

Bà đưa hết cái bao thơ cho cô Hưởng.

Cô mở ra, cô run tay, tái mặt, song gượng gạo lựa để qua một bên tấm hình của Đường, khai sanh của Càn và bổn sao án Tòa. Cô lấy xấp giấy của Đường viết mà đọc. Bà Xã lặng thinh chăm chú nghe. Ông Đốc cũng lóng tai nghe, không đọc báo nữa.

Cô Hưởng đọc tới cái đoạn Đường kể chuyện chàng kết tình với cô, thì cô tức tưởi ngập ngừng hoài, đến hồi cô có thai, bị vợ Đường sỉ nhục, thì cô khóc, cô phải ngừng mấy lần mà lau nước mắt. Đọc đến đoạn chót, là đoạn Đường hối hận về tánh nhu nhược nên lỗi thời, chàng tức giận mù quáng nên đi lạc đường, say mê tiểu tiết nên hư hỏng đại sự, thiệt thòi không biết tự cường nên bỏ vuột hạnh phúc mà mang lấy tai họa, thì cô tội nghiệp cho chàng hết sức. Cô lại càng thấy rõ tâm hồn của chàng là tâm hồn chí hiếu, cứ trách mình chớ không dám phiền mẹ, mà cũng không giận vợ nhà, vì xem vợ như cái áo may không vừa mà luân lý buộc phải ráng mà bận chớ không được bỏ, xem vợ như cái cối xay, ngặt nó không xay ra gạo, lại xay ra tai hại. Còn về hai đứa con chàng gọi là máu thịt của chàng bỏ rơi, chàng chỉ cho mẹ biết vậy thôi, chớ không dám ép mẹ phải nhìn, cứ để cho mẹ thong thả mà liệu định, cái đó làm cho cô không vừa lòng. Bởi vậy đọc dứt rồi cô mới nói:

- Anh Đường phải chịu đau khổ mười mấy năm rồi ảnh mới thấy ảnh sái đường. Con cũng vậy, trong lúc ấy con cắn răng mà chịu đau khổ như ảnh. Gần chết, ảnh mới nhìn nhận ảnh cư xử lỗi thời, nên ảnh không trọn thảo với mẹ và bỏ mất đứa con. Ảnh trách ảnh nhu nhược, ảnh làm cho con nghĩ lại con thấy hồi đó con dại quá, con nhu nhược hơn ảnh nữa. Nếu con sáng suốt, biết tự cường, quyết chiến đấu mà tranh hạnh phúc chung, con yêu ảnh thì con phải hủy phá cái xấu mà xây dựng cái tốt cho ảnh, con biết làm như vậy thì thân con đâu có phiêu lưu cực khổ, đứa con của ảnh đâu có lạc loài, ảnh đâu có đau khổ đến tuyệt mạng. Con nghĩ lại tại con nhu nhược quá nên mới gây ra tai họa như vầy chớ không phải tại ảnh.

Bà Xã nói:

- Đường nói lỗi tại nó. Bây giờ con giành lỗi về con nữa. Không, không, con với Đường không có lỗi gì hết. Lỗi tại má đây mà thôi. Má mù quáng không biết kén chọn dâu hiền, má nuôi dâu dữ trong nhà mà không biết trừng trị; tại má dạy dỗ con má cứ ung đúc óc nó thảo thuận với mẹ mà không rèn tập cho nó có tánh tự cường để đối phó với thiên hạ. Tại như vậy nên mới sanh tai họa. Hối ngộ thì đã trễ rồi. Thôi, tạm dẹp chuyện đã qua một bên đi, đặng lo việc sắp tới. Về dưới nhà rồi má sẽ nói chuyện cũ cho con nghe. Bây giờ tính làm sao đặng mà rước cho được cháu nội của má về để sau nó tiếp má phụng tự ông bà. Ông Đốc nói nó tu nên nó không chịu về. Con là mẹ nó, con ráng nói giùm cho nó nghĩ tới cha, biết thương bà nội, đặng sum hiệp một nhà cho má vui ít năm rồi chừng má nhắm mắt theo ông theo bà má khỏi ân hận.

Cô Hưởng nói:

- Thưa má, vì con có công sanh mà không có công dưỡng, bởi vậy nó không có tình nghĩa gì với con hết. Hôm trước con tìm gặp nó con mừng mà nó lơ lãng quá. Hôm kia con đưa ông Đốc vô chùa đặng gặp nó, thì đối với con nó cũng còn lơ là, có ông Đốc ngó thấy. Nó mê tu niệm quá nên không biết chuyện thế gian nữa, bởi vậy con xin phép rước nó về nhà đặng con nói nguồn gốc của nó cho nó biết, nó không chịu đi. Mà hôm kia ông Đốc với con mướn xe vô đậu hẵn tại chùa đặng rước nó xuống cho má biết cháu thì nó cũng từ chối nữa. Nó say đạo, không kể đời, nên khó nói quá.

Bà Xã nói:

- Không sao. Con dắt má vô chùa đặng má nói với nó. Má đưa đồ của cha nó để lại đó cho nó coi, chắc nó động lòng rồi thối lui trở về với gia đình.

Cô Hưởng nói:

- Để má nói thử coi như không được thì con cậy thế khác. Hôm qua cô Thịnh, chủ tiệm đây, nhắc con mới nhớ trong chùa Nhơn Hòa chỗ Càn tu có một ni cô tên Nga tu đắt đạo mới được thành Phật nên tín đồ đến chiêm bái nườm nượp. Vậy con tính mình nói mà Càn không chịu về thì xin phép ông Yết Ma cho con với má bái vị Bồ tát mới thành Phật đó mà yêu cầu can thiệp giùm. Phật độ chúng sanh có lẽ nào không độ má.

Ông Đốc Thắng nghe nói tới chỗ đó ông bước lại gần mà nói, hôm qua về dưới bà Xã cũng nhắc chuyện ni cô đắc đạo đó ông mới nhớ. Vậy ông hiệp ý mà làm theo lời cô Hưởng nói đó. Ông Đốc hỏi tính chừng nào đi vô chùa.

Bà Xã nóng gặp cháu nội, nên bà muốn đi liền. Ông Đốc nói đã quá 11 giờ rồi, phải lo cơm nước đợi xế hả đi. Cô Hưởng mời ông Đốc và bà Xã ở đây ăn cơm với cô, có nhà hàng ở gần, để mượn người nhà đi mua về dọn ăn.

Ông Đốc từ chối, ông nói với bà Xã đã có hứa lỡ với dâu ông trưa về ăn cơm, nên không ở lại được. Cô Hưởng liền mời buổi chiều vô chùa rồi về ghé nhà hàng ăn cơm. Ông Đốc với bà Xã nhận lời. Cô Hưởng tỏ ý muốn mời luôn vợ chồng cô giáo Đào với vợ chồng thầy giáo Khoa, thì ông Đốc không cho, ông nói để ba bà con ăn đặng bàn tính mà sắp đặt việc nhà giùm cho bà Xã, không nên mời sắp con của ông đông quá nói chuyện không được.

Cô Hưởng mới mời bà Xã tối ở nhà cô mà nghỉ, chỗ rộng, vì cô ở một mình trên lầu, có một cái giường với một bộ ván nhỏ. Cô sẽ nhường cái giường cho bà Xã nghỉ cô sẽ giăng mùng bên ngoài ván mà ngủ được. Bà Xã muốn ở đặng nói chuyện với cô nên bà chịu. Ông Đốc cũng muốn mẹ chồng với nàng dâu gần nhau cho quen nên ông xuôi thuận luôn.

Ông Đốc mời bà Xã về đặng ăn cơm kẻo dâu con ông trông.

Cô Hưởng xin bà Xã để hết giấy tờ của Đường cho cô mượn đặng cô đọc lại nữa.

Bà Xã nói:

- Ừ, con giữ giùm, rồi xế đem vô chùa cho Càn coi.

Cô Hưởng đưa khách xuống lầu, kêu xe cho khách đi rồi cô mới trở vô.

Hạnh Phúc Lối Nào

6. BÊN ĐẠO BÊN ĐỜI

Ông Đốc Thắng với bà Xã Cầm trở về nhà thầy giáo Khoa thì thầy đi dạy học đã về rồi, mà cô giáo Đào hay có cha lên với bà Xã cô cũng lại đó chờ mà mừng cha và thăm bà Xã.

Cô Đào hỏi bà Xã phải lên đặng rước cháu nội hay không. Bà Xã đương mừng gặp được con dâu thảo thuận nên bà vui vẻ đáp:

- Phải tôi nhờ cậu Đốc tìm được giùm cả hai mẹ con nó nên tôi lên đem con nó về mà giao gia tài sự nghiệp cho mẹ con nó cai quản mà phụng tự ông bà thế cho tôi nghỉ. Già rồi tôi cần phải dưỡng nhàn ít năm chớ lo hoài hay sao. Mẹ nó coi thế xuôi thuận rồi. Còn thằng cháu nó mê tu niệm nên giục giặc để xế cậu Đốc đưa tôi với mẹ nó vô chùa đặng tôi năn nỉ nó về. Nó có lòng mộ đạo thì ở nhà tu cũng được, cần gì phải ở trong chùa.

Cô Đào mừng cho bà đã tìm được cháu nội rồi cô từ mà về, để cha với bà Xã ăn cơm.

Cũng như bữa hổm, gần hai giờ con trai ông đi dạy học rồi ông Đốc Thắng rửa mặt thay đồ. Ông kêu dâu mà nói cô Hưởng mời ông với bà Xã chiều nay ăn cơm với cô, nên ở nhà đừng chờ cơm. Ông dặn rồi ông biểu bà Xã ở nhà chờ ông đi kêu xe lô về rước bà đi.

Đằng tiệm may buổi trưa nay cô Hưởng cũng không nghỉ ngơi, cô nằm đọc đi đọc lại mấy trương di ngôn của Đường, cầm tấm hình chụp của Đường mà nhìn, lấy tờ khai sanh của Càn nhìn, càng đọc cô càng yêu Đường vì chữ thảo thuận nên hư hỏng cảnh đời có thể vui sướng tốt tươi, rồi cô càng giận cô dại dột nên xui xị chịu thua hạnh phúc mới sụp đổ. Nếu cô quyết chí tấn thúc, cô tranh đấu mà xây dựng hạnh phúc giùm cho Đường thì Đường khỏi chết, bà Xã khỏi buồn, cô khỏi cực khổ mà con của cô cũng khỏi thất giáo thất dưỡng.

Cô Hưởng buồn tủi hối hận đến hai giờ cô mới ngồi dậy để hết giấy tờ với tấm hình vô bao thơ, lấy cái khăn gói lại như bà Xã gói hồi sớm mơi, rồi đi rửa mặt thay đồ sửa soạn đặng đi qua chùa Nhơn Hòa. Gần ba giờ cô mới lấy cái gói đi xuống từng dưới ngồi chơi mà chờ. Vừa thấy xe ngừng thì cô lật đật ôm gói bước ra đặng lên xe đi liền với bà Xã và ông Đốc.

Xe qua tới chùa, ông Đốc cũng biểu sớp phơ ở chờ rồi ông dắt hết vô tịnh trai mà chào ông Yết Ma. Ông nói bữa hôm kia ông với thân mẫu của Càn vô thăm Càn, năn nĩ xin Càn về ở nhà với bà nội mà tu đặng phụng tự ông bà luôn thể. Càn cứ nói đã xuất gia đầu Phật, không muốn biết tới việc đời nữa, nên không chịu về. Bữa nay bà nội của Càn phải lên đây cho giáp mặt mà yêu cầu Càn về, nên xin phép ông cho gặp Càn đặng bà nói chuyện nhà cho cháu nghe.

Ông Yết Ma Tưởng nói:

- Được, được.

Ông đi lại mở cửa phía sau kêu huynh Huệ Minh mà nói có bà nội vô kiếm thăm, vậy hãy ra tiếp mừng bà nội.

Bà Xã Cầm đứng ngó mắt chừng chỗ cửa đó. Một chú đạo trai trẻ mạnh dạng, bước vô cửa. Ông Đốc Thắng liền hỏi:

- Chị Xã coi có giống cậu Đường hồi tuổi đó hay không?.

Bà Xã a lại đưa hai tay nắm chặt lấy huynh Huệ Minh, bệu bạo nói một dây:

- Thiệt giống hệch cha nó! Bà nội đây con! Con giống cha con quá, nhưng cha con hồi nhỏ hay bịnh nên ốm hơn con.

Bà day lại nói với cô Hưởng :

- Con mở gói lấy hình của cha nó đưa cho nó coi một chút con.

Bà nói tiếp với Càn:

- Cha con sanh con, mà nó dại quá, nó giấu, nó không cho nội hay. Tại vậy nên thuở nay nội không hay gì hết. Cha con chết rồi à, chết đã 4 năm rồi, nó có khai sanh cho con rành rẽ. Trước khi chết nó có viết thơ trối với nội có ghim giấy tờ theo đủ hết. Vì nội biết chữ nho chớ không biết chữ Việt, lại cha con gói thơ theo đống bằng khoán đất, nên nội không dè, nội cứ cất trong tủ sắt mấy năm nay. May có cậu Đốc đây qua chơi, cậu nói chuyện, nội nhờ cậu đọc, nội mới hay có con nên nội mượn đi kiếm giùm con cho nội. Vậy về con, về ở dưới nội và má con đặng phụng tự ông bà. Cha con chết rồi, bây giờ kiếng họ Nguyễn không còn ai hết. Con phải về ở với nội đặng phụng tự ông bà, quản suất sự nghiệp mà cúng quảy tổ tiên chớ. Con mộ đạo phật thì về dưới nhà nội đặt bàn thờ phật cho con tụng niệm, con muốn dọn thờ phật chỗ nào cũng được hết. Nhà mình ba căn hai chái, rộng minh mông, thiếu gì chỗ mà lo. Sau con muốn cất chùa nội cũng cất cho. Đất mình tới sáu bảy chục mẫu, con muốn cất chùa chỗ nào cũng được hết. Thuở nay nội theo đạo nho, nội không hiểu đạo Phật. Nay nội tìm được con trong chùa, chắc Phật thấy nội ăn ở nhơn nghĩa hiền lành, Phật thương nên Phật xuôi khiến nội gặp con đây. Về nhà rồi con muốn nội ăn chay niệm Phật với con, nội cũng chịu nữa. Con muốn thế nào nội cũng làm cho con vui lòng. Nội hứa chắc với con như vậy.

Ông Yết Ma đứng nghe bà Xã tha thiết yêu cầu cháu nội về tu tại gia đặng phụng tự ông bà, nối nghiệp tông môn thì ông động lòng.

Cô Hưởng bước tới đưa tấm hình của Đường cho bà. Bà chụp lấy trao cho Càn mà nói:

- Hình của cha con chụp hồi 17 tuổi đây. Con coi phải giống con hay không hử? Còn giấy tờ kia nữa, khai sanh, tờ di ngôn, có đủ hết để rồi con coi.

Ông Yết Ma bèn kêu mà nói với :

- Huynh Huệ Minh, huynh mời bà cụ với ông bà đây qua nhà khách đặng uống nước và ngồi nói chuyện cho thong thả. Bà cụ lớn tuổi không nên để đứng lâu, qua biểu chế trà mà đãi khách giải khát. Mời bà cụ theo huynh Huệ Minh qua nhà khách ngồi nói chuyện tiện hơn.

Mấy người đều chào ông Yết Ma rồi đi theo Càn. Ông Yết Ma đưa khách ra cửa, vừa đi vừa nói:

- Tội nghiệp già cả rồi mà không có con cháu. Bà cụ tìm được cháu nội bà huýnh lên.

Qua tới nhà khách, huynh Huệ Minh mời bà nội, mẹ ngồi một bên tại bàn giữa và mời ông Đốc ngồi một bên. Huynh vô trong xin cho một bình trà đặng đãi khách. Bà Xã cản mà nói:

- Không cần trà nước gì hết. Con lại đây, lại ngồi một bên nội đặng nội nói cho con nghe.

Bà níu tay Càn ép ngồi kế bên bà, đặng bà ngồi giữa dâu và cháu nội. Bà hớn hở vui cười và cười nói không ngớt.

Ông Đốc Thắng nói :

- Cháu thấy bà nội mừng cháu hay không? Hồi nãy bà làm ông Yết Ma cũng cảm động. Vậy cháu phải về ở dưới bà nội mà tu. Cháu muốn sắp đặt nhà cửa cách nào bà nội cũng chịu hết.

Cô Hưởng nói :

- Cha mẹ con yêu nhau, nhưng vì tình nghĩa, vì hiếu đạo, vì danh dự, vì hoàn cảnh mà phải xa nhau, rồi má cũng vùi thân trong chốn rừng núi, sống cực khổ với Mọi trót 17 năm trường, còn cha con cũng phải chịu đau lòng đến mang bịnh mà chết. Vì thương con, lo tương lai cho con nên má phải giấu con mà đi. Cha con cũng vì thương con nên tìm kiếm con hết sức mà không ra. Còn bà nội con không hay gì hết. Tại như vậy nên thuở nay con không biết mẹ cha với bà nội, chớ có phải cha mẹ ghét mà bỏ con hay sao mà con phiền. Con về rồi con đọc mấy trương di chúc của cha con để lại đây và má sẽ thuật lại việc riêng của má nữa cho con nghe, con mới biết thương cha mẹ và bà nội. Hôm má mới gặp con, má muốn rước con ra ngoài để má kể rõ nguồn gốc của con cho con hiểu con không chịu. Bữa nay có bà nội con đó, con chẳng nên giục giặc nữa.

Bà Xã tiếp nói:

- Ừ, con về nhà con đọc hết lời trối của cha con, rồi con mới hiểu mà thương cha mẹ ông bà.

Càn bình tĩnh nói:

- Con đã qui y thọ phái mà tu lỡ rồi. Con đã có lời nguyện hiến thân cho phật, con về nhà làm sao được. Con biết con có mẹ, có bà nội, biết như vậy thì thôi, chớ về nhà làm chi?

Bà Xã liền cãi:

- Sao con hỏi kỳ vậy? Về đặng phụng tự ông bà, về đặng gia đình sum hiệp; về đặng vui với má và nội con. Nội già rồi không còn sống mấy năm nữa, con à. Con phải giúp cho nội vui ít năm rồi nội chết chớ.

- Con chỉ biết tu niệm chớ có biết việc thế gian gì nữa đâu mà giúp vui.

- Con muốn tu niệm thì về nhà tu niệm cũng được cần gì phải ở trong chùa. Phật linh nghiệm thì ở đâu cũng có Phật hết, chớ nào phải Phật nội ở trong chùa đâu con, Phật ở tại tâm mình đây. Hễ mình thành tâm tưởng niệm thì Phật tế độ, con không nghe người ta thường hát câu nầy hay sao? "Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ hơn là đi tu". Nếu con bỏ ông bà cha mẹ, con không thèm kể, thì con tu làm sao cho đắc đạo được. Con về nhà nội sẽ dọn chỗ sạch sẽ cho con tu và thờ Phật. Nếu con muốn thì nội cũng tu với con. Nếu trong vùng Cần Giuộc mà có nhiều người mộ đạo như con thì nội sẽ cất chùa cho con đứng làm chủ chùa, con rước ít ông đạo về ở chùa, con qui tụ tín đồ, con làm cái đó con mới có công với phật nhiều hơn nữa. Con vừa tu mà cầu phước báo vừa giữ trọn thảo với cha mẹ ông bà, con làm như vậy thì một bên là đời một bên là đạo, con khỏi lỗi với bên nào hết.

Càn ngồi suy nghĩ một chút rồi ngồi nói:

- Bà nội nói như vậy thôi để cho con suy nghĩ lại rồi con sẽ trả lời.

Bà Xã thấy Càn muốn xiêu lòng rồi bà mừng và nói:

- Được, con suy nghĩ đi. Chờ mấy bữa nội cũng chờ mà rước con. Mai mốt nội vô đây nữa.

Bà hỏi Càn biết đọc chữ viết hay không. Càn nói biết. Bà mới lấy gói giấy tờ của Đường để lại với tấm hình của Đường mà giao hết cho Càn. Bà biểu đọc cho kỹ xấp di ngôn của Đường thì hiểu rõ mọi việc. Bà dặn phải giữ cho kỹ chẳng nên bỏ lạc mất.

Cô Hưởng hỏi Càn vậy chớ người ta nói trong chùa có ni cô tu đắt đạo nên thành Bồ tát, mà vị phật sống đó ở đâu, sao cô không thấy. Càn nói cô Diệu Nga ở am riêng cất phía trong. Càn ôm gói giấy tờ mời hết ba người bước ra ngoài rồi chỉ dãy am ở phía trong mà nói cô Diệu Nga ở trong đó mà tu niệm, có hai tiểu ni cô phục sự. Ban đêm đàn bà ở tu hoặc ở làm công quả đều vô đó mà ngủ. Cô Hưởng hỏi mình vô xin phép mà nói chuyện được hôn. Càn nói mỗi ngày cô Diệu Nga có định giờ tiếp khách, sớm mơi một giờ, buổi chiều một giờ. Ngoài mấy giờ đó cô mắc tu niệm. Như bây giờ đã quá giờ cô tiếp khách rồi, cô đương nhập định nên vô không được.

Bà Xã đứng ngó hai hàng cây trồng hai bên đường từ ngoài cửa ngõ chạy vô tới trong am, rồi bà nhìn sở rẩy nằm dài hai bên con đường ấy, chỗ nào cũng tươi cười, xinh đẹp, thì bà khen hết sức.

Ông Đốc biểu Càn dắt bà nội đi xem chùa cho bà biết. Càn mới mời khách vào chánh điện xem cách sắp đặt thờ phượng trang nghiêm, dắt qua phòng hồi trước cho trẻ mồ côi ngủ, bây giờ để cho mấy đạo hữu ở mà học kinh, đưa trở lại nhà khách xem mấy bức tranh Thập Điện.

Thấy mặt trời chiều đã gần lặn, mấy bà làm công quả trong chùa đương dọn cơm, ông Đốc Thắng mới khuyên bà Xã với cô Hưởng qua từ tạ ông Yết Ma mà về rồi mai mốt sẽ qua nữa.

Càn đưa ba người ba tịnh trai, Càn đứng ngoài cửa để cho khách vô từ giã ông Yết Ma. Ông Yết Ma hỏi bà Xã vậy chớ huynh Huệ Minh chịu về ở dưới bà hay không. Bà nói Càn còn du dự, xin để suy nghĩ một hai bữa rồi sẽ trả lời.

Cô Hưởng cậy ông Yết Ma nói giùm cho Càn về ở với Bà nội mà tu niệm đặng phụng tự ông bà luôn thể cho bà nội yên lòng.

Ông Yết Ma cười mà nói:

- Tôi là người tu, là con của nhà Phật. Tôi trụ trì trong chùa, nếu tôi cản người đến để xin tu hay là tôi xúi người đương tu bỏ chùa mà ra, thì tôi có tội với Phật. Còn nếu người ta muốn về nhà mà tôi không cho, tôi ép buộc phải ở lại trong chùa của tôi hoài, thì tôi phạm tội với pháp luật, tội làm mất tự do của con người. Vậy huynh Huệ Minh muốn ở tu luôn không cần biết tới gia đình, hay là huynh cảm đức sanh thành, càm nghĩa tông tộc, huynh phải về mà trả thảo cho mẹ với bà nội và phụng tự tổ tiên, huynh muốn theo đường lối nào tự ý huynh, tôi không phép xúi giục hay cản cấm. Vậy cô với bà cụ cứ nói ngay với huynh.

- Cháu nghe nói trong chùa nầy có một ni cô thuở nay chăm lo cứu nhơn độ thế nên đã thành Phật. Không biết cháu yêu cầu cô cứu khổ cho bà già cháu, cô nói cho Càn về nuôi bà nội và phụng tự ông bà được hay không?

- Cô Diệu Nga ở tu trong am phía trong kia kìa. Thuở nay cô lo chuyện cứu nhơn độ thế, lo giải khổ cho người đời. Cô yêu cầu ngay với cô Diệu Nga thử coi.

- Cháu lạ, cô không biết. Cháu sợ cô không nhận lời.

- Cô cứ đem bà cụ vô đó tỏ hết việc nhà cho cô nghe rồi cậy cô tính giùm cho ... như cô có ngại thì ra cậy bà chủ chùa tiến dẫn giùm cho. Hôm trước cô có gặp bà chủ chùa tại đây rồi. Cô biết bà mà.

- Thưa cháu biết bà. Nhưng không biết nhà bà ở đâu.

- Cô ra lộ lớn quanh phía tay mặt mà đi lên. Đi lối vài trăm thước cô thấy dựa bên đường, phía tay trái có một cái nhà lầu. Khỏi nhà lầu đó thì có một cái biệt thự trệt, trước sân trồng cây sum sê. Biệt thự đó là nhà của vợ chồng ông xếp Bính, chủ chùa nầy.

- Cháu rất cám ơn ông. Bây giờ đã gần tối rồi, để sáng mai cháu sẽ qua cậy bà chủ chùa.

Ba người từ giã ông Yết Ma mà ra. Càn đứng ngoài tiếp đưa khách ra xe. Bà Xã dan díu nắm cánh tay cháu mà nói:

- Con phải đọc tờ di ngôn của cha con cho kỹ nghe hôn. Cha con là một đứa chí hiếu. Tại cái hiếu mù quáng đó mà hư hỏng rả rời hết. Con về ở với nội. Nội sẽ dạy con đạo hiếu khác. Nội không để hư hỏng nữa đâu. Con đọc con thấy cha con không có quả quyết xin nội phải kiếm con, mà con phiền. Nó không biểu kiếm là nó khôn lắm. Nó kiếm không ra, nội làm sao kiếm cho được mà biểu. Lại nó hiểu thuở nay nội mong ước có một việc là có một cháu nội trai đặng nối dòng cho họ Nguyễn. Nó nói rõ cho nội biết tự nhiên nội kiếm cần gì mà biểu. Nhờ mẹ ăn ở hiền lành, thủ tiết với chồng trọn đạo nên Phật độ, mới kiếm được con đây. Con suy nghĩ chỗ đó mà về ở nhà tu với nội cho khỏi trái ý Trời Phật. Thôi con vô để nội về rồi sáng mai nội qua.

Bà Xã lên xe với cô Hưởng và ông Đốc mà đi, sắc mặt hân hoan, tay vịn vai cô Hưởng mà nói:

- Bộ nó chịu rồi. Má chắc nó sẽ về với má. Hễ rước được nó về tới nhà thì má sẽ làm thịt một con heo mà tạ ơn đất trời ông bà, rồi đãi cậu Đốc mợ Đốc mà tỏ lòng tri ân đáp nghĩa. Má cũng mời hết xóm giềng già trẻ đến chung vui với má một bữa, vui thấy má tìm được cháu nội trai đễ nối dòng cho bên chồng, mà cũng được luôn con dâu hiền biết kính má, biết yêu chồng, kính yêu một cách cao thượng, chớ không phải như đồ thất giáo, bạc bẽo, lố lăng báo hại cho chồng đau khổ buồn rầu mà chết, rồi te rẹt lấy chồng khác.

Cô Hưởng kêu mà dặn anh sớp phơ về Đất Hộ ghé nhà hàng "Con gà vàng" đặng cô ăn cơm.

Về ngừng trước nhà hàng, thì trời đã chạng vạng tối, ngoài đường cũng như trong tiệm đèn điện đốt sáng trưng, sớp phơ mở cửa cho khách bước ra. Cô Hưởng mở bóp lấy tiền mà trả tiền xe. Ông Đốc Thắng không cho, ông nói bà Xã có giao cho ông giữ một số tiền để đi xe nên cô không được phép giành mà trả. Bà Xã cũng tiếp mà cản, bởi vậy cô Hưởng phải chịu thua, đứng một bên bà Xã, coi cho ông Đốc đếm tiền mà trả cho anh sớp phơ.

Lúc đó có ba người ở trong nhà hàng đi ra, một cô uốn tóc quăn mặc quần trắng, áo màu xanh bông đỏ đi giữa, còn hai thầy mặc quần màu xám, áo sơ mi trắng, cụt tay đi kèm hai bên. Cô uống tóc quăn ngó bà Xã và cô Hưởng trân trân, lại tới chiếc xe hơi phía trước, hai thầy đã lên xe rồ máy mà cô cũng còn đang vịn xe mà ngó. Chừng ông Đốc trả tiền xe xong ông theo cô Hưởng với bà Xã vô nhà hàng ngồi rồi, cô tóc quăn mới chịu lên xe mà đi.

Vì cô Hưởng mời ăn cơm nên cô ân cần lo đãi khách. Cô hỏi ông Đốc khai vị rượu gì thì ông biểu anh bồi cho ông la ve. Cô biết bà Xã không quen uống rượu nên cô biểu đem cho hai ly nước cam. Cô giao cho ông Đốc một tờ thực đơn đặng ông chọn lựa món ăn cho vừa miệng. Còn bà Xã thì cô cầm thực đơn kể từng món và cắt nghĩa cho bà nghe coi bà thích thứ nào. Bà Xã cười mà nói:

- Thuở nay má có đi nhà hàng ăn cơm Tây lần nào đâu nên biết gì mà lựa. Con ăn món nào thì má ăn món nấy với con. Mà thiệt má mừng quá nên bữa nay dầu không ăn gì hết má cũng không biết đói.

Cô Hưởng đợi ông Đốc uống hơn nửa ly rượu la ve và mời ép bà xã uống mấy hớp nước cam cho mát rồi cô mới kêu bồi biểu bưng đồ ăn. Cô ngồi một bên bà Xã ân cần mời thỉnh, chỉ cách cho bà cầm dao, cầm nĩa, cắt thịt; sớt tiêu, sớt muối cho bà, chăm nom từng chút, làm cho bà được thấy tình nàng dâu với mẹ chồng kính yêu khắt khít, già rồi bà mới được thưởng thức, bởi vậy bà xúc động rồi bà hối hận vô cùng. Cô Hưởng không muốn để cho bà nhớ chuyện cũ rồi bà buồn, bởi vậy cô kiếm chuyện vui mà nói. Cô hỏi bà ăn cơm rồi bà muốn đi xem hát bóng hoặc hát cải lương hoặc hát bội hay không. Bà nói ăn cơm rồi bà sẽ về nhà nằm nói chuyện đời với cô, tỏ hết việc nhà cho cô biết thì bà vui hơn là coi hát thập bội.

Ăn uống xong rồi cô Hưởng bước lại chỗ người ngồi thâu tiền mà trả. Ông Đốc cũng muốn giành trả nữa thì cô không cho, cô nói cô mời thì để cho cô trả.

Bà Xã nói bây giờ phải lại nhà thầy giáo Khoa cho bà lấy cái giỏ đặng đem lại nhà cô Hưởng mới có đồ mát thay mà ngủ. Cô Hưởng mới kêu ba chiếc xích lô đặng ba người đi với nhau. Lại tới nhà thầy giáo Khoa thì có đủ vợ chồng cô giáo Đào ở đó chờ mà mừng cha với bà Xã và hỏi coi cháu nội bà Xã chịu về ở Cần Giuộc hay không.

Ông Đốc trả tiền xe của ông, còn cô Hưởng biểu hai chiếc xe ở chờ đặng đi nữa.

Cô Đào gặp cô Hưởng mừng hỏi lăng xăng. Bà Xã nói Càn xin để nó suy nghĩ một bữa rồi nó sẽ trả lời. Mà bộ nó muốn chịu rồi. Lại mấy bà con tính ngày mai qua cậy bà chủ chùa tiến dẫn giùm với ni cô đắc đạo đặng yêu cầu cô nói giúp chắc Càn phải chịu.

Cô Đào nói với ông Đốc :

- Hồi mới tối cô Oanh đi xe hơi lại thăm con. Cô nói thấy ba với bà Xã và một cô nữa đi xe lô lại nhà hàng dưới Đất Hộ mà ăn cơm. Cô hỏi vậy chớ bà Xã có việc chi mà đi với ba lên trên nầy với một cô không lạ, nhưng cô quen, không biết đã có gặp ở đâu rồi. Con thuật chuyện ba hưu trí rảnh rang rồi bà Xã cậy ba đi kiếm giùm cô thầy cũ của con đây với người con trai của cô là con trai của cậu Đường hồi trước. Ba gặp cô thầy con rồi qua chùa Nhơn Hòa gặp luôn người con của cô đương tu ở đó nữa, bởi vậy ba về cho bà Xã hay đặng bà lên rước mẹ con cô thầy về mà quản suất sự nghiệp đặng phụng tự ông bà. Ba có gặp cô Oanh hay không mà cô nói như vậy?

Ông Đốc nói:

- Ba thấy cô chớ. Hồi mới xuống xe cô ở trong nhà hàng đi ra với hai thầy mặc đồ tây. Nhưng cô không thèm lại chào bà Xã, ba ghét người vô lễ nên ba làm lơ.

Bà Xã hỏi:

- Cậu thấy con Oanh sao cậu không cho tôi hay?

- Cho chị hay chị thêm giận chớ ích gì.

- Phải đó chú. Nếu nó lại nó chào thì nó chọc cho tôi giận chớ có ích gì đâu.

Cô Hưởng hỏi phải cô uốn tóc quăn đó hay không. Ông Đốc nói phải. Cô Hưởng nói hèn chi cô đó ngó mấy bà con mình dữ quá.

Bà Xã lấy cái giỏ sửa soạn đi. Cô Hưởng xin để cho cô xách. Bà Xã cậy ông Đốc sáng mai làm ơn kêu xe đem lại rước giùm mẹ con bà đi một bữa nữa. Ông Đốc hẹn lối 9 giờ ông sẽ lại. Bà Xã với cô Hưởng mới từ giã mấy cha con ông Đốc Thắng mà đi. Bà Xã nói để ở lại đẳng nghỉ, đặng nói cho cô Hưởng nghe và hiểu vì sao mà Đường phải đau khổ đến sanh bịnh mà chết.

Ông Đốc với cô giáo Đào đưa hai mẹ con ra tới cửa. Chừng xe đi rồi Cô Đào nói với cha:

- Tội nghiệp bà Xã quá. Nhà giàu có, tận tụy với bên chồng, ăn ở hiền lành, ai cũng kính mến, mà bà lại mang họa. Nay tìm được dâu hiền với cháu nội, coi bộ bà vui dữ. Ba làm ơn cho bà đây, ba được phước nhiều.

- Bà khoái lắm. Bà nói hễ rước được cháu nội về bà làm thịt một con heo mà đãi ba má.

- Cô Hưởng chắc chịu xuống Cần Giuộc rồi. Mẹ con coi bộ đầm ấm lắm.

- Biết được nhau rồi hai đàng đều vui hết. Cô Hưởng đúng đắn thiệt chớ không phải bậy bạ như cô Oanh vậy đâu. Người xứng đáng lắm. Bà Xã làm phải nên gặp phải, rời khỏi dâu dữ, tìm được dâu hiền.]

ạnh Phúc Lối Nào

7. ĐỜI ĐẠO ĐI ĐÔI

Trong lúc bên Đất Hộ cô Hưởng vui vẻ rước bà Xã về nhà đặng thố lộ tình yêu chơn chánh của mình cho bà nghe, thì bên Chí Hòa huynh Huệ Minh, hồi chiều ăn cơm rồi huynh ngồi đọc mấy trương giấy di ngôn của cha, nhìn tấm hình, xem khai sanh, huynh xúc động nên bối rối, vì đứng trước hai ngả đường, một ngả tụng niệm đặng ung đúc đạo tâm, còn một ngả thảo thuận đặng duy trì tông tộc, không biết phải đi theo đường lối nào.

Huynh thơ thẩn dưới hàng cây mà suy nghĩ, đợi công phu tối huynh làm xong phận sự Phật tử rồi, huynh cầm hết các giấy tờ đi vô am đặng hỏi ý cô Diệu Nga.

Cô Diệu Nga nghe tiếng trống công phu ngoài chùa, cô qua trước bàn thờ Phật mà tưởng niệm nãy giờ, cô mới trở về phòng khách ngồi uống nước thì huynh Huệ Minh vô tới. Huệ Minh thi lễ rồi nói:

- Em xin cô cho phép em làm rộn cô một lát. Em mới có một việc thắc mắc quá, em tính không ra, nên em vô đây tính bày tỏ với cô rồi yêu cầu lòng sáng suốt và chơn chánh của cô chỉ giùm đường ngay lối phải cho em biết mà đi đặng khỏi lầm lạc.

Cô Diệu Nga chấp tay nói: "Mô phật" rồi chỉ cái ghế trước mặt mà biểu Huệ Minh ngồi đặng nói chuyện cho cô nghe.

Huệ Minh nói:

- Thưa cô, hồi em còn thơ ngây em được người ta nuôi dạy, chớ không có cha mẹ ông bà nào hết. Khi em được tám chín tuổi, em buồn, em theo mấy bạn trẻ của em mà đi bán báo bán sách. Em tưởng em là con mồ coi như nhiều đứa nhỏ khác, không có cha mẹ bà con nào hết. Ban ngày em vất vả, ban đêm em theo chúng bạn vô chùa Nhơn Hòa mà ngủ. Chừng bà với cô xuống đây giúp sức sùng tu chùa lại đàng hoàng em mới quy y thọ phái để ung đúc đạo tâm và ước nguyện hiến thân cho nhà phật đặng lo việc cứu nhơn độ thế. Nào dè hôm trước có một cô vô chùa tìm em, nhìn em là con, vì hửu sự nên mẹ con phải phân ly nhau trót 17 năm. Cô xin rước em ra nhà ở dưới Saigon đặng bày tỏ nguồn gốc của em cho em hiểu. Em nghĩ em tu đã được 4 năm rồi, em hết ham mùi đời, hết muốn việc thế gian nữa, bởi vậy em từ chối, không muốn biết nguồn gốc làm chi, xin để cho em an trí tịnh tâm đặng em tu niệm cho mau tinh tấn. Ngày hôm kia bà mẹ em trở qua chùa có dắt theo một ông nữa. Ông nầy nói với em rằng cha em chết đã 4 năm rồi, không có anh em, cũng không có con nối dòng. Bà nội em ở dưới Cần Giuộc già cả lại giàu có, nhưng không có con cháu nào hết, hay em ở tu trong chùa nên cậy ông lên nói mà rước em về đặng quản uất sự nghiệp và phụng tự tổ tiên. Em cũng cáo từ em không chịu đi, xin để cho em ở luôn trong chùa mà tu niệm mà cầu đạo vì em không muốn nhập thế tục nữa, bữa chiều nay mẹ em với ông đó cùng bà nội em đi xe hơi vô chùa nữa. Bà nội em vừa thấy em thì bà níu mà khóc. Bà đưa hình của cha em chụp hồi còn trai em xem, đưa khai sanh của em với tờ di ngôn của cha em cho em đọc. Bà thiết tha yêu cầu em về ở nhà mà tu đặng cúng quảy ông bà luôn thể. Bà hứa nếu em chịu về ở với bà em muốn thế nào bà cũng làm cho em vui lòng hết thảy, miễn là em phụng tự tổ tiên, kế nghiệp cho dòng họ đặng khỏi tuyệt tộc. Nếu em mộ đạo thì bà dọn bàn thờ Phật trong nhà cho em tưởng niệm. Nếu em muốn bà tu với em, thì bà cũng tu. Nếu em muốn cất chùa để ung đúc đạo tâm cho chúng sanh thì bà sẽ cất chùa cho đặng em làm chủ chùa rước đạo hữu về ở tu mà cảm hoá người trong làng trong xóm. Bà nài nỉ quá làm cho em động lòng nên em xin để cho em suy nghĩ rồi em sẽ quyết định. Bà mới để mấy trương di ngôn với tấm hình của cha em đây. Em xin cô đọc thì hiểu hết gia đạo của cha em và bà nội em.

Huệ Minh trao hết giấy tờ trong bao thơ cho cô Diệu Nga xem.

Diệu Nga giở xấp giấy của Đường viết mà trối, cô ngồi xem kỹ lại im lìm. Huệ Minh ngồi chờ cho cô đọc và liếc mắt nhìn coi cô cảm xúc hay không, thì thấy sắc mặt cô vẫn bình tĩnh như thường, đọc tới đứt mà không lộ vẻ động dung chút nào hết. Cô lần lượt xem qua tờ khai sanh, bổn sao án Tòa. Chừng nhìn tấm hình chụp cô mới ngước mặt nhìn Huệ Minh mà nói:

- Huynh giống người trong hình nầy quá.

Huệ Minh vội vã đáp:

- Em chắc người trong hình và viết mấy trương giấy di ngôn đó là cha của em, bởi vậy em không nghi ngờ chi hết. Mà bà nội với bà mẹ kiếm đặng nhìn em là con cháu cũng phải nữa chớ, giả dối gạt em làm chi. Em muốn biết em sanh ra trong trường hợp nào có lẽ như vậy. Lại cha em để lời trối cho bà nội em, thì đính theo đủ giấy tờ chứng nhận em là con cho bà nội em biết vậy thôi, chớ không nài nĩ bà kiếm đặng nối dòng kế nghiệp và phụng tự tổ tiên. Thế thì em có nên bỏ chùa về ở với bà nội em hay không chớ?

- Huynh được ra đời là nhờ có mẹ cha cấu tạo nên mới thành hình, bởi vậy bất luận sanh với trường hợp nào cha mẹ là cha mẹ, huynh không phép quên ơn nghĩa đó được. Đọc lời trối nầy rồi huynh không nhận thấy tâm hồn của ông thân sanh huynh hay sao? Từ nhỏ mồ côi cha ông sống với bà mẹ, ông hấp thụ giáo dục theo gia đình mẫu Nho giáo, nên ông thành một người chí hiếu không dám làm một việc gì cho mẹ buồn. Vì bà mẹ nuôi dạy con, bà hướng về một mục đích duy nhứt là mong con mau lớn đặng cưới vợ cho con để nó sanh cháu mà duy trì tông tộc, phụng tự ông bà, nối nghiệp của ông cha lưu hạ. Vì mục đích đó mà bà lo vợ cho con quá sớm. Con chưa biết tình yêu là cái gì, con cứ phú cho mẹ định liệu. Thiệt bà mẹ cũng chọn nhà chức sắc có tiếng hiền lành tử tế mà làm sui, rủi gặp con dâu không tốt, không hiểu đạo làm dâu, làm vợ, bởi vậy hạnh phúc bà quyết định xây dựng cho con mới hoá ra tai hại. Ông thân sanh của huynh buồn rầu chán nãn, nhưng vì chữ hiếu ràng buộc, ông không dám phá gia thất của mẹ định cho ông. Ông phải cắn răng rán bận cái áo chật hẹp của mẹ sắm, rán chịu cái cối xay nằm chàng ràng đặng có làm ra gạo, theo lời ông thân đó huynh nhớ hôn?

- Em nhớ. Em hiểu vì ông bực tức nên ông phải kiếm tình yêu chỗ khác mà thố lộ nỗi lòng, tại vậy nên mới sanh ra mà bà nội em không hay biết.

- Sanh huynh ra rồi ông thân của huynh không có ý bỏ rơi huynh. Khai sanh và án Tòa đây là bằng cớ chứng minh ông giữ vẹn đạo làm cha. Còn bà mẹ vì danh dự - mà vì có lẽ sợ gia đình của người yêu xào xáo mà thất hiếu với mẹ nữa - bởi vậy bà phải lánh mặt và giấu huynh. Trót mười mấy năm ông thân của huynh tìm huynh hết sức mà tìm không được nên ông buồn rầu đến sanh bịnh. Sợ chết mà mẹ không hay, nên ông viết tờ trối mà để lại cho mẹ. Ông không xin mẹ tiếp kiếm huynh, làm như vậy ông đã trọn chữ hiếu với mẹ, vì ông không dám ép buộc bà mẹ nhìn nhận đứa con tự ông cấu tạo ngoài ý muốn của mẹ mà ông cũng trọn đạo làm trai trong tông môn, khỏi mang tội bất hiếu để tuyệt tộc. Mà tôi cũng lại khen ông khôn ngoan, kín đáo nữa. Ông dư biết bà mẹ mong ước có một điều là ông sanh con đặng nối dòng. Vậy ông chỉ đứa con của ông thì tự nhiên bà mẹ kiếm, cần gì ông phải biểu.

- Trong tờ di ngôn cha em nói có thêm một đứa con gái nữa. Vậy thì đem đứa con gái đó về nuôi cũng được cần gì phải nài ép em về.

- Con gái mà phụng tự tổ tiên và nối dòng gì được. Tại như vậy nên ông không khai sanh, ông nói phớt qua, ông xin châu cấp đặng nó no ấm vậy thôi.

- Bây giờ em xin hỏi gắt cô vậy chớ em phải đi đường lối nào? Em phải ở luôn trong chùa nầy mà tu niệm cho đắc đạo, hay là em phải vì tông tộc mà trở về ở với bà nội đặng tu tại gia?

Cô Diệu Nga trầm ngâm suy nghĩ một chút rồi cô chậm rãi nói:

- Đã mấy ngàn năm rồi tổ tiên ta xây dựng văn hoá trên nền tảng Tam giáo là Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Nồng cốt văn hoá ấy rất vững chắc nên dân tộc Việt Nam ta tấn bộ mạnh mẽ luôn luôn. Thiệt nhiều lúc gặp gió to sóng lớn chiếc thuyền Việt Nam phải chìm ngấm trong thời gian, may nhờ văn hoá đặc biệt của ta ung đúc tinh thần dân tộc ta rất mạnh mẻ, rất cao, nên chìm một lúc rồi chiếc thuyền Việt Nam cũng nổi lên lại, dân tộc Việt Nam cũng vỗ ngực ngó thiên hạ mà nói: "Ta cũng như ai, ta không thua ai, ta không sợ ai hết. Ai giúp gìn giữ cõi bờ của ta là bạn, ai toan chiếm đất nước của ta là thù. Với bạn ta từng biết hòa nhã thân yêu để tương trợ mà với thù ta cũng từng đám đổ máu phơi xương mà chống cự. Sở dĩ dân tộc ta có hào khí tốt đẹp, mạnh mẻ, cứng cỏi như vậy, là nhờ văn hoá của ta xây dựng với nòng cốt là Tam giáo đó. Nho giáo thì giúp cho ta cư xử với nhơn nghĩa đạo đức. Đạo giáo thì giúp chỗ ẩn núp cho người khỏi nãn tâm chí, còn Phật giáo thì giúp cho ta hưng vượng tinh thần, dám bền gan chịu khổ để cứu người, biết nghĩ đến hạnh phúc tương lai nên dám hy sinh vui sướng hiện tại. Ấy vậy Nho giáo với Phật giáo là hai đồng trụ hai cột cái của nhà Việt Nam. Người mình phải nương Nho giáo mà tấn bộ với đời, tiếp xúc với người, trên đường thực tế, mà cũng phải nương Phật giáo đặng bồi bổ tinh thần cho có đủ kiên nhẫn, từ bi mà tiến tới vinh quang và đối phó với tai họa. Hiện giờ huynh đi tới khoảng đường phân ra hai ngả, huynh dụ dự không biết phải đi ngả nào. Theo ý tôi, hai ngả đều cần thiết hết. Vậy hãy dung hòa mà noi theo cả hai ngả mới có lợi ích cho huynh, mà cũng lợi ích luôn cho đời nữa.

- Theo trí em hiểu thì phụng tự tổ tiên và nối nghiệp cho tông môn, điều đó thuộc về Nho giáo. Còn ở chùa mà tu niệm để tập phật tánh phật tâm, đó thuộc về Phật giáo. Hai quan niệm khác nhau, làm sao dung hòa mà đi đôi cho được?

- Được chớ, Phật tại âm của mình, chớ nào phải ở chùa mới có phật, còn ở nhà không có hay sao. Nếu huynh có cơ cảm thì tu tại gia huynh cũng có thể đắc đạo vậy, mà huynh lại thêm tròn chữ hiếu với ông bà.

- Muốn tròn chữ hiếu thì phải cưới vợ sanh con đặng nối dòng. Tu mà có vợ con lòng thòng thì đắc đạo sao được.

- Ngũ giới cấm: "tà dâm", nghĩa là núp lén mà kết tình với vợ của người khác, hoặc dụ dỗ làm cho con gái người mất trinh mất tiết, chớ có cấm cưới vợ chính thức đâu. Vì hiểu ngủ giới theo trí ý đó nên kinh pháp mới dạy hai cách tu: tu tại gia và tu xuất gia chớ. Thuở xưa vua Tráng Niệm làm vua, có vợ có con đủ hết. Ngài với hai hoàng tử đều thành tâm tu niệm ngài cũng đắc đạo thành phật còn hai hoàng tử thành Bồ tát là Quan thế âm Bồ Tát với Đại thế chí Bồ Tát đó. Phái tiểu thừa hiểu ngũ giới theo trí ý rộng rãi, bởi vậy ngũ giới cấm "sát sanh" mà họ ăn thịt ăn cá như người thường. Họ nói cấm sát sanh là cấm không cho mình giết chết loài có sự sống, chớ không phải cấm ăn thịt cá do người khác giết mà nấu chín rồi. Tại như vậy nên, người Thổ tu theo tiểu thừa, sớm mơi mấy ông lục mới mang bình bát đi cùng trong sốc mà khất thực. Tín đồ cúng thực phẩm thứ gì cũng để hết vô bình mà mang về chùa rồi đúng ngọ dọn ra ăn với nhau.

- Bà nội em có nói nếu về ở nhà mà em muốn tiếp tục tu niệm thì bà sẽ dọn chỗ đặt bàn thờ phật cho em tu. Nếu em muốn thì bà cũng tu niệm với em. Như sau trong xóm trong làng có nhiều người mộ đạo tưởng Phật, thì bà cất chùa để cho em làm chủ chùa, em rước ít đạo hữu về ở trụ trì rồi hiệp nhau ung đúc đạo tâm cho thiện nam tín nữ trong vùng Cần Giuộc.

- Được vậy thì càng hay hơn nữa, sao huynh còn dụ dự? Huynh có hỏi ý kiến của ông Yết Ma hoặc của ông bà chủ chùa hay chưa?

- Em không có dọ ý của ba người đó. Vì trước khi đưa bà nội em vào nhìn em, má em có thăm em hai lần và nói chuyện với em trước mặt ông Yết Ma và ông bà chủ chùa. Em thấy ý ba người đều muốn cho em về, nhứt là ông Yết Ma có nói với nội em rằng về hay ở tự ý em, chớ ông không ép buộc phải ở hay là xúi đi về được. Vì vậy nên em mới vô đây mà hỏi ý kiến của cô. Em biết chắc hễ hỏi ba người ấy thì ai cũng xúi em về ở với bà nội em, nên em không muốn hỏi.

- Có lẽ huynh cũng có nghe người ta nói: "Phật trong nhà không thờ lại thờ Thích ca ngoài đường". Người ta nói có ý khinh bỉ những kẻ dối thế, ở trong nhà không biết thờ cha kính mẹ, mà lại làm mặt đạo đức, đi chùa cúng phật, đốt nhang vái lạy lăng xăng. Nếu huynh không kể bà nội già cả không trọng bà mẹ mang nặng đẻ đau không tưởng niệm ông bà tổ tiên nào hết, huynh là bất hiếu, dẫu huynh tu sợ e phật cũng khó tin lòng thành thiệt của huynh được mà chứng kiến. Ngoại tôi với tôi vì nuôi tâm chí cứu nhơn độ thế nên xuống đây cất am ở mà tu. Tôi phục các quan niệm về đạo với đời của ông Yết Ma và ông chủ chùa lắm. Hai ông nghĩ đời tấn hoá thì đạo cũng phải biến chuyển mà theo cho ăn nhịp với đời, phải như vậy cuộc tấn hoá mới mạnh mẽ về hình thức và tốt đẹp về tinh thần. Đạo với đời phải sát cánh đi đôi cùng nhau mới có hiệu quả, chớ đạo phưởng phất ở trên cao, đời vói không tới, rồi đạo đi theo đạo, đời đi theo đời, lờ mờ, đời hổn độn, có đạo cũng như không. Tu niệm với am chùa không ích cho ai hết. Đạo phải tiếp xúc chặt chẽ với đời, đặng đạo cảm hoá mà dìu dắt đời, còn đời nương níu lần theo đạo, phải như vậy đạo mới đắt nghi, đời mới hòa nhã. Với ý trí theo quan niệm đó, mấy năm nay chùa am Nhơn Hòa mới hiệp tác với hội: "Xây dựng đời sống mới" để cứu nhơn độ thế, hội cứu về mặt thực tế, chùa cứu về mặt tinh thần, làm như vậy đời với đạo đều được kết quả mỹ mãn cả hai. Huynh có cơ cảm với phật, huynh lục đục ở trong chùa mà tu niệm tự nhiên huynh được công quả mà công quả đó chỉ có một mình huynh hưởng, chớ đời không được nhờ mà ông bà cha mẹ của huynh cũng không được nhờ chút nào hết. Sao cho bằng huynh nghe lời bà nội về ở nhà mà tu, trước hết bà mẹ với bà nội được vui lòng, ông bà được phụng tự và có người nối dòng, sau nữa huynh giúp ung đúc đạo tâm cho các thiện nam tín nữ sống chung quanh huynh, huynh giúp gieo rắc mùi đạo cho đời, làm cho đời hết ham xa hoa, khỏi bị trụy lạc, tu như vậy mới có công quả lớn chớ. Vậy huynh hãy suy nghĩ lại.

Hạnh Phúc Lối Nào

8. CÒN NHỚ GIA TÀI

Huynh Huệ Minh cười mà nói:

- Em hiểu rồi, em rất cám ơn cô chỉ dẫn đường sáng suốt cho em biết mà đi.

Huynh lấy giấy tờ đút hết vào bao thơ rồi từ giã cô Diệu Nga mà trở về chùa.

Ai cũng biết cô Oanh, con gái của Hội Đồng Mai ở Rạch Kiến, là dâu của bà Xã Cầm, vợ của cậu Đường. Nhưng biết cô là nhờ người ta nói mà thôi, chớ chưa thấy hình dáng, mặt mày thế nào. Biết cô về nhà chồng hồi 19 tuổi, cô được mẹ chồng cưng, mà cô lại không hạp tâm chí với chồng, ưa đi lên Sai Gòn ta bà, làm cho chồng buồn rầu, chán nản. Biết cô ghen, làm vỡ lở cả chợ Cần Giuộc ai cũng ghét, biết chồng chết cô ở bên nhà chồng được một năm, chừng thấy mẹ chồng rước cháu ngoại của người tá điền về mà nuôi, lại nuôi thêm mẹ đứa nhỏ nữa, thì cô giận nên cô bỏ trở về ở với cha mẹ, rồi trong vài tháng cô lấy chồng khác ở trên Sài Gòn, cải giá không đợi mãn tang chồng, không thèm trình cho bà mẹ chồng trước hay, mà từ đó đến nay, đã hơn ba năm rồi, cô cũng chẳng hề bước chưn tới nhà mà thăm bà mẹ chồng cũ.

Vậy tưởng cũng nên trình cho anh chị em có dịp đọc truyện nầy biết sơ nhan sắc của cô Oanh và biết thêm coi người chồng thứ nhì của cô là ai và mấy năm nay cô làm việc chi.

Năm bà Xã Cầm nhờ ông mai tiến dẫn mẹ con bà qua Rạch Kiến mà xem tướng mạo cô Oanh, thì cô là một thiếu nữ mới lớn lên, thuộc con nhà có ăn, áo quần và nhan sắc cũng như muôn ngàn gái thuộc hạng trung lưu như cô, không thua ai, mà cũng không hơn ai. Cô có hơn gái ở đồng là vì có anh chị ở Sài Gòn, cô có lên ở đi học vài năm nên biết đọc biết viết, cô có xem chớp bóng và xem hát cải lương nhiều lần, lại có được ra Long Hãi chơi cho biết biển một lần, nhờ vậy mà cô dạn dĩ, lanh lợi, rồi cô cho cô là gái tân tiến, gái trí thức, gái thời đại, mặc dầu cô không hiểu ý nghĩa về mấy danh từ ấy.

Chừng chồng chết, cô giận mẹ chồng già rồi mà không chịu giao quyền cho cô cai quản sự nghiệp, lại rước mẹ con đứa nhỏ giống hệt chồng cô về nhà mà nuôi, cô mới bỏ áo quần mà về ở với cha mẹ, rồi cô cặp với người chồng khác, không cần hôn thơ hôn thú chi hết. Người chồng sau nầy là ông Thông, lối bốn mươi tuổi, cũng một chạn với cô.

Ông Thông nầy bành khành, vui vẻ, nhậm lẹ, ưa hoạt động, lại cũng thích nhậu nhẹt. Trước khi đụng cô Oanh ông ở một căn phố phía sau chợ Tân Định; người ta thấy ông ở một mình chớ không có vợ con, chỉ có một người đàn ông ở nấu ăn và giữ nhà. Vì ông có một cái xe hơi cũ, ông lái mà đi hoài, nhiều bữa ông không về ăn cơm nhứt là buổi chiều ở nhà khỏi lo nấu cơm, vì thường thường ông ăn nhậu tới khuya rồi ông mới về. Nếu bữa nào ông về sớm thì ông sai mua bánh mì, cháo mà ăn vậy thôi.

Nếu hỏi ông làm nghề gì thì thiệt không biết sao mà nói cho đúng. Ông không phải công chức, mà cũng không phải tư chức; không phải thương gia, mà cũng không phải kỹ nghệ gia. Mà không được phép nói ông là người vô nghiệp nghề, bởi vì ông có công việc làm hằng ngày có khi làm thêm tới ban đêm nữa, làm đủ thứ việc, ai cậy việc nào ông làm việc ấy, bất luận việc gì, dắt mối cho Trạng sư, qua Thương khẩu lãnh hàng nhập cảng giùm cho mấy hãng hoa kiều, chạy chọt kiếm mua mấy thứ hàng khan mà bán lén lại cho người cần dùng, ai muốn thứ nào thì cho ông biết, ông sẽ chạy cho, giá mắc một chút, mà thế nào ông cũng mua được vì ông giao thiệp rộng lại được lòng tín nhiệm của nhiều tiệm nhiều sở, chỗ nào ông cũng có bạn thân, bởi vậy, việc khó mà giao cho ông lo chạy chọt thì khó hoá ra dễ. Ông làm việc như vậy mà ông sống dư dả, no ấm, trong mình có bạc ngàn luôn luôn, nhiều khi có tới bạc muôn nữa.

Mấy năm nay làm bạn với Cô Oanh, tánh tình của ông hạp ý với cô Oanh lắm vợ chồng đồng chí, vì vậy mỗi ngày ông đi cô xin theo mà giúp tay cho ông; thiệt cô giúp thường được việc lắm nên người ta tin cậy rồi khi ông mắc chạy lỡ việc nầy thì ông biểu cô chạy việc khác thế cho ông. Rủi làm sao mà ăn ở với nhau mới có mấy tháng rồi cô lại có thai. Chừng ngày gần sanh cô phải nằm nhà mà nghỉ trót một tháng. Sanh con gái cô phải kiếm mướn người ở mà nuôi cho bú sữa bò đặng cô rảnh tay mà đi làm việc phụ với chồng.

Có con rồi ông Thông thuần nết không dắt vợ vào tửu điếm trà đình nữa. Mặc dù ông cũng mặc áo sơ mi cụt tay lái xe hơi mà đi, có cô uốn tóc quăn, mặc áo màu, ngồi một bên luôn luôn, nhiều bữa phải nhậu nhẹt với anh em đặng bàn tính công việc, nhưng gần tới bữa ăn thì vợ chồng về nhà ăn cơm rồi giỡn chơi với đứa con gái nó lớn lần lần đã biết nói biết đi rồi.

Cũng vì lo chạy việc giùm cho một người bạn nên chiều bữa đó vợ chồng cô oanh đi Gò Vấp về khát nước mới ghé nhà hàng "con gà vàng" ở Đất Hộ mà uống la ve với người bạn. Chừng ra xe mà đi, cô Oanh thấy ông Đốc Thắng và bà Xã Cầm, cô đứng mà ngó trân trân, không hiểu có việc chi mà bà Xã thường không chịu nới ra Cần Giuộc, bữa nay bà lên tới Sài Gòn, lại đi với ông Đốc Thắng và cô nào đó. Cô Oanh phát nghi, cô biết cô giáo Đào, và mấy năm gặp nhau thường nên cô biết chỗ cô Đào ở. Cô chắc ông Đốc Thắng với bà Xã lên ở đó, bởi vậy thấy mấy người vô nhà hàng cô lên xe biểu ông Thông chạy lại nhà cô giáo Đào cho cô hỏi thăm một chút chuyện.

Nhờ cô giáo Đào thiệt tình cô không giấu chi hết, mà nghĩ có hại gì sợ mà phải giấu, bởi vậy cô Oanh mới hay hồi trước, Đường kết tình với cô giáo Hưởng có sanh được một đứa con trai. Bà Xã cậy ông Đốc đi tìm mẹ con cô Hưởng giùm cho bà. Tìm được rồi nên bà lên nói mà rước mẹ con cô Hưởng về ở với bà mà quản suất sự nghiệp và phụng tự ông bà. Cô chắc người đứng với bà Xã hồi nãy là cô Hưởng. Cô hỏi còn người con trai của Đường ở đâu sao không thấy. Cô Đào mới nói còn tu ở bên chùa Nhơn Hòa chắc ăn chay không thể ăn nhà hàng được, nên không thấy.

Vê ăn cơm tối với ông Thông. Cô Oanh mới nói gia đạo của bà Xã Cầm cho ông biết, rồi thuật việc cô Đào nói hồi nãy nữa. Cô quyết định sáng bữa sau cô phải đi xuống Cần Giuộc mà tranh gia tài của chồng trước có hôn thú đàng hoàng, chớ mẹ con cô Hưởng với mẹ con cô Thậm là đồ trôi sông lạc chợ không có bằng cớ gì, mà tranh gia tài của bà Xã được. Nếu bà Xã cự nự thì cô kiện mà đòi chia phân nửa. Còn nếu bà Xã muốn êm thì ít nữa cũng phải cho cô lối ba chục ngàn cô mới chịu hòa.

Áp phe nầy thuộc trong khuôn khổ hoạt động của ông Thông, bởi vậy nghe nói rồi thì ông đốc vợ đi. Ông nói việc đó đáng làm, dầu tốn công đôi ba tháng cũng không nệ chẳng luận thất công đi ít bữa. Nhưng ông dặn phải cẩn thận phải dùng chiến lược tiên lễ nhi hậu binh. Mấy bà già quê mùa ưa mình lấy lễ nghĩa mà bôm ngọt, chừng nào họ không biết nghe rồi mình sẽ khai chiến, sẽ hăm dọa.

Vợ chồng đồng tâm hiệp ý bởi vậy sáng bữa sau cô Oanh đi Cần Giuộc thăm mẹ chồng cũ, chắc hồi hôm sẵn có xe lô nên ăn cơm rồi bà đã về liền. Cô mặc quần lãnh đen, áo cẩm nhung cũng đen, chớ không bận áo màu sợ mẹ chồng nói mình còn ham lòe loẹt.

Xe đò xuống tới đầu bờ vô nhà bà Xã Cầm thì cô Oanh kêu sớp phơ biểu ngừng cho cô xuống. Cô ôm bóp đi vô, ngó cảnh cũ cô bỏ mà đi đã hơn ba năm rồi, cô có hơi nao nao trong lòng chút đỉnh, nhưng không buồn mà cũng không thẹn. Lúa hai bên bờ đã chạy lá gai, trong mươi bữa nữa sẽ gặt được. Cây sua đũa trồng dài theo hàng rào đến mùa gió chướng trổ bông trắng coi rất đẹp, mà đẹp thiệt thà theo cảnh thú thôn quê.

Cô Oanh bước vô sân. Một con chó vàng với một con chó vện ở trong nhà luôn chạy ra đón cô mà sủa om sòm, làm cho cô sợ nó cắn, nên cô đứng khựng lại, không dám đi nữa.

Ông Ba Tào đương giẫy cỏ dọn sân đặng chừng gặt có chỗ sẵn mà chất lúa bó. Ông đứng dậy la chó và đuổi nó đi cho khách vô.

Cô Oanh ngó ông vừa cười vừa hỏi:

- Ông Ba, ông mạnh giỏi hả?

- Mạnh giỏi...Ủa? Mợ hai mà tôi tưởng ai ở đâu lạ chớ.

- Ừ, lâu quá rồi chó nó lạ, nên nó sủa dữ quá. Có bà ở nhà hay không ông Ba?

- Không có. Bà đi Sài gon, đi hồi sáng hôm qua bà chưa về.

- Bà bỏ nhà cho ai coi mà đi lâu như vậy được?

- Có hai mẹ con cô Thậm coi. Cô Thậm là con của ông hương nghị Thiệt ở dưới Mồng Gà, có lẽ mợ biết mà. Tôi nhớ năm bà rước hai mẹ con về giúp coi trong coi ngoài cho bà thì mợ hai còn ở bên nầy mà.

- Phải. Bữa rước về đó có tôi. Qua bữa sau tôi mới về bển.

- Mợ hai vô nhà uống nước. Có cô Thậm ở trỏng.

Cô Oanh xăng xớm đi ngay vô thềm mà bước lên hàng tư.

Nãy giờ cô Thậm nghe cô Oanh nói chuyện với ông Ba Tào thì cô biết là vợ lớn của cậu Đường hồi trước, bởi vậy cô bước ra cữa đón chào:

- Em chào mợ hai. Lâu quá mợ hai mới qua thăm bà, mà lại rủi không có bà ở nhà. Mời mợ hai vô uống nước.

Cô Oanh ngó cô Thậm trân trân rồi nói:

- Tôi qua có việc riêng một chút. Sẵn dịp tôi ghé thăm má tôi. Má tôi mạnh hả? Có nói đi chừng nào về hay không?

Cô Thậm nói:

- Bà nói đi công chuyện ít bữa, chừng nào xong thì bà về chớ không định trước chắc bữa nào.

Cô Oanh vô nhà, cô đi lại chái dòm bàn thờ chồng rồi thủng thẳng đi hết mấy căn mà coi. Cô Thậm kêu con biểu chế một bình trà đặng mợ hai uống.

Cô Oanh đi thẳng xuống nhà dưới và vô bếp. Cô thấy chị bếp nấu ăn lạ, mà người ngồi bửa củi ngoài sân sau cũng lạ nữa. Cô mới trở lên nhà trên, lại ván mà ngồi.

Cô Thậm thấy con Cát xách bình trà ở nhà sau đi ra cô rước mà rót một tách, rồi biểu con bưng lại mời khách uống.

Cô Oanh ngó Cát và hỏi cô Thậm:

- Phải con nhỏ của cô đây hay không?

- Thưa, phải.

- Năm nay nó đuợc mấy tuổi?

- Mười lăm tuổi.

- Gương mặt nó giống anh Đường quá. Ngó thấy thì biết con của ảnh liền. Má tôi có nhìn nó là cháu nội hay không?

- Thưa, không.

- Ủa! Không nhìn cháu, sao lại đem về nuôi mà chi? Cô lại đây, lại ngồi gần đặng tôi hỏi thăm một chút.

Cô Thậm kéo ghế ngồi trước mặt cô Oanh.

Cô Oanh hỏi tiếp:

- Vậy chớ má tôi không biết nó giống anh Đường hay sao?

- Thưa, không hiểu. Em về ở mấy năm nay, em không nghe bà nói gì hết.

- Mà phải nó là con của anh Đường hay không?

- Con cậu chớ con ai.

- Cô cũng không nói cho má tôi biết hay sao? Không nói thì sao lại chịu về ở đây ?

- Năm trước bà xuống thăm ruộng, bà than với cha em không có người coi sóc việc trong nhà. Bà cậy cho mẹ con em lên giúp bà, em coi việc trong nhà, còn con Cát thì hầu trầu nước. Cha em là tá điền. Bà chủ điền cậy thì từ chối sao được. Bởi vậy mẹ con em phải ở từ đó đến giờ. Bà không biểu về thì đâu dám về. Bà không nói tới việc con cháu thì em đâu dám nhắc tới làm gì.

- Mỗi năm má tôi có cho tiền bạc gì hay không?

- Bà mướn may áo quần cho mẹ con em bận tử tế. Mỗi năm bà bớt vài chục thùng lúa cho cha em. Bà mua bông tai cho mẹ con em đeo. Năm ngoái tới tết bà cho con nhỏ em một đôi vàng chạm. Em tưởng vậy thì đã nhiều lắm rồi. Có phải bà mướn ở đợ đâu mà đòi tiền công.

- Tội nghiệp! Thiệt thà quá! Để cho chủ điền lừa công mà cũng không dám phiền. Nầy, để tôi hỏi việc nầy coi có phải vậy hay không nghe hôn. Tôi nghe người ta nói trước anh Đường trai gái với cô giáo Hưởng có sanh được một đứa con trai, mà ảnh giấu nên bà già không hay. Mới đây bà già nghe nói bà cậy ông Đốc học Thắng đi tìm dùm mẹ con cô Hưởng cho bà. Tìm được ở trên Saigon rồi nên bà già lên rước hai mẹ con về đặng bà già giao sự nghiệp cho hai mẹ con quản suất mà phụng tự ông bà. Bà già đi Saigon là vì có việc đó, phải hôn? Cô nói thiệt cho tôi nghe chơi coi họ đồn như vậy mà có hay không?

- Hôm qua, trước khi đi, bà căn dặn em coi nhà cho bà đi ít bữa, đi kiếm cháu nội mà rước về đặng ngày sau nó cúng quẩy ông bà. Bà nói vậy thì hay vậy, em không dám hỏi cho kỹ.

- Chuyện đó tôi biết rõ hết. Má tôi kiếm được cô Hưởng với thằng con của cổ đương ở tu trên chùa Nhơn Hòa rồi. Thiệt má tôi tính rước mẹ con cô Hưởng về đây mà nuôi đặng giao hết ruộng đất cho mẹ con coi thâu góp lúa để cúng quẩy ông bà. Tôi tưởng đã về rồi nên tôi mới xuống đây.

- Chưa về.

- Nếu bữa nay không về thì mai cũng về. Kiếm được rồi còn ở trển làm chi. Tôi nhứt định tôi tranh cản, không chịu để má tôi giao gia tài cho mẹ con cô Hưởng ăn. Tuy tôi ở với anh Đường không có con, nhưng vợ chồng có hôn thú rành rẽ. Có giao gia tài thì giao cho tôi chớ giao cho quân bá láp, thuở nay không có ai biết hết, giao như vậy sao được. Cô ăn ở với anh Đường cô cũng có con vậy. Con của cô giống anh Đường ai thấy cũng biết hết. Lại mẹ con cô về ở trong nhà đã ba bốn năm nay rồi. Cô cũng phải tranh cản như tôi, đừng để cho họ ăn uổng.

- Phận em thiệt thà, em có hiểu gì đâu mà dám tranh giành mợ. Bà làm sao tự ý bà. Em không dám nói.

- Sợ gì? Quyền lợi của cô mà cô nói xụi lơ vậy sao được. Có con cô phải lo tương lai cho con cô chớ. Cô hiệp với tôi mà tranh gia tài nầy rồi chị em mình chia với nhau mà hưởng.

- Mợ hai làm sao được mợ làm. Phận em quê dốt em có biết luật lệ gì đâu mà dám tranh gia tài.

- Cô không biết thì có tôi biết. Tôi bày biểu cho, cô đừng sợ. Nếu má tôi làm ngang để hết sự nghiệp cho mẹ con cô Hưởng ăn thì mình mướn Trạng sư làm đơn mà kiện tới tòa.

- Cha chả mợ hai bày cho em thưa kiện thì mích lòng bà lắm. Cái đó chắc em không dám rồi.

- Ở đời phải tranh đấu mới sống được. Cô thiệt thà thì tôi chỉ biểu giùm cho. Có tôi cầm đầu thì cô còn lo gì nữa. Phải tranh cản gia tài nầy đặng tôi với cô chia nhau mà hưởng mới phải. Bây giờ má tôi chưa về, thì chắc có việc gì trục trặc sao đây, nên còn ở trển. Vậy để tôi về tôi hỏi lại, chừng nào về thì tôi sẽ xuống nữa.

- Mợ hai ở cho tôi dọn cơm ăn rồi hãy về, chắc cơm cũng gần chín rồi.

- Thôi cảm ơn. Hồi sớm mơi ăn đồ no rồi tôi mới đi đây. Tôi chưa đói. Cô nhớ nghe hôn. Hễ tôi xuống tôi mở chuyện gia tài ra mà nói đặng tranh cản, thì cô tiếp vô. Hai chị em mình hiệp nhau mà tranh mới mạnh.

Cô Thậm cười. Cô Oanh từ giã ôm bóp mà đi.

Cô Thậm lơ lãng không biết có nên nghe lời cô Oanh hay không. Ăn cơm rồi cô muốn đi về Mồng Gà mà hỏi cha. Ngặt cô sợ ra đi rồi bà Xã về, bà không thấy cô bà trách sao bà có dặn mà cô dám bỏ nhà mà đi.

May xế có ông Hương nghị Thiệt đi chợ mua đồ, luôn dịp ông qua thăm bà chủ điền và thăm con cháu của ông. Cô Thậm mừng cha, cô nói cho cha hay bà chủ điền đi Saigon đặng rước dâu với đứa cháu nội trai mới tìm được. Cô cũng nói việc cô Oanh xuống tranh gia tài và xúi cô Thậm cũng phải tranh như cô, hai chị em hiệp nhau mà giành rồi chia nhau mà hưởng chớ đừng nhịn thua chịu hẹp để cho mẹ con cô Hưởng ăn hết uổng lắm.

Ông Hương nghị Thiệt ngồi nghe con tỉ mỉ thuật đủ mọi điều rồi ông mới nói:

- Mợ hai muốn làm giống gì tự ý mợ. Con đừng có dại nghe lời mợ xúi con nói bậy bạ mà mích lòng bà chủ điền. Bà hiền lành nhơn đức, bà đãi mình tử tế quá còn gì nữa. Con nghĩ mà coi, cậu Hai có vợ nhà, nhưng vì cậu yêu con, nên cậu xáp với con, lỡ sanh con Cát, vì tánh mợ Hai khó, sợ đem mẹ con con về ở chung sanh rầy rà trong nhà, nên cậu để ở dưới nầy cho êm. Nhưng hơn mười năm cậu châu cắp cho mẹ con con ấm no lành lẽ luôn luôn, chớ có bỏ bê gì đâu. Rủi cậu mất đi, không hiểu cậu có trối trăn gì với bà già cậu hay không. Nhưng cách ít tháng bà xuống chơi, tuy bà không hỏi gốc tích con Cát, bà không nói bà nhìn nó là cháu nội, song bà rước hết mẹ con con về bà nuôi, cho ăn một mâm, cho ngủ như con cháu trong nhà, mua bông tai cho con đeo, cho mặc đồ hàng lụa luôn luôn, lại sắm vàng cho con Cát nữa. Mấy năm nay mẹ con con sung sướng như chủ nhà, muốn thứ gì cũng có hết. Còn về phần cha thì bà bớt lúa ruộng đỡ cho cha lung lắm. Bà ở với mình tử tế như vậy, mình nỡ nào mở miệng mà nói gì được con. Bà chủ điền biết điều lắm. Con với con Cát cứ trung thành tận lực mà phục sự cho bà thì bà không quên công ơn đâu mà lo. Còn đừng có nghe lời mợ hai. Mợ nói mai mợ xuống nữa hay sao?

Cô Thậm nói:

- Dạ, hồi sớm mơi mợ về, mợ nói mai mợ trở xuống cho gặp bà đặng mợ tranh gia tài. Mà về trển mợ hỏi coi như ngày nay bà về thì buổi chiều mợ trở xuống.

- Nếu vậy thì cha ở chơi, nếu chiều nay mợ có trở xuống thì cha cắt nghĩa phải quấy cho mợ nghe. Như mợ không xuống thì chiều tối cha về, sáng mai cha trở lên mà đón mợ nữa. Lúa chưa chín nên lúc nầy ở nhà thì nằm co, chớ không có công việc gì mà làm. Mợ nói chuyện gia tài với bà chủ điền phải có cha ở đó đặng nếu mợ có kèm con vô thì cha cãi với mợ, chớ để con nói bậy hoặc con làm thinh, bà chủ điền tưởng con a ý với mợ, bà giận luôn tới con thì hại lắm.

Ông Hương nghị Thiệt ở chơi tới chiều mà không có bà Xã về, lại cũng không thấy cô Oanh xuống. Cô Thậm dọn cơm cho ông ăn rồi ông về, nói sáng mai ông lên nữa.

Hạnh Phúc Lối Nào

9. PHÂN GIẢI CAO THẤP

Trong lúc cô Oanh hăm hở đi xuống nhà bà mẹ chồng cũ quyết tranh gia tài với cô Hưởng, là tình địch năm xưa đã bị cô sỉ mạ giữa chợ Cần Giuộc, nên xấu hổ phải bỏ xứ trốn đi mất, té ra cô không gặp bà Xã Cầm hay là mẹ con cô Hưởng, mà lại gặp cô Thậm, cũng là một tình địch khác, nhưng tình địch thiệt thà hèn hạ, không dám ăn thua, bởi vậy cô dụ dỗ hiệp hòa kết phe, đặng thêm sức mà đánh bại phe nghịch, mặc dầu có bà Xã cầm cán nên mạnh mẻ.

Lúc ấy trên Đất Hộ ông Đốc Thắng kêu xe lô đi lại tiệm may Tân Hưng mà rước bà Xã với cô Hưởng đi Chí Hòa.

Bà Xã với cô Hưởng chưa biết nhau nên mới gặp nhau tự nhiên ái ngại phải dè dặt. Gần nhau được một ngày rồi, lòng thành thiệt của mẹ chồng với tình dan díu của nàng dâu gây ra mối thiện cảm buột chặt cả đôi bên. Trót một đêm hai mẹ con ngồi đối diện mà bày tỏ nỗi lòng cùng nhau, bà Xã thì kể nỗi đau khổ của Đường từ khi cưới vợ đem về mới ăn ở với nhau được ít tháng, đau khổ kéo dài hơn mười lăm năm, mà vì chữ hiếu, con sợ bà buồn con không dám nói ra, bởi vậy bà không hay gì hết. Đến chừng nghe đọc lời trối của con để lại thì bà ăn năn hối hận vô cùng. Bà nhận tội bà ung đúc tâm hồn cho con lỗi thời, bà giáo dục cho con noi theo hiếu đạo một cách mù quáng. Bởi vậy hạnh phúc của con đã lấp ló ngoài sân mà bà không hay đặng mở cửa tiếp rước, để cho hạnh phúc đi vuột còn đau khổ cứ lẩn quẩn ở trong nhà, cắt ruột xoi tim đến con bà phải chết.

Bà Xã kể chuyện mà bà tức tưởi bà khóc làm cho cô Hưởng xúc động cô cũng khóc theo.

Còn cô Hưởng thì cô kể chuyện của cô vì cô cảm nỗi khổ tâm Đường mà cô yêu Đường, chớ không phải cô tính giựt chồng của cô Oanh. Chừng lỡ có thai nghén rồi cô ăn năn hết sức. Cô phải đè nén tình yêu mà xa lánh Đường, đặng chữ hiếu của Đường được vẹn toàn, gia đạo của Đường được êm ấm. Phải gởi bước phiêu lưu để vùi lấp trong chốn non cao rừng rậm tình yêu tuyệt vọng với tấm thân hư hèn, cô không thể đem đứa con còn bú theo được, vậy cô phải ký thác cho người bà con nuôi giùm. Vì cô biết vợ của Đường không phải là hiền phụ, rất đỗi không biết thương chồng thì có lý nào mà thương con riêng của chồng, tại vậy nên cô không dám giao cho ai, sợ Đường đem con về nhà thành ra như gởi chứng cho ác. Năm nay cô mới trở về Saigon được thì người lãnh nuôi con đã chết mất, đứa con thơ xiêu lạc không biết đi đâu. Cô dọ hỏi kiếm tìm trót mấy tháng, may Phật Trời giúp nên cô mới gặp được trong chùa lo tu niệm an thân, khỏi hoang đàng vất vả. Nhưng gặp con mà con lơ lãng, không có tình nghĩa mẹ con, làm cho cô tức tưởi vô cùng, tức vì cô không biết tranh đấu để giúp xây hạnh phúc cho Đường, tủi vì sanh con mà không nuôi dạy được con nên con không có tình nghĩa mẹ con.

Cô Hưởng ăn năn cô khóc, bà Xã cũng khóc nữa. Mẹ con trò chuyện đến khuya cô Hưởng mới giủ mùng cho mẹ chồng ngủ.

Bà Xã không chịu để cô Hưởng ngủ riêng, bà ép buộc cô phải ngủ chung một giường với bà, rồi mẹ con còn rù rì nói chuyện hoài, nói cho đến khuya mòn mỏi quá mới chịu nín mà ngủ.

Đến sáng cô Hưởng lo mua đồ dọn ăn lót lòng rồi mẹ con mới thay áo quần chờ ông Đốc Thắng lại mà đi với nhau.

Nhờ ông Yết Ma có chỉ giùm nhà bà chủ chùa nên cô Hưởng nói lại cho anh sớp phơ lên tới chợ Chí Hòa anh chạy luôn qua khỏi cái nhà lầu bên tay trái, tới cái biệt thự kế đó anh ngừng. Thấy có người đi ngang qua xe cô Hưởng hỏi phải nhà nầy là nhà của ông Xếp Bình chủ chùa Nhơn Hòa hay không. Người ta nói phải. Ông Đốc Thắng liền mở cửa xe bước ra với hai bà rồi cùng nhau đi vô cửa rào.

Cô Bạch chủ chùa, đã có gặp cô Hưởng tại chùa, bữa Hưởng vô kiếm con tên Càn lầ đầu, hai cô có nói chuyện với nhau nên biết nhau rồi. Cô Bạch thấy cô Hưởng bước vô thì cô chào mừng. Cô Hưởng giới thiệu bà Xã với ông Đốc. Cô Bạch liền mời khách ngồi.

Cô Hưởng mới kể sơ cho bà chủ chùa nghe chuyện bà Xã góa chồng hồi 26 tuổi có một đứa con trai Đường mới 3 tuổi, bà thủ tiết nuôi con đặng ngày sau nó kế nghiệp cho cha và phụng tự ông bà. Chừng con lớn bà lo vợ cho con đặng mau có cháu nội. Rủi cô dâu không chửa đẻ, mà lại tánh tình không tốt, cứ làm buồn cho chồng. Vì chữ hiếu ràng buộc, con bà không dám cho bà hay, nhưng thất vọng chán nãn mới gây cảm tình với cô Hưởng. Đường với Hưởng mới núp lén gần nhau sanh được một đứa con trai là huynh Huệ Minh đương tu trong chùa, Hưởng vì danh giá nên cậy người ta nuôi con giùm đặng cô bỏ xứ mà đi xa, còn Đường vì chữ hiếu nên không dám cho mẹ hay việc mình tư tình có con, cứ dọ kiếm đứa con ấy trót 15 năm mà tìm không ra. Cách 4 năm nay Đường chết có viết thơ để lại cho mẹ mà trối việc nầy, nhưng đến bây giờ bà Xã mới gặp được thơ mà đi tìm Hưởng. Nhờ Hưởng chỉ dẫn nên bà mới vô chùa mà nhìn cháu nội huynh Huệ Minh và năn nỉ xin cháu về ở với bà mà tu niệm đặng cai quản sự nghiệp và thờ phụng ông bà thế cho bà đã già rồi. Huynh Huệ Minh cứ nói hiến thân cho nhà phật, không biết việc thế gian nữa nên không chịu về. Vì vậy nên bà Xã với cô Hưởng đến đây cậy bà chủ chà làm ơn tiến dẫn giùm với cô Diệu Nga, đặng hai mẹ con yêu cầu cô Diệu Nga, người ta đồn cô là Bồ tát giáng sanh để cứu nhơn độ thế, yêu cầu cô nói giùm cho Huệ Minh chịu về ở nhà mà tu, cho trọn lời nguyện ước với Phật, mà cũng khỏi bất hiếu với ông bà cha mẹ.

Cô Bạch sẵn lòng chịu đi nói giùm. Cô mới bận áo ra xe đi với khách vô am Nhơn Hòa.

Chánh giờ nầy là giờ cô Diệu Nga tiếp khách mà lại may bữa nay không có người khách nào hết. Cô Diệu Nga mặc áo hàng màu dà, đội mũ ni màu đen, đương ngồi tại phòng khách mà xem kinh A Di Đà của bổn đạo mới mướn in mà hiến cho thiện nam tính nữ.

Cô Bạch vô trước cho hay có khách xa muốn xin yết kiến đặng bày tỏ việc nhà. Cô Diệu Nga xin mời giùm vô. Cô Bạch ra mời. Khách bước vô. Cô Diệu Nga ngồi chấp tay cúi đầu chào khách.

Bà Xã cũng như cô Hưởng thấy cô Diệu Nga gương mặt từ bi sáng rỡ, tướng mạo như Bồ tát hạ trần, thì kính nể hết sức, nên chấp tay mà bái. Ông Đốc Thắng cũng làm như vậy.

Cô Bạch mời khách ngồi. Ông Đốc Thắng kéo ghế ra dựa vách tường mà ngồi riêng, để cho mấy bà ngồi tại bàn mà nói chuyện.

Cô Bạch khởi nói trước:

- Bà cụ là bà nội của Huệ Minh, còn cô đây là mẹ của huynh. Mẹ huynh sanh rồi mẹ con xiêu lạc, cha huynh tìm không ra. Cha huynh mới chết mấy năm nay. Bà cụ sống một mình không có con cháu gì hết. Bà mẹ tìm hết sức mới gặp được huynh ở đây, mừng xin huynh về thì huynh lơ lãng nói đã tu niệm yên rồi, huynh không muốn biết việc trần tục nữa. Bà nội phải năn nỉ yêu cầu huynh dầu muốn tu đặng ung đúc đạo tâm thì về ở nhà mà tu đặng cai quản sự nghiệp và thờ phụng tổ tiên ông bà luôn thể, chớ bà cụ đã già rồi, không còn sống bao lâu nữa mà lo việc đó, huynh cứ dụ dự việc đó không chịu về, nên bà cụ và cô đây muốn yêu cầu cô, là người lo cứu nhơn độ thế, cô làm phước nói giùm với huynh Huệ Minh về tu tại gia đặng vẹn lời ước nguyện với Phật mà cũng khỏi mang chữ "bất hiếu" cho bà cụ hết buồn, lúc gần đất xa trời nầy.

Bà Xã khóc mà năn nỉ, yêu cầu cô Diệu Nga can thiệp giùm cho bà cháu sum hiệp một nhà và gia đình bà khỏi tuyệt tộc.

Cô Diệu Nga chấp tay nói:

- Mô Phật! Té ra cô đây là thân mẫu, còn bà cụ là nội tổ của huynh Huệ Minh. Việc nầy bần đạo đã biết rồi. Hồi hôm huynh Huệ Minh có vô am mà viếng bần đạo, tỏ nguồn gốc của huynh cho bần đạo nghe, rồi có trình mấy trương di bút của ông thân sanh nữa. Bần đạo nghe và đọc rồi, bần đạo cảm thấy việc nhà của bà cụ là một thiên gia đình sử có thể vui tươi, mà lại biến thành bi thảm, điều đó thiệt đáng tiếc, mà cũng đáng thương. Nhưng có vài điểm mờ ám, khó hiểu. Vậy bần đạo xin phép hỏi vài câu cho rõ. Khi bà cụ đi cưới vợ cho con, bà cụ có biết con yêu cô gái đó hay không?

Bà Xã vội đáp:

- Thưa, con tôi từ nhỏ cho tới chừng đó nó cứ lo ăn học chớ không chịu để ý đến con gái nào hết. Vì phẩm chất nó không được mạnh nên 20 tuổi tôi lo vợ cho nó, mong có con cho sớm, phòng khi phong vân bất trắc sẵn có trẻ nối dòng. Tôi có hỏi nó có yêu ai không thì tôi dọ tánh tình rồi tôi cưới cho nó, bất luận giàu hay nghèo. Nó nói nó không có cảm tình với cô nào hết. Ở gần không có chỗ nào xứng đôi vừa lứa với nó nên tôi phải làm sui xa. Tôi cũng lựa con nhà hiền đức tử tế mà cưới.

- Trước khi cưới bà cụ có biết tánh nết con dâu hạp với tánh nết con bà cụ hay không?

- Vì ở xa nên thấy tướng maọ vậy thôi, hỏi dọ thì người ta nói tử tế, chớ thiệt có biết rõ tánh nết được đâu. Cưới về ở được mười mấy năm tôi thấy vợ chồng nó cũng không có nghịch với nhau cho lắm. Chừng con tôi chết, tôi mượn đọc di ngôn của nó tôi mới tá hỏa, hay con tôi vì chữ hiếu nên phải buồn rầu mà chết, thiệt tôi hối hận vô cùng. Lỗi tại dạy con không đúng nên nó mới bị hại.

Bà Xã nói tới đây thì nước mắt tuôn dầm dề.

Cô Diệu Nga day qua hỏi cô Hưởng :

- Còn cô kết tình với con bà cụ có thai nghén rồi sao cô trốn tránh, không cho người yêu gặp mặt nữa? Cô có phiền về việc chi hay sao?

- Thưa, không. Hồi đó vì yêu anh Đường nên tôi phải lìa ảnh chớ đâu có phiền. Tôi biết ảnh ở với mẹ chí hiếu mà vợ ảnh là một ác phụ. Nếu tôi để cho ảnh lân la với tôi hoài thì gia đạo ảnh sẽ xào xáo và thân mẫu ảnh sẽ u phiền thành ra ảnh lỗi với mẹ. Tại vậy nên tôi phải bỏ xứ mà đi tìm chốn rừng núi, trước chôn thân danh nhơ nhuốc của tôi, sau cứu đạo hiếu của anh Đường cho toàn vẹn.

- Cô yêu cậu Đường sao khi ra đi cô không giao đứa con cho cậu nuôi, mà cô lại bỏ rơi cho nó nhập đoàn với trẻ mồ côi hoang đàng?

- Sợ giao con cho anh Đường, người ác phụ sẽ giết nó chết nên tôi cậy một người bà con làm nữ giáo viên như tôi nuôi giùm mà dạy nó học. Rủi người ấy chết, con tôi mới xiêu lạc bơ vơ. Năm nay trở về đây tôi hay anh Đường vì tôi mà ảnh đau khổ đến chết, còn con tôi tuy tôi tìm được, nhưng nó lơ lãng không có tình mẹ con thì tôi ăn năn không biết chừng nào. Lỗi tại tôi mà ra.

Cô Hưởng nói tới đây rồi cũng khóc.

Cô Diệu Nga trầm ngâm một chút rồi cô nói:

- Bây giờ bần đạo thấy tỏ rõ rồi, không còn chỗ nào mờ ám nữa. Vậy bần đạo xin phép phân hắc bạch cho bà cụ với cô nghe. Trong tờ di ngôn cậu Đường không phiền ai, cậu nhận hết tội lỗi về phần cậu. Bà cụ nói chuyện hồi nãy bà giành lỗi về phần bà. Bây giờ cô còn nói các tai hại đều do lỗi của cô gây ra. Theo bần đạo thấy cả ba người đều không có lỗi gì hết. Lỗi tại thời đại, chớ không phải tại ba người. Ba người đều có giáo dục thanh cao, thuần túy, người biết nâng cao tiết hạnh, người biết giữ tròn hiếu nghĩa, người dám hy sinh tình yêu, hy sinh vui sướng đặng trọn với người yêu. Tiếc vì gặp đời hỗn độn việc gì cũng đảo ngược, bởi vậy những đức cao quí ấy hoá ra lỗi thời, hoá ra không được thưởng mà dường như lại bị phạt. Tuy vậy mà bần đạo khuyên mấy bà con đừng thối chí. Trời phật vẫn còn hoài, bỉ cực thới lai. Tai họa là mầm nẩy sanh hạnh phúc. Nếu cần phải phân phải quấy, thì bần đạo nói ngay ra, có một người quấy mà thôi. Người có tội lỗi là người vợ của cậu Đường. Người đó chưa biết giáo dục nào hết. Người đó không biết nghĩa nhơn hiếu thuận của Nho giáo mà cũng không biết bác ái từ bi của Phật giáo. Người đó là trụ cốt hạnh phúc gia đình của bà cụ, rủi không lựa kỹ nên lầm dùng trụ cốt mục bở, bởi vậy hạnh phúc mới sụp đổ, chớ chi người vợ của cậu Đường có đạo đức hay là biết nghĩa nhơn, thì biết về làm dâu nhà bà cụ tự nhiên hiểu nhà chồng cần phải có con cháu để nối nghiệp và phụng tự tổ tiên. Đã mấy năm mình không thể giúp cho nhà chồng thỏa mãn nhu cầu cần thiết đó được, lại hay chồng tư tình với người khác đã có thai nghén. Mình bình tĩnh bước ra chính thức yêu cầu bà mẹ chồng rước người chồng yêu đem về làm thứ nhứt cho chồng, sau người ấy sanh con thì mình nuôi, không sanh nhưng có dưỡng đạo đồng mình không mất cái địa vị "má lớn". Về sau mình sanh thêm con nữa thì càng hay. Trời phật sẽ thưởng cái đức lớn của mình nên chắc sẽ cho mình có con; mà mặc dầu sanh sau con mình cũng thuộc con dòng lớn. Ví dầu mình không có con đi nữa, cũng không hại gì. Trong nhà biết lễ nghĩa, tự nhiên mình được mẹ chồng yêu quí, được anh chồng chìu chuộng, được người thứ nhứt kính nhường. Chừng mẹ chồng trăm tuổi già, mình đứng vai chủ phụ theo tang lễ. Sau rủi chồng có qua đời sớm thì mình là đích mẫu, mình thay mà phụng tự tổ tiên, quản suất sự nghiệp, cũng như mẹ chồng hồi trước vậy. Mãn đời mình rồi, mình truyền cái nhiệm vụ lại cho vợ thứ, đặng người noi theo dấu trước hiệp cùng các con mà duy trì lễ giáo gia phong, tốt biết chừng nào. Tại người vợ của cậu Đường không có giáo dục, thiếu cả nghĩa nhơn đạo đức, nên làm hư hỏng hết, nàng đã không được danh hiền phụ mà còn mang tiếng ác phụ với đời. Ấy vậy lỗi tại nàng đó chớ tại ai đâu.

Bà Xã ngó cô Hưởng rồi ngó ông Đốc, lộ sắc ngạc nhiên như người say vừa mới tỉnh. Bà nhỏ nhẹ nói:

- Tôi rất cảm ơn mấy lời sáng suốt của cô vừa dạy bảo. Cô nói mẹ con tôi không có lỗi. Vậy cúi xin cô làm phước nói giùm với cháu nội tôi nó về ở nhà tôi mà tu niệm đặng phượng thờ và nối nghiệp tổ tiên luôn thể. Người ta đều nói cô tu đắc đạo nên thành Bồ tát mà cứu nhơn độ thế. Cúi xin cô cứu giùm nhà tôi cho khỏi tuyệt tộc mà bỏ mồ hoang lửa lạnh tội nghiệp cho tiên nhơn. Cháu nội tôi nó về nó muốn sao tôi cũng chịu hết. Nó muốn đặt bàn thờ Phật trong nhà cho nó tu niệm, tôi sẽ làm liền. Nó muốn tôi tu với nó tôi cũng chịu. Sau nó muốn cất chùa để cảm hoá người trong làng trong xóm tôi cũng sẵn lòng nữa. Miễn nó chịu về đặng duy trì gia đình, phụng tự ông bà và nối nghiệp tông tộc, thì nó muốn làm sao tôi cũng chịu hết.

- Bà cụ thuở nay sống trong khuôn khổ nho giáo, mà cũng có cơ cảm với nhà Phật như vậy thì quí lắm. Bần đạo chắc Phật sẽ độ mà đem hạnh phúc lại cho nhà bà. Xin bà đừng thối chí. Sớm mơi nầy bà cụ vô đây, vậy bà cụ đã có gặp huynh Huệ Minh hay chưa?

- Thưa, chưa. Tôi đi thẳng vô đây.

- Hồi hôm nói chuyện với huynh Huệ Minh, bần đạo có chỉ đường lối sáng suốt cho huynh biết rồi. Vậy lát nữa bà cụ ra chùa gặp huynh, có lẽ huynh sẽ trả lời cho bà cụ.

Cô Hưởng nói:

- Mẹ con tôi rất cám ơn cô. Lời cô giảng dạy đích đáng quá, hèn chi thiên hạ đồn cô là Bồ Tát giáng trần đặng cứu nhơn độ thế thiệt trúng lắm.

- Bần đạo thành tâm tu niệm, chớ có phải Phật hay Bồ Tát gì đâu. Bần đạo mong cứu người đau khổ theo sức bần đạo, được bao nhiêu cũng tốt.

Cô Diệu Nga không muốn người ta nói tới chuyện của cô nên cô đứng dậy chấp tay nói :

- Nam mô.

Cô Bạch hiểu ý nên cô cũng đứng dậy nói:

- Đã hết giờ tiếp khách, tới giờ tưởng niệm rồi. Vậy bà con mình ra để cho cô đi niệm Phật.

Mỗi người khách đều lại đứng giữa chấp tay xá cô Diệu Nga rồi lui ra cửa. Cô cũng cúi đầu xá mà đáp lễ với mỗi người, rồi mở cửa đi qua phòng thờ phật Quan âm.

Cô Bạch dắt ba người khách đi ra chà, để xe lô rề chạy theo sau. Cô nói:

- Theo lời cô Diệu Nga nói hồi nãy, thì chắc huynh Huệ Minh chịu về ở với bà nội rồi. Để ra hỏi huynh lại cho chắc.

Ông Đốc Thắng nói:

- Mấy năm nay tôi nghe đồn chùa Nhơn Hòa có Bồ tát hoá thân đặng cứu nhơn độ thế, thiệt tôi không tin. Bây giờ tôi mới thấy tận mắt cô Diệu Nga chẳng những điệu bộ từ bi như phật bà, mà lời nào cô nói ra cũng đúng đắn, thẳng ngay, mực thước, ai nghe cũng phải kính phục hết. Cô bắt tội cô Oanh thiệt tôi phục sát đất.

Bà Xã Cầm nói:

- Lên đây tôi thấy chùa am thanh tịnh, được nghe lời đạo đức rõ rằng, tôi cảm quá, hèn chi cháu nội tôi nó mê, nó không muốn biết việc thế gian nữa, nghĩ cũng phải. Tôi già rồi tôi còn mê thay, huống chi là nó. Nó chịu về ở với tôi mà tu niệm chắc tôi cũng tu như nó.

Ra tới chùa gặp sư Huệ Tiên ngoài cửa, cô Bạch hỏi huynh Huệ Minh làm gì ở đâu. Sư Huệ Tiên nói Huệ Minh đương nói chuyện với ông Yết Ma bên tịnh trai. Cô Bạch dắt khách đi luôn qua đó, thiệt quả Huệ Minh đương nói chuyện với ông Yết Ma.

Thấy khách bước vô, ông Yết Ma vui vẻ chào mừng, ông mời ngồi và nói:

- Huynh Huệ Minh mới xin phép tôi đặng về ở với bà cụ mà tu tại gia và phụng tự ông bà cho bà cụ yên lòng. Tôi đương dặn dò và chỉ cách thức cho huynh cảm hoá thiện nam tín nữ trong vùng Cần Giuộc đây. Huynh tu như vậy cũng được công quả không nhỏ.

Bà Xã nghe nói cháu nội chịu về ở với bà thì bà mừng nên bước lại nắm tay cháu mà nói:

- Con biết thương nội thương mẹ như vậy mới phải chớ. Con về ở với nội thì nội dọn chỗ thờ Phật cho con tu niệm. Nội cũng tu với con. Cô Diệu Nga mới nói với nội đây. Phật giáo và Nho giáo không có nghịch với nhau đâu, trái lại cần phải đi đôi với nhau mới có ích. Nội mứng lắm con à.

Cô Hưởng hỏi con:

- Con tính chừng nào đi? Đi về sớm cho nội con vui. Đi liền bữa nay được hay không con?"

Thấy Huệ Minh dụ dự ông Yết Ma mới nói:

- Tôi xin bà cụ ở chơi tới sáng mai sẽ rước cháu. Nên để cho huynh Huệ Minh thu xếp áo quần và kinh kệ, mà cũng để cho tôi giảng dạy thêm phép tu đạo tại gia cho huynh hiểu.

Cô Hưởng giành nói:

- Thưa, ở chờ tới sáng cũng được. Vậy mai lối bảy tám giờ tôi với má tôi sẽ đem xe vô rước đi.

Cô Bạch nói:

- Mai tốt ngày vì trong xóm tôi có đám cưới.

Huynh Huệ Minh mới nói:

- Con chịu về ở với nội, nhưng con xin nói hai điều nầy là con đặt bàn thờ Phật trong nhà đặng ban đêm con tưởng niệm và mấy rầm lớn với mấy vía phải cho con trở về chùa đặng con cúng phật.

Bà Xã vội vã nói:

- Được mà. Con muốn gì cũng được hết. Khi nào con trở lên chùa nội sẽ đi theo con lên đặng nội lạy phật. Thiệt tôi cám ơn ông Yết Ma với bà chủ chùa quá.

Bà lấy ra 200 đồng bạc để trên bàn mà nói tiếp:

- Sẵn đây tôi xin phép hiến vài trăm để mua nhang đèn cúng phật trong chùa và trong am. Tôi xin ông Yết Ma với bà chủ chùa nhậm lễ mọn của tôi.

Cô Bạch cám ơn. Ba người mới từ giã ra xe mà về, hẹn sáng bữa sau vô rước Huệ Minh. Bà Xã với cô Hưởng thì vui vẻ mừng rước được Càn. Ông Đốc thì khen cô Diệu Nga phân giải phải quấy rất đúng đắn.

Bà Xã nói Càn ở chùa chắc không có đồ thường mà bận. Bà mướn xe chạy xuống chợ Bến Thành đặng bà mua một vóc hàng đen, mười thước hàng trắng với mười thước vải đen đem về Cần Giuộc mướn thợ may cho Càn một cái áo dài để bận khi cúng ông bà và may đồ mát để bận thường ở trong nhà, chớ áo của thầy tu thì ban đêm bận cúng phật mà thôi, còn ban ngày hay chừng đi ngủ thì bận đồ mát cho tiện.

Cô Hưởng biểu sớp phơ chạy luôn xuống chợ Saigon. Cô mời ông Đốc xuống đó rồi vô nhà hàng ăn cơm đặng khỏi thất công về nhà làm rộn. Ông Đốc nói, ông không có dặn trước ở nhà, ông sợ con ông chờ đợi. Ông xin xuống đó để ông kêu xích lô ông về trước, giao xe hơi cho hai mẹ con ăn cơm và mua đồ rồi về sau. Bà Xã biểu ông ngồi luôn trên xe hơi mà về Đất Hộ và dặn sớp phơ sáng mai đem xe lại cho bà, bà còn qua rước Càn đi về Cần Giuộc. Bà đưa thêm cho ông Đốc 500 biểu cất đặng trả tiền xe.

Ông Đốc nói còn tiền nhiều nên ông không chịu lấy. Ông lại nói cô Giáo Đào cậy mời bà Xã với cô Hưởng chiều lại nhà ăn cơm với cô một bữa, vì cô là thầy cũ cách nhau mười mấy năm nay, còn bà không mấy khi lên Saigon, nên hai mẹ con phải ăn cơm đặng nói chuyện chơi, không được từ chối. Bà Xã với cô Hưởng chịu. Xuống tới Saigon bà Xã biểu ông Đốc đi xe hơi mà về luôn, để mẹ con bà đi mua hàng vải và kiếm chỗ ăn cơm rồi đi xích lô mà về.

Bữa cơm tối ăn tại nhà cô giáo Đào thì chủ khách đều vui vẻ, nhứt là bà Xã Cầm vui hết sức, bà cứ nói từ rày sắp lên bà hết lo về tương lai; mà Phật đã phân giải tại ai chớ không phải tại mấy mẹ con bà, bởi vậy bà được an ủi nhiều, bà bớt ăn năn về dĩ vãng.

Chừng mẹ con bà Xã từ giã về, ông Đốc dặn cô Hưởng sửa soạn áo quần cho sẵn đặng sáng mai ông đem xe lại đi sớm mà qua chùa rước Càn rồi chạy luôn về Cần Giuộc. Hai bữa rồi cô Hưởng thấy mẹ chồng tánh tình giãn dị, hiền lành, khoan hồng, thân ái, thì cô cảm phục hết sức, bởi vậy về tới nhà cô cho vợ chồng cô Thịnh hay, sáng mai cô đi Cần Giuộc ở chơi với con và mẹ chồng ít ngày, rồi cô sốt sắng xếp áo quần để vào valy sẵn sàng. Khuya cô dậy sớm mượn người nấu ăn đi mua đồ về lót lòng với mẹ chồng. Chừng ông Đốc Thắng đem xe hơi lại thì mẹ con từ giã chủ tiệm may rồi xách đồ ra xe mà đi liền

Hạnh Phúc Lối Nào

10. ÁC PHỤ HOÀN CỐT

Bên chùa thì Càn cũng sửa soạn sẵn rồi hết, kinh của huynh thì gói riêng một gói, còn quần áo một gói riêng. Bà chủ chùa cũng đã vô rồi, chực đưa huynh Huệ Minh hồi tục cho tròn hiếu đạo.

Xe qua tới chùa, bà Xã liền hỏi Càn có nhớ đem giấy tờ của bà giao bữa hổm đó về hay không, Càn nói có gói chung với gói kinh rồi. Bà yên lòng nên cám ơn ông Yết Ma với bà chủ chùa một lần nữa rồi từ giã lên xe mà đi với cháu nội có tăng ni tiễn hành đủ hết.

Ông Ba Tào tuổi lớn ít ngủ, bởi vậy bữa nay cũng như thường lệ, gà gáy giữa canh năm thì ông thức dậy nhóm lửa nấu nước uống cho ấm bụng rồi lên võng nằm đưa cót két ở nhà sau, mắt ngó ngọn đèn dầu leo lét trên bộ ván, trí nghĩ gần xa, lòng không lo sợ. Có gì đâu mà phải lo, không làm quấy thì khỏi sợ. Bà chủ nhà đi vắng mấy bữa rồi, ông ở nhà lui cui dọn sân đã sạch sẽ rồi. Hễ lúa ngoài ruộng bắt tay gặt thì ông trí sân, lúa bó đem về có sẵn chỗ mà chất cà lang, có trễ nãi gì mà lật đật.

Nghe tiếng gà gáy báo thức. Ba Tào bước lại mở cửa dòm ra ngoài. Thấy trời đã hừng sáng, ông kêu thằng Cu thức dậy sớm sửa soạn cởi trâu đi cho ăn. Ông đi vòng qua phía trước đứng nhắm cái sân ông dọn dẹp hổm nay, ông hài lòng lung lắm mà thấy quang cảnh trước nhà bây giờ có vẻ vui tươi, đất bằng thẳng khô khan, chớ không phải ướt át bầy lầy như hôm tháng mưa nữa.

Lần lần trời sáng thiệt mặt, thằng Cu đương cầm roi lùa bốn con trâu đi cho ăn cỏ. Cô Thậm mở cửa bước ra đứng ngoài hàng ba. Không đợi kêu, ông Ba Tào bước vô phụ với chị bếp nấu ăn mà mở bét ba giàn cửa cho sáng trong nhà, rồi chị bếp quét gạch ở dưới, ông lo lau bụi ở trên, quét lau đến mặt trời ló lên thì trên dưới trong ngoài đều sạch hết.

Cô Thậm phát tiền chợ cho chị bếp, cô phát bằng hai hôm qua, dặn chị mua thịt cá khá khá, không biết chừng bữa nay có bà về.

Nãy giờ con Cát đi ra sau cho vịt ăn no, rồ mở chuồng thả ra, bầy vịt mừng chớp cánh và chạy và la cạp cạp vang rân, kéo nhau ùm xuống vũng mà lội. Con Cát vô chuồng lượm trứng vịt đựng trong cái rổ nhỏ rồi bưng lên nhà trên khoe với mẹ nó mà nói nhờ chiều hôm qua nó cho vịt ăn đủ nên đêm nay đẻ được 8 trứng. Cô Thậm cười rồi biểu con đem sắp để trong tủ đựng đồ ăn.

Cô Thậm kêu ông Ba Tào mà nói lúc nầy mới gặt một vài đám lúa sớm nên người ta còn ở không. Vậy ông đi trong xóm kiếm mướn vài người về họ bửa phứt cho hết đống củi đặng để giành chụm cho tới ra giêng khỏi lo nữa.

Ông Ba Tào đi rồi, cô biểu con đi lấy cái chổi lông đem cho cô rồi cô quét dọn hết trên mấy bàn thờ sắp đặt chưn đèn, lư đồng, độc bình, để coi cho ngay thẳng sạch sẽ. Cô còn dọn dẹp thì ông Ba Tào dắt về tên Nhiễu với chú Sự, người trong xóm, rồi đi luôn vô phía sau. Một lát nghe có tiếng bửa củi lộp độp.

Chị bếp đi chợ bưng rổ lơn tơn về. Chị khoe với cô Thậm con nước nầy chài lưới trúng nên tôm cá bán nhiều, dễ mua lắm. Cô Thậm nói bữa nay có hai người bửa củi nên phải nấu cơm cho nhiều cho họ ăn.

Ông Hương nghị Thiệt lên tới nữa. Cô Thậm nói cha lên sớm dữ vậy và hối con nấu nước chế một bình trà cho ông ngoại uống. Ông nói ở nhà nằm không thì buồn, bởi vậy sáng thức dậy ông biểu bà nấu cơm sớm cho ông ăn đặng ông thả lên chơi coi bà Xã đi Saigon bà về rồi hay chưa và nếu có mợ hai xuống nữa ông xin mợ đừng có xúi con cháu ông nói tầm bậy mà mích lòng người lớn.

Cô Thậm vừa mới nói, tới bà chưa về, mà cũng không biết chắc bà về hay không thì con Cát đưa tay chỉ ngoài sân mà nói:

- Ý! Có chiếc xe hơi của ai quanh vô bờ đất của mình kìa má.

Ông Hương Nghị với cô Thậm vội vã đi ra cửa đứng ngó. Thiệt quả có một chiếc xe hơi màu đen lừ ngoài cổng lộ chậm chậm chạy vô. Chừng xe quanh vô sân thì con Cát :

- Ý! Bà về má à... có ông Đốc ngồi phía trước đó... còn phía sau có hai người ngồi với bà...ai vậy kìa? Lạ con không biết.

Ông Hương Nghị nói phải bà về, thì xe vô ngừng dưới thềm. Ông Đốc Thắng bước xuống trước. Càn ngồi phía sau mở cửa mà ra tiếp rồi vịn cửa cho bà với mẹ ra. Mẹ con cô Thậm xuống thềm, tính ra xe mà tiếp bà Xã Cầm, lại thấy thầy chùa trai trẻ, mặc áo đen quần trắng, đi chưn không, thì đứng khựng lại mà ngó.

Bà Xã nói vô xe một tay xách cái giỏ, một tay ôm hai ổ bánh mì dài. Cô Thậm bước lại giành xách cái giỏ cho bà. Bà đưa luôn hai ổ bánh mì cho con Cát biểu đem vô nhà.

Mẹ con cô Thậm trở lại thềm. Càn hai tay ôm hai gói, còn cô Hưởng xách cái va ly đứng ngó. Bà Xã biểu mẹ con cô Hưởng vô nhà, bà đi theo sau, để cho ông Đốc Thắng trả tiền xe.

Bà vô tới hàng ba, bà thấy Hương nghị Thiệt chào, bà hỏi ông lên bao giờ. Ông nói ông lên nãy giờ, nhơn rảnh đi chơi ông qua thăm bà. Bà Xã nói:

- Vô đây ông Hương nghị. Vô ngồi chơi. Tôi mới hay có đứa cháu trai, nên hổm nay tôi lên Saigon kiếm rước mẹ con nó về đó.

Ông Hương Nghị đi theo mà nói:

- Vậy thì bà có phước quá.

Ông Đốc Thắng trả tiền xe rồi ông cầm cái gói đồ đi vô sau hết. Xe hơi rồ máy chạy trở ra.

Ông Ba Tào với chị bếp ra mừng bà chủ nhà. Thấy ông Ba Tào bà Xã liền hỏi:

- Ông đương làm việc chi đó?

- Thưa, tôi đương bửa củi. Tôi có kêu thằng Nhiễu với chú Sự lại phụ bửa với tôi, bửa phứt đống củi cho rồi.

- Thôi, nghỉ bửa củi đi. Để mai mốt sẽ bửa, không gấp gì. Ông bận áo đi lại đằng xóm kêu đàn ông đàn bà có rảnh thì lại đây giùm với tôi một bữa. Vì tôi có lời vái với đất nước ông bà giúp tôi tìm được cháu nội thì tôi cúng một con heo. Nay tìm được rước về, thì tôi trả lễ cho rồi, không nên để mắc nợ. Ông đi kêu bà con trong xóm lại phụ bắt con heo lớn làm thịt đặng trưa nầy cúng, rồi chiều đãi bà con. Ông đi liền đi nghe hôn. Còn thằng Nhiễu với Chú Sự thì biểu cũng ở đó mà phụ với người ta, chớ đừng về.

Bà biểu chị bếp nấu nước đặng chế trà cho ông Đốc uống. Bà mời ông Đốc với ông Hương Nghị ngồi. Bà muốn hai ông ở chơi tới chiều rồi sẽ về. Bà nói lát nữa có ai lại bà sẽ sai qua mời bà Đốc qua chơi nữa. Bà nói lăng xăng không dứt.

Bà day lại thấy mẹ con cô Hưởng và cô Thậm để đồ trên ván đứng ngơ ngáo, bà mới chỉ mẹ con cô Thậm mà nói với mẹ con cô Hưởng :

- Đây là Thậm, con của ông Hương Nghị kia, còn con nhỏ đây là con Cát, con của Thậm. Đường nói chuyện mẹ con nó trong tờ di ngôn đó. Má đem về má nuôi ba năm nay. Má thấy con Cát giống cha, má đem về má nuôi, chớ thiệt hồi đó má chưa biết chuyện chi hết. Nhờ lời di ngôn má mới hay mà thôi. Nội nói cho Càn biết, con Cát đây là em của con. Con phải thương nó hay nghe không.

Bà xây qua nói với cô Thậm :

- Cậu đây là cháu trai của bà với má nó đó. Để chiều có làng xóm bà nói hoạch lẹt ra cho người ta biết rồi bà sẽ sắp đặt việc nhà lại. Con Cát phải nhìn Càn đây là anh. Phải kính phải thương anh vì thuở nay nó vất vả tội nghiệp lắm. Thôi, Thậm, con đem đồ đạc của mẹ con Càn mà để trong buồng của bà. Con kính mẹ của Càn là chị của con và dắt vô phòng của bà quét giường chiếu sạch sẽ rồi chị em ngồi nói chuyện với nhau chơi.

Cô Thậm bước lại xách va ly của cô Hưởng, cô Hưởng không cho, cô nói để cô xách. Cô Thậm mới lấy hai cái gói đồ của Càn mà ôm rồi cô đi trước, cô Hưởng theo sau, hai chị em đi vô phòng của bà Xã.

Ông Đốc Thắng thấy Càn bợ ngợ bước ra cửa, ông ra nắm tay kéo trở vô, ép ngồi chung một bàn uống nước nói chuyện chơi với ông và ông Hương Nghị Thiệt.

Bà Xã kêu Cát biểu soạn đồ trong giỏ bà ra, lấy gói áo của bà đem cất trong tủ, còn bánh trái với bánh mì của cô Hưởng mua hồi sớm mơi thì đem vô trong lấy dĩa bàn mà sắp để trưa cúng. Bà ngồi lại bàn uống nước với khách và nói chuyện với Càn cho Càn vui.

Lối xóm người ta nhờ có ông Ba Tào đi kêu nói, nên họ hay họ rải rác tới mừng cho bà Xã. Bà cám ơn mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà. Bà chỉ Càn mà nói, bà mới tìm được cháu nội, con của Đường, mà rước mẹ con nó về đó. Vì có lời khấn vái với ông bà nên bà phải vật một con heo mà cúng trả lễ. Vậy bà con chòm xóm vui lòng xúm lại giúp bà ai thạo nghề nào thì làm nghề đó, người thọc huyết cạo heo, kẻ ra đáy mua tôm, người ra chợ mua rượu, mua rau sống, mua mắm nêm, mua đồ nấu, kẻ phụ trong bếp mà nấu nướng đặng trưa xế cho bà cúng rồi ăn uống chơi với bà một bữa.

Bà Xã kêu cô Thậm đương dắt cô Hưởng đi viếng bàn thờ của Đường. Thậm với Hưởng trở lại, bà móc túi lấy gói bạc ra đưa cho Thậm mà nói:

- Con cất gói bạc đây đặng ai lãnh đi chợ mua đồ thì phát cho người ta đi, đưa ít chục cho người ta qua xóm chài lưới và đáy góp mua tôm cá, nước đã ròng sát, chắc có cá tôm rồi. Con mượn một người qua mời bà Đốc qua chơi, nói bà với ông Đốc đã về tới rồi. Con biểu con bếp lo nấu cơm cho bà với bà con ăn sơ buổi sáng mơi nầy chớ đợi cúng rồi mới ăn thì đói chịu sao nổi.

Thậm lãnh gói bạc rồi mời cô Hưởng với bà con trong xóm đi xuống nhà sau mà phân phát công việc.

Ông Ba Tào già mà nhậm lẹ, ông rảo đi kêu bà con trong xóm, sẵn trớn ông tuốt qua chợ mét cho bà Đốc Thắng hay ông Đốc với bà Xã mướn xe hơi rước cô dâu và cháu nội của bà bà Xã về tới bên nhà rồi. Bây giờ chòm xóm đương tụ lại mừng và vật heo làm thịt mà cúng đặng ăn mừng ở bển.

Bà ông Đốc Thắng hay tin ấy bà mừng quá nên dặn con ở nấu cơm coi nhà, bà đội khăn đi liền qua mừng bà Xã và thăm cô Hưởng đã đi khỏi Cần Giuộc mười mấy năm rồi bà không gặp mặt.

Bà Xã đương ngồi uống trà với ông Đốc và ông Hương Nghị mà nhắc chuyện Đường buồn rầu mà sanh bịnh lại cho Càn nghe, bỗng thấy bà Đốc đi vô sân bà mừng nên vội vã ra cửa tiếp rước. Hai bà hỏi đáp lăng xăng và dắt nhau vô nhà. Bà Xã chỉ Càn cho bà Đốc biết. Càn đứng dậy chấp tay xá bà. Bà Đốc ngó trân trân rồi nói Càn giống cha như đúc.

Hai bà dắt nhau lại ván ngồi ăn trầu. Bà Xã thấy con Cát bưng trầu đem ra, bà biểu nó vô mời cô Hưởng ra cho bà Đốc mừng.

Hưởng với Thậm ở nhà sau đi ra chào bà Đốc. Bà Đốc với cô Hưởng mừng nhau nói lăng xăng. Bà Xã biểu Hưởng ngồi mà nói chuyện. Hưởng bèn ngồi lại góc ván phía cửa sổ, còn Thậm thì đi lo trầu nước.

Trong nhà chủ khách đương nói chuyện vui vẻ với nhau, thình lình bà Xã ngó ra cửa, bà thấy cô Oanh uốn tóc quăn, tay cầm bóp, xăng xớp bước lên thềm. Bà châu mày, xụ mặt mất vui. Cô Oanh vô, cô cúi đầu chào ông Đốc Thắng rồi xâm xâm đi lại đứng ngay trước mặt bà Xã mà hỏi:

- Thưa má, má mạnh giỏi hả má?

Bà Xã không thèm ngó, bà cúi mặt tiêm trầu và hỏi lại:

- Cô là ai mà cô kêu tôi bằng má?

Cô Oanh cười mơn mà nói:

- Có lẽ má giận con hay sao nên má hỏi như vậy? Con là Oanh, vợ của anh Đường, vợ có hôn thú hẳn hoi, dâu chánh thức của má, có thể nào má quên được.

- Ạ! té ra cô là vợ của thằng Đường. Vợ nó giết nó đặng đi lấy chồng khác, bây giờ còn tới đây làm chi?

- Má không thương, má va tiếng ác cho con chi vậy má? Con giết anh Đường hồi nào? Con giết ảnh sao má lặng thinh, má không tố cáo cho nhà chức trách bắt con mà bỏ tù? Còn con lấy chồng khác, mà lấy ai đâu? Má biết hay không? Má chỉ thử coi. Chớ con là vợ của anh Đường hẳn hoi có giấy tờ, đủ lễ, có hôn thú bậc nhứt, cái đó ai cũng biết. Con tới đây là vì nhà nầy là nhà chồng của con. Chồng của con mất rồi, mà còn má nên má ở. Chừng má trăm tuổi già rồi, con sẽ về con ở đặng con thờ chồng và cúng ông bà cha mẹ ông bà. Tuy con đi làm ăn con không ở, song rảnh con cũng về đây trước thăm má, sau thăm nhà của con. Sao má lại hỏi con về làm chi?

- Cô nói nghe có hiếu dữ!

- Con không dám khoe con có hiếu hay có nghĩa. Nhưng nhà nầy má ở thì được, chớ con không bằng lòng má rước người nào khác về đây mà ở.

Cô Oanh kéo ghế mà ngồi. Bà Xã giận lắm, nhưng nói không lại miệng cô Oanh, bà tức nên bà nói:

- Nhà của tôi thì tôi muốn cho ai ở tự ý tôi, hoặc tôi muốn cho đứt ai cũng được. Nhà của cô cất hay sao nên tới đây mà tranh giành?

- Không phải nhà con cất. Nhưng nhà của chồng con nên con phải tranh.

- Cô quyền gì mà tranh. Ở với chồng không có con, chồng chết bỏ đi lấy chồng khác rồi cô trở lại tranh gia tài. Nói chuyện nghe trái tai quá.

- Phải lắm. Chớ có trái đâu má. Má nghĩ lại mà coi, con là vợ của anh Đường có hôn thú rành rẽ, mà bây giờ má không thèm nhìn, má lại nhìn đồ bá vơ ở đâu mà đem về mà gọi là dâu, là cháu nội, đâu không có bằng chứng, cháu nội cũng không có giấy tờ. Má làm như vậy phải hay là trái?

- Ai có tình có nghĩa với con tôi thì tôi nhìn là dâu. Ai là máu thịt của con tôi thì tôi nhìn là cháu nội. Ai thất giáo, vô đạo ở với con tôi không có tình nghĩa, ở với tôi không có hiếu kính, thì tôi xem như rơm như rác. Tôi hiền lành nhã nhặn, nhưng tôi cũng biết giận biết hờn. Tôi cho cô biết tôi không phải khờ dại. Nếu tôi không thèm kể ai là dâu, ấy là tại người ấy lỗi đạo làm dâu. Còn nếu tôi nhận ai là dâu ai là cháu nội thì tôi có giấy tờ minh chứng rành rẽ, chớ không phải nhìn bậy. Tôi không cho phép cô tới nhà tôi mà dạy khôn tôi. Nếu cô khiêu khích sỉ mạ tôi hay người trong thân của tôi thì tôi biểu bạn bè tống cổ cô ra ngoài đường, hoặc tôi thưa cho Hương chức trong làng bắt cô mà trị tội hổn hào ngang ngược.

Cô Oanh thấy bà Xã chống cự mạnh mẽ thì cô nghĩ phải đổi chiến lược mới thắng được, nên cô cười mà nói:

- Thưa má, vì má nói phải trái, nên con mới dám phân trần phải trái cho má nghe, chớ con đâu dám hổn hào ngang ngược với má. Con thưa thiệt với má, năm trước má đem con gái của ông Hương nghị với đứa con của cô về nhà má nuôi, thì con hiểu ý má thấy chồng con chết rồi má muốn đuổi con, bởi vậy con xét phận con không có con, nên con nhượng bộ trở về cha mẹ con mà nương dựa, nghĩ vì vợ chồng con có hôn thú, chừng má trăm tuổi già, gia tài sự nghiệp về con hưởng huê lợi, không mất phần của con đâu mà con sợ. Mấy bữa rày con lại hay má tính nhìn con trai của cô giáo Hưởng là cháu nội của má và má kiếm rước về mà giao hết gia tài cho mẹ con cô Hưởng ăn đặng phụng tự ông bà. Nghe như vậy nên con mới về đây hỏi lại coi có thiệt hay không. Thưa má, có phải cô ngồi gần cửa sổ kia là cô giáo Hưởng, còn thầy chùa ngồi bên bàn đây là con của cô hay không?

- Phải. Tôi rước mẹ con nó về đặng mẹ con nó nuôi tôi trong lúc tôi già yếu nầy. Chừng nào tôi qua đời thì mẹ con nó quảng suất sự nghiệp của tôi mà phụng tự ông bà.

- Má làm như vậy mất công bình, lại không hợp pháp. Con là vợ chánh của anh Đường có hôn thú bậc nhứt mà má bỏ rơi, má giao gia tài cho người bá vơ như vậy hưởng thì không được. Con tranh cản ngay.

- Sao dám gọi là người bá vơ? Tôi nhìn dâu hiền, nhìn cháu nội, do ý trong tờ di ngôn của con tôi. Cháu nội tôi có khai sanh, có bổn sao án Tòa đủ phép, ai tranh cản được.

Cô Oanh bất ngờ việc ấy nên ngơ ngẩn...

Bà Xã kêu Càn mà nói:

- Càn, con vô lấy hết giấy tờ của cha con để lại đem ra đây mà đọc cho bà con trong xóm nghe chơi con.

Càn đứng dậy chấp tay má nói:

- Thưa nội, cha con để khai sanh của con lại cho nội, cha con có ý muốn bày tỏ nỗi lòng đau khổ cho nội biết mà thôi, cha con có kể tới người khác đâu mà cần cho cho người ta biết. Con xin phép nội cho con nói chuyện với cô đây một chút tưởng cũng đủ.

Càn ngó cô Oanh mà nói tiếp:

- Nãy giờ tôi ngồi lóng tai nghe cô khinh rẻ người nầy, châm chích người nọ, cô nói dông dài, mà kỳ trung cô nghe nội tôi đem mẹ con tôi về đây nên cô đến kiếm chuyện mà tranh gia tài, chớ cô không có ý thăm viếng ai hết, cô cứ nói hoài đến nỗi nội tôi không nhìn cô, lại còn xô đuổi cô, mà cô cũng không chịu đi. Cô mê gia tài quá. Vậy để tôi nói chuyện gia tài cho cô nghe. Má tôi cũng như tôi, mẹ con tôi từ chối mấy ngày không muốn về đây, chớ không phải mê gia tài như cô đâu. Vì nội tôi nói quá, nên má tôi vì nghĩa, còn tôi vì đời, vì đạo, mà cũng vì hiếu, bởi vậy mẹ con tôi phải theo nội mà xuống đây. Mẹ con tôi chưa nghe nói đến gia tài bao nhiêu nên chưa biết mà ham. Mà dầu có vàng bạc mấy xe, có ruộng vườn mấy ngàn mẫu, cũng không bằng một bầu đạo đức, một túi nghĩa nhơn đâu cô. Tiền bạc ruộng vườn có đó, mà nó cũng có thể mất đó, mất mau lắm. Có lẽ cô cũng thường thấy sự có rồi mất đó chớ, nhứt là thứ gia tài gây trên xương máu của người khác với gia tài mình âm mưu mà cướp đoạt, không tốn công dãi nắng dầm sương thì không bao giờ được hưởng lâu được. Duy có nhơn nghĩa với đạo đức mới bền vững, thứ gia tài đó mới thiệt là quí vì nó cho mình hưởng hoài, hưởng tới đời con đời cháu cũng không hết. Vì vậy nên mẹ con tôi không biết ham gia tài. Mẹ con tôi về đây là vì thấy bà nội già rồi mà trợ trọi một mình, nên mẹ con tôi muốn giúp cho nội tôi vui vẻ trong tuổi già nầy mà thôi,chớ không có ý chi hết. Nào dè vừa mới vô tới nhà lại có người ngăn cản muốn tranh gia tài. Thiệt từ khi tôi mới được tám chín tuổi thì tôi đã đặt bước mà đi một mình trên đường đời, tôi hằng ngày phải vật lộn với nhơn tình thế thái mà sống. Nhưng tôi không có gặp gia tài mà tranh, tôi lại mê từ bi mà tập. Nay tôi nhờ cô mà gặp tranh gia tài. Tôi nói thiệt với cô, dầu muốn dầu không tôi phải tranh với cô, chớ không không được phép bỏ xuôi. Tôi phải tranh để cho nội tôi an hưởng công lao cực nhọc mà xây dựng gia tài. Chừng nội tôi trăm tuổi già nội tôi định giao gia tài cho ai tự ý, tôi không đòi hỏi chi hết. Ví dầu nội tôi có giao cho tôi gìn giữ để phụng tự ông bà đi nữa, thì tôi hứa chắc với cô, tôi sẽ làm trọn nhiệm vụ của nội tôi ký thác. Mà hưởng gia tài ấy tôi chỉ dùng huê lợi để cúng quảy ông bà mà thôi, chớ không phải của tôi làm ra mà tôi được phép ăn xài riêng. Nếu cúng quảy mà có dư thì tôi sẽ phân phát cho thiên hạ. Tôi sẽ chia mà giúp cho mấy người trong xóm, trong làng quanh năm cực khổ hết sức mà không đủ cơm gạo cho vợ con no ấm, chớ không thể chia cho người vì ham loè loẹt xa hoa mà trụy lạc vất vả, phải để hạng người ấy cực khổ lang thang đặng họ ăn năn mà bỏ thói tham lam gian dối trở về với đạo nghĩa. Tôi quyết ở lại đây làm nghĩa vụ đó, dầu ai đuổi tôi cũng không đi.

Càn nói dứt lời thì ngồi lại, sắc mặc bình tĩnh ôn hòa như thường.

Ông Đốc Thắng day qua ngó cô Hưởng mà cười.

Cô Oanh không dè thầy chùa trai trẻ mà đầu khôn ngoan lanh lợi như vậy, nên cô bối rối. Lại nghe nói có giấy tờ, có khai sanh, có di chúc, thì cô sợ, cô xuống nước nhỏ nhẹ mà nói với bà Xã :

- Gia tài thời thuộc của má làm chủ, nên con tranh là tranh cho má hưởng mãn đời, chớ không phải giành cho con ăn hết. Thầy chùa nầy không có quyền gì về gia tài của má, nên con không cần phải trả lời. Việc nhà của má thì má phải suy nghĩ mà phân xử cho công bình. Nếu má muốn cho cả thảy đều hòa thuận êm ấm thì má chia gia tài của má ra làm ba phần, chớ không giao cho một người.

Bà Xã nói:

- Chia cho ai mà ba phần?

Cô Oanh nói:

- Thưa, má nhìn con của cô Hưởng là cháu nội, nó là con trai, nên má đem về đặng phụng tự ông bà, thì má chia cho nó một phần mà thôi. Cô Thậm là con của ông Hương nghị, cô cũng có con. Tuy nó là con gái song ai nấy đều nói nó giống anh Đường nên má chắc nó là con của anh Đường, má mới đem về má nuôi mấy năm nay. Má phải chia cho con nhỏ ấy một phần mới công bình. Còn con đây là vợ chánh thức của anh Đường, con không có con, mà có hôn thú, má phải chia cho con một phần, con mới chịu chớ.

Chưa ai kịp nói gì hết, ông Hương nghị ngồi bên bàn, ông vùng đứng dậy mà nói:

- Thưa bà chủ điền, vì mợ Hai muốn kẹp mẹ con con Thậm vào vụ nầy, nên tôi xin bà cho tôi nói ít tiếng. Thiệt con Cát là con của cậu Đường. Mợ hai đã nói ra thì tôi không nên giấu nữa. Từ ngày cậu Đường mất, bà đem mẹ con con Cát về bà nuôi, bà không nhìn nó là cháu nội cháu ngoại gì hết. Vợ chồng tôi thấy vậy nên làm thinh. Nhờ bà chiếu cố nên mẹ con con Cát no ấm sung sướng. Được bà thương thì đủ rồi, bởi vậy vợ chồng tôi cũng như con Thậm cũng không có nghĩ tới bà nhìn cháu nội làm chi, mà cũng không tính chia gia tài của bà. Chiều hôm qua có dịp đi chợ tôi đi thẳng qua đây thăm bà. Không có bà ở nhà. Mà con Thậm lại nói hồi sớm mơi có mợ hai xuống nói bà đi Saigon rước cháu nội trai về mà giao gia tài. Mợ xúi nó hiệp với mợ mà chống cự giành gia tài đặng chia nhau mà hưởng. Tôi nghe như vậy tôi liền dặn con tôi đừng có nghe lời mợ hai rồi nói bậy bạ mích lòng bà. Bữa nay tôi trở lên đây nữa là vì tôi có ý chờ bà về đặng tỏ lòng thành thiệt của cha con tôi cho bà hiểu. Mợ hai muốn tranh gia tài hay làm sao mợ làm. Việc đó cha con tôi không biết tới, không đòi hỏi, mà cũng không tranh giành với ai hết.

Cô Oanh hứ nghích mà nói:

- Ông Hương nghị không thèm thì chia làm hai; phần của người ta nhiều hơn chớ hại gì.

Bà Xã nói :

- Ngộ quá! Sự nghiệp của tôi gây dựng ra lớn. Mà bây giờ người ta đến biểu tôi phải giao hết, nói không được rồi buộc phải chia làm ba làm hai. Bà con nghĩ coi có phải kỳ cục hay không. Tiền bạc ruộng đất của tôi, tôi muốn để cho ai ăn tôi để. Không ai được phép tới đây bỉ xử tôi... Đi ra... nhà tôi có khách, để cho tôi tiếp khách.

Bị đuổi rõ ràng. Cô Oanh giận tái mặt. Cô đứng dậy bỏ đi ra, không thèm cáo từ ai hết. Cô vừa đi ngoe ngoẩy vừa nói:

- Muốn nghịch thì tôi kiện tán gia bại sản cho mà coi.

Nãy giờ ông Đốc Thắng ngồi im lìm mà nghe lời qua tiếng lại. Ông cứ chúm chím cười chớ không nói chi hết. Bây giờ thấy cô Oanh đi gần tới trước mặt ông lại nghe hăm kiện, thì ông đứng dậy chận cô mà nói:

- Xin cô Hai đứng lại cho tôi nói việc riêng vói cô một chút. Cô hâm cô kiện chị Xã. Có tôi ngồi đây, tôi lớn tuổi hơn cô, không đáng chú thì cũng đáng anh của cô. Tôi khuyên giải, không nỡ để cho cô đi lạc đường. Tôi xin cô đừng có nghe lời của bợm gian hùng bày kiện cáo chị Xã mà tốn tiền vô ích. Nên để tiền mà nuôi con. Chớ chi cậu Đường chết rồi, cô ở luôn trong nhà nầy mà thủ tiết thờ chồng, thì chừng chị Xã qua đời, cô thay thế. Dầu cậu Đường có lập khai sanh mà nhìn con dòng khác, thì cô cũng là đích mẫu, cô hưởng gia tài. Thiệt cô không thể bán ruộng đất, mà cô có quyền thâu huê lợi để phụng tự ông bà. Cô Hưởng mãn đời cô rồi, còn dòng thứ mới được hưởng. Cô không nghĩ xa, cô bỏ đi lấy chồng khác mà sanh con rồi cô trở về tranh gia tài làm sao được.

Cô Oanh giận hỏi:

- Ai nói với ông Đốc tôi lấy chồng khác? Lấy ở đâu?

- Cô khéo giả bộ thì thôi. Cô ở với ông Thông trong căn phố sau chợ Tân Định. Cô ngồi xe hơi đi hàng ngày với ổng. Cô có một đứa con gái biết đi lẩm đẩm. Cô có giấu ai đâu mà không biết.

- Dầu tôi có ăn ở với ai đi nữa, không có hôn thú thì có bằng cớ gì mà nói tôi cải giá?

- Khai sanh của đứa con cô.

- Con tôi xin tôi nuôi mà.

- Đã muộn rồi, cô nói như vậy sao được. Dầu cô có chồng khác không làm hôn thú, sanh con thì đứa nhỏ theo họ mẹ, khai sanh không có tên cha, nhưng tên họ mẹ có sẵn sàng, cô chối mà nói con nuôi sao được. Không có chồng thì làm sao mà sanh con. Không lẽ cậu Đường ở dưới âm phủ ban đêm cậu được phép về ngủ với cô. Con nhỏ sanh đã hơn hai năm rồi. Bộ sanh lập hai bổn cuối năm gởi cho Tòa hộ duyệt phê rồi giữ một bổn, còn một bổn gởi lại trả cho Tòa Thị Sảnh giử. Bây giờ cô muốn sửa tên họ mẹ, cô sửa không phải dễ, làm bậy bị đày chớ phải chơi đâu. Mà cô hăm kiện thì chắc ngày mai chị Xã sẽ cậy người lên Tòa xin sao lục khai sanh của đứa con cô mà nắm trong tay. Cô bày cạo sửa tôi e chỉ sợ mang họa.

- Tôi sẽ mướn trạng sư kiện.

- Đừng, đừng cô. Tốn tiền vô ích, nếu cô kiện thì tôi hưu trí rảnh rang chắc chị Xã sẽ nhờ tôi thay mặt đi hầu. Tôi không từ chối được. Mà đi tòa thì tôi phải nạp tờ di ngôn của cậu Đường, với bổn sao án Tòa cậu nhìn nhận Nguyễn Văn Càn đây là con của cậu. Tôi nạp luôn bản sao lục khai sanh của đứa con gái cô nữa, thì ngọc hoàng hiện xuống tôi sợ cũng không binh cô được.

- Thuở nay ông làm thầy giáo, ông có biết luật pháp đâu mà nói.

- Tôi lấy chánh lý mà nói giùm cho cô. Nghe hay không nghe tự ý cô. Tôi chào cô. Ông Đốc ngồi lại. Cô Oanh mang kiếng mát đi ra cửa.

Ba Thẹo, người đánh xe ngựa cách 18 năm trước đã có chạm với cô Oanh trước nhà thầy giáo Hiển bên chợ Cần Giuộc, bữa cô dắt hai người đàn bà dữ tợn đến mắng chưỏi khiêu khích cô Hưởng. Mấy năm nay anh thôi đi xe, qua hỏi ruộng bà Xã mà làm và cất nhà về ở trong đất bà. Bữa nay anh cũng như mấy người tá điền ở trong xóm lại giúp làm thịt heo cho bà Xã cúng. Anh nghe nói có cô Oanh ở trên Saigon xuống tranh gia tài với cô Hưởng thì anh mon men ra đứng ngoài cửa sổ lóng tai mà nghe. Chừng thấy cô Oanh giận bỏ ra về thì anh chạy theo vừa kêu vừa nói:

- Mợ hai, mợ Hai, mợ xuất binh sao không lựa ngày tốt, để gặp xui xẻo lui binh hoài vậy? Mợ nhớ tôi hôn? Tôi là Ba Thẹo ở bên chợ Cần Giuộc đánh xe ngựa. Bữa mợ đem binh đến nhà thầy giáo Hiển mà khiêu khích với cô giáo Hưởng có tôi đó. Tôi xúi mợ tiến, mợ không dám tiến mợ lại rút lui. Hôm nay mới dàn binh, chưa có gì hết, sao mợ cũng rút lui nữa vậy?

Cô Oanh nói:

- Trưa rồi nên tôi về.

Cô nói vậy cho đỡ mắc cỡ rồi đi tuốt.

Bà Đốc Thắng trong nhà dòm ra thấy Ba Thẹo theo nói chuyện gì với cô Oanh bà không hiểu, nhưng cô Oanh lầm lủi đi mau, còn Ba Thẹo trở lại đi vòng theo chái nhà mà vô phía sau, miệng cười ngỏn ngoẻn thì bà cười ngất. Bà Xã hỏi bà Đốc cười về việc chi, bà Đốc thuật chuyện năm xưa cô Oanh bị Ba Thẹo phá đám nên xe mất, bây giờ cô Oanh cũng bị Ba Thẹo nữa, thế thì cô Oanh với Ba Thẹo có duyên tiền khiên gì với nhau hay sao nên gặp nhau hoài. Bà Xã với ông Đốc và mẹ con cô Hưởng nhớ chuyện của Đường viết trong tờ di ngôn, cả bốn người cũng đều tức cười hết.

Bà Xã biểu cô Thậm hối người nhà dọn cơm cho ông Đốc bà Đốc ăn sơ sịa ba hột dằn bụng đợi xế cúng rồi sẽ ăn tiệc. Mấy ông bà ở trong xóm xúm lại mừng cho bà Xã, ai cũng đã ăn cơm nhà hết rồi, bởi vậy bữa cơm nầy chỉ có bà Xã ăn với vợ chồng ông Đốc, ông Hương Nghị, mẹ con cô Hưởng và mẹ con cô Thậm mà thôi.

Tuy nói ăn sơ sịa, song cũng có cá thịt canh rau đủ thứ, mà ai cũng đói, lại cũng vui, nên chủ khách đều ăn no.

Lúc ngồi ăn bà Đốc khen cô Hưởng giỏi ẩn nhẩn, cô Oanh kiếm chuyện khiêu khích mà cô Hưởng không nói gì. Cô Hưởng nói bà Xã trả lời nặng quá rồi cô còn chen vô làm chi nữa, ông Đốc cười mà nói cậu Càn tu hành mà cậu nói chuyện nghe được quá. Càn cười mà nói:

- Tuy con mặc áo thầy chùa, song hồi nhỏ trót 5 năm trường con lăn lóc theo đám mồ côi hoang đàng mà người ta thường gọi là lũ tiểu quỉ Saigon, dầu con biết hiền lành, ham nhơn nghĩa, nhưng nếu ai muốn hơn thua thì con cũng biết hơn thua đủ với họ vậy chớ, để thiếu họ sao được.

Ông Đốc nói:

- Cháu mới về tới đây mà hồi nãy xóm riềng nghe cháu giãng dạy cô Oanh, tôi coi bộ ai cũng chịu hết, cháu ở đây mà tu chắc sẽ có tín đồ nhiều. Còn ông Hương nghị, ông chơn chất thiệt thà, mà ông cũng cho cô Oanh một bài học thâm thúy quá.

Ông Hương nghị nói:

- Thưa, tôi có dám nói động tới mợ hai. Vì chiều hôm qua tôi hay mợ xuống xúi con tôi theo mợ mà làm việc quấy. Tôi không chịu, nên sáng nầy tôi trở lên coi như có bà chủ điền về, tôi thưa cho bà hay. Tôi chưa kịp nói mà mợ khởi đầu sanh chuyện, mợ lại kềm con Thậm tôi vô, tôi phải bày tỏ lòng dạ của cha con tôi cho bà biết vậy thôi, chớ mợ tranh giành tự ý mợ, tôi đâu dám ngăn cản. Hồi nãy mợ về coi mợ giận. Tôi sợ mợ kiện.

Ông Đốc cười mà nói:

- Có giỏi thì kiện đi. Tôi sẽ xin thay mặt chị Xã tôi hầu hết. Để mai mốt tôi trở lên Saigon, tôi vô Tòa xin sao lục một tờ khai sanh của đứa con gái cô sanh đó, tôi giao cho chị Xã giữ sẵn. Nếu cô đi kiện thì tôi đem hết giấy tờ tôi trình cho Tòa xem, tự nhiên Tòa bát đơn cô liền.

Bà xã nói:

- Cậu Đốc chịu khó giúp giùm cho tôi. Tôi không dám quên ơn nghĩa đâu. Bữa nay sẵn có ông Hương nghị lên, có cậu Đốc mợ Đốc, lại có bà con trong xóm tựu đủ mặt. Vậy tôi nói rõ cho bà con cùng anh chị em biết tôi không nhìn nhận con Oanh là dâu của tôi nữa. Dâu lớn của tôi là Hưởng, còn dâu nhỏ của tôi là Thậm. Càn với Cát đều là cháu nội của tôi, mặc dầu Đường không có khai sanh cho con Cát. Vậy từ rày sắp lên Thậm phải kêu bà bằng má, còn Cát phải kêu bà bằng bà nội cũng như mẹ con con Hưởng vậy. Hưởng với Thậm phải yêu nhau như chị em ruột, coi hai đứa nhỏ là con chung. Còn Càn với Cát do một gốc mà ra, ruột thịt với nhau, anh lớn phải thương em, em nhỏ phải kính anh, đặng một nhà hòa thuận an vui và tu tập đạo tâm, dồi mài tiết nghĩa.

Càn nói:

- Con sẽ chăm nom làm cho nội an hưởng ngày già, hết buồn lo điều chi nữa. Em của con là gái con sẽ dạy nó lo lắng về miếng ăn giấc ngủ cho nội. Tuy cha con không có đứng khai sanh cho em, mà nội đã nhìn rồi thì nó là em của con chính thức.

Cô Hưởng tiếp tục nói:

- Con thưa thiệt cới má, ngày con đau khổ con tính bỏ xứ mà đi thì bà Sáu Hẩu một nhà triệu phú ở Saigon, bà thương phận con, nên bà biểu con hợp tác với bà đặng ra vùng Kontum mà trồng trà trồng cà phê. Con theo bà ra đó qui tụ người bổn xứ mà làm việc mười mấy năm mới thành sở vườn rộng lớn cả ngàn mẫu. Hiện giờ sở bán trà với cà phê mỗi tháng thâu huê lợi đến mấy trăm ngàn, mà số tiền xuất phát cho nhơn công cũng lớn lắm. Nhưng mỗi tháng còn lời cũng được năm ba muôn. Nhà bà Sáu Hẩu có vốn lớn, lại con là cánh tay mặt của bà, con giúp bà tận tâm, nên mới thành công như vậy. Năm ngoái bà về thăm nhà mấy tháng thì con coi sở cho bà. Năm nay con nói với bà con về kiếm Càn đem lên đó mà ở với con, nên bà mới để cho con đi. Và Càn kiếm được nó phải về với má. Vậy thì con ở chơi với má chừng một tháng cho má vui, rồi con xin má cho con trở lên đó chớ con không thể bỏ bà Sáu Hẩu được. Bây giờ có Càn về ở với má, trong nhà lại có mẹ con Cát chăm nom săn sóc má. Lâu lâu con về thăm má và chơi vài tháng vậy thôi. Năm nay đường giao thông đã thuận tiện, có xe đò chạy hai ba ngày một chuyến rồi, nên con lên xuống dễ dàng.

Bà Xã nói:

- Công chuyện của con lớn lao bề bộn như vậy con bỏ sao được. Nhưng má xin con ráng ở chơi với má vài tháng rồi sẽ đi, và lên trên đó con đừng quên má. Má già rồi con!.

Cô Hưởng nghe lời âu yếm như vậy thì cô ứa nước mắt. Bà Đốc không muốn không khí đương vui vẻ hoá ra buồn tẻ lạnh lùng, bởi vậy bà nói:

- Chị Xã chưa già đâu. Chị còn cứng lắm mà. Chị còn sống tới hai ba mươi năm nữa như chơi. Có dâu có cháu nội chị vui sống dai lắm.

Chủ khách thân yêu, một nhà vui vẻ, câu chuyện sum vầy hạnh phúc kéo dài đến xế mấy chị đàn bà trong bếp nấu nướng xong, rồi trai dọn mới sắp đặt bưng lên để trên mấy bàn thờ cúng. Có người đi về lấy một cái áo dài đen cho Càn bận đỡ mà ra mắt cha với ông bà.

Bà Xã đứng vái ông bà rồi lạy trước, Hưởng với Thậm một cặp lạy sau. Càn tiếp lạy nữa, rồi Cát lạy chót. Lạy bàn thờ của Đường, bà Xã cũng rót rượu vái con cho hai dâu lạy chồng và hai cháu nội lạy cha.

Cúng xong rồi bà Xã mới biểu dọn hết trên mấy bàn mấy ván. Bà mời hết khách xa cũng như người trong xóm, đàn ông cũng như đàn bà, trẻ già lớn nhỏ đều phải ngồi ăn uống với bà một bữa cho vui.

Giữa lúc cả nhà đương nói cười hỉ lạc, một ông kỳ lão tay nâng ly rượu mà nói:

- Thuở nay thím Xã ăn ở hiền lành, ai thiếu hụt hay có việc gì nói với thím thì thím giúp liền. thím có một người con nó cũng giống tâm chí thím, biết thương nhà nghèo, ở rộng với tá điền, tá thổ. Không biết hạnh phúc ở lối nào mà mấy năm nay nó trốn mất, bỏ cho nhà thím buồn bực, ai nhớ tới cũng than phiền.

Ông Đốc Thắng chụp nói:

- Bữa nay hạnh phúc trở về với chị Xã rồi, nên ai cũng vui hết. Không vui sao được. Chị mất một người con trai, mà chị gom về hai cháu nội, một trai hiền lành đạo đức một gái tánh hạnh thiệt thà. Chị mất một cô dâu dữ, mà chị tìm được hai cô dâu hiền. Đó là hạnh phúc chớ gì. Chị lời chớ đâu có lỗ. Phải vậy hay không chị Xã?

Bà Xã Cầm cười lớn, cái giọng cười nầy mấy năm nay nó đi mất, bây giờ nó mới trở về đây.

Hai vợ

I

Gần đây, một khách giang hồ trót mấy mươi năm bôn ba gởi bước khắp non sông, tình cờ trở lại nguồn Khổng Tước, nhìn cảnh cũ, nhớ người xưa bỗng cảm hứng nên ngâm một bài thi thất ngôn bát cú, tả phong cảnh Gò Công có hai câu trạng như vầy:

Sơn Qui phưởng phất hồn văn vật

Vàm Láng ồ ào sóng cạnh tranh.

Chắc có nhiều anh chị em bốn phương chưa biết Sơn Qui là cái gì ở đâu.

Sơn Qui là một giồng cát trong tỉnh Gò Công.

Vùng Gò Công nằm dựa mé biển, nên thấp thỏi sình lầy, nhưng có mấy cái giồng cát nổi lên ngang dọc, giữa những cánh đồng ruộng vui vẻ, với màu lúa hết xanh rồi vàng, bằng thẳng một mực dầu phía trên hay phía dưới.

Những giồng Tháp, giồng Tre, giồng Nâu, giồng Cát, giồng Găng, giồng Trôm, giồng Ông Huê, giồng Sơn Qui, giồng nào cũng có trải qua những giai đoạn thăng trầm, cũng được thế cuộc ghi dấu lịch sử hoặc hùng hào, hoặc xán lạn.

Giồng Sơn Qui là trung tâm khai hóa trong vùng Khổng Tước, nguyên là cái lò nung đúc nhân tài để giúp chúa Nguyễn trung hưng hồi cuối thế kỷ 18.

Thiệt như vậy, giồng Sơn Qui đầu trong vô tới mé sông Gò Công, còn đầu ngoài đụng con đường quan lộ Gò Công lên Chợ Lớn. Hiện giờ du khách đến đó thì thấy dân cư thưa thớt, nhà cửa xơ rơ, chỉ còn phủ thờ với mấy ngôi mộ của quí tộc Phạm Đăng, là ngọai thích của vua Tự Đức, vẫn khư khư chống chỏi mà chịu đựng với tuế nguyệt, chớ những rẫy cải xanh tươi, những đám bắp ngon ngọt, là những nguồn lợi của người ở trong giồng, thì không còn nữa.

Nhìn cảnh Sơn Qui suy sụp bây giờ, ai cũng phải chạnh lòng nhớ nhơn vật vẻ vang của Sơn Qui ngày trước.

Hồi giữa thế kỷ 19, sau khi Triều chúa Nguyễn ở Huế được nắm chủ quyền thống trị cả vùng đất Việt Nam nầy thì phân ranh chia mấy trấn, mỗi trấn chia mấy đạo, rồi đặt quan cai trị, cho nhân dân từ Quảng Bình trở vô được đem gia quyến đến khai cơ lập nghiệp.

Vùng Gò Công hồi đó gọi là Kiến Hòa đạo thuộc về trấn Định Tường, là Mỹ Tho bây giờ.

Cụ Phạm Đăng Xương một nhà học uyên thâm, gốc ở Hương Trà thuộc vùng Huế bây giờ, chở gia quyến vào Nam, chọn giồng Sơn Qui trong đạo Kiến Hòa làm chỗ định cư. Cụ đốt cây cất nhà và qui dân về ở chung quanh cụ. Điền địa phì nhiêu, trên giồng cải rau bắp đậu thứ nào cũng dễ trồng, dưới ruộng thì lúa cấy đám nào đám nấy cũng xanh tốt. Nhơn dân thấy vậy bèn tụ tập về đó ở làm ăn, gây cho Sơn Qui một thời phong phú thạnh vượng.

Cụ Phạm Đăng Xương thấy vậy mới mở trường dạy học. Người gần kẻ xa hay việc ấy thì lần lượt đến xin thọ giáo, vì đạo học của cụ Phạm vừa uyên thâm vừa hoạt bát, nên môn đệ của cụ người nào cũng nên danh. Thuở ấy người ta kính mến cụ nên kẻ lớn người nhỏ đều gọi cụ là "Kiến Hòa Tiên Sanh".

Chừng qua đời, con của cụ là Phạm Đặng Long nối nghiệp mà dạy học.

Thinh danh "Kiến Hòa Tiên Sanh" càng lừng lẫy hơn đời trước bởi vì cụ Phạm Đặng Long đào tạo môn đệ được nhiều người rất hiển đạt, như ba cụ Võ Văn Lượng, Nguyễn Văn Hiếu, Mạc Văn Tô. Khi cụ Hoài Quốc Công Võ Tánh đến giồng Tre chiêu binh khởi nghĩa, ba cụ ra giúp làm phó tướng đắc lực, sau giúp chúa Nguyễn lập được đại công.

Cụ Nguyễn Hoài Quỳnh thi đậu khóa Tân Hợi (1791) mở đầu tại Gia Định cũng là môn đệ của cụ Phạm Đặng Long, sau làm quan lên tới những chức Nghệ An Hiệp trấn, Thanh Hóa Hiệp trấn, Thanh Hóa điện phu đạo, Bắc Thành Binh Tào chừng mất được tặng Chánh Trị Khanh.

Mà công lớn hơn hết của cụ Phạm Đặng Long là công cụ dạy người con của cụ, là cụ Phạm Đăng Hưng, khóa Bính Thìn (1796) thi đậu thủ khoa, được sung vào bộ Tham mưu chúa Nguyễn Ánh, luôn luôn theo chúa ra chinh phạt đàng ngoài.

Cuộc đại định đã xong, chúa Nguyễn Ánh lên ngôi cữu ngũ xưng hiệu Gia Long, thì cụ Phạm Đăng Hưng làm đại thần tại Triều đình Huế. Đến năm 1813 cụ được thăng chức Thượng Thơ Bộ Lễ, và cụ ngồi địa vị ấy luôn cho tới khi cụ thất lộc, là năm 1825, về đời vua Minh Mạng.

Năm 1824 vua Minh Mạng đã có nạp con gái của cụ vào tiểm để làm vợ Đông cung Thái tử. Năm 1841, Đông cung lên ngôi xưng hiệu là Thiệu Trị, thì con gái cụ Phạm Đăng Hưng lên ngôi Hoàng Hậu.

Năm 1847 vua Thiệu Trị băng, Hoàng thái tử nối ngôi xưng hiệu Tự Đức, mới phong cho mẹ là con của cụ Phạm Đăng Hưng, chức Từ Dũ Hoàng thái hậu.

Vua Tự Đức lại truy phong:

1. Cụ Phạm Đăng Hưng tước Đức quốc công

2. Cụ Phạm Long tước Phước An Hầu

3. Cụ Phạm Đăng Xương tước Bình Thành Bá

4. Cụ Phạm Đăng Thiên tước Mỹ Khánh Tử

5. Cụ Phạm Đăng Khoa tước Trung Thuận, Đại phu

Phủ thờ lập tại giồng Sơn Qui là lập để thờ 5 vị nầy, có 11 ngôi mộ của Phạm Tộc nằm phía sau phủ thờ.

Ấy vậy hồi thế kỷ 19 giồng Sơn Qui nổi danh và hưng thạnh là nhờ văn học uyên thâm của Phạm tộc, cũng như giồng Tre nằm gần đó nổi danh là nhờ tài oanh liệt của cụ Hoài Quốc Công Võ Tánh; ngày nay tại đó vẫn còn đền thờ.

Nhờ hai trường hợp đó, sau còn nhờ cụ Trương Công Định ẩn núp theo mấy giồng mà kháng chiến với binh đội Pháp khi nước Pháp mới chiếm trị vùng Gò Công, nên Gò Công mới được tiếng "Địa linh nhơn kiệt".

Người nhờ đất mà kiệt?

Hay là đất nhờ người mà linh?

Hai vấn đề ấy ai muốn phân giải thế nào tùy ý.

Từ khi cụ Phạm Đăng Hưng thi đậu đi làm quan, thì cụ Phạm Đăng Long một là vì già yếu, hai là vì thấy loạn Tây Sơn ép buộc hạng thanh niên cường tráng ai cũng phải lo giúp nước dẹp loạn, không thể ngồi yên mà học được nữa, nên cụ thôi dạy đạo học, để cho môn đệ ở trong giồng dạy trẻ em đồng ấu lần lần vậy thôi.

Đến nữa thế kỷ 19, có ông Phạm Chí Hiền, nhà ở giồng Sơn Qui thuộc miêu duệ của Phạm Tộc ngày trước, ông mở trường dạy đạo học lại, ý muốn kế chí cho tiền nhơn. Môn đệ gần xa đến xin thọ giáo với ông được vài chục người, cả thảy đều mẩn cán, quyết đi đường khoa cử.

Trong đám môn đệ này, ông Phạm Chí Hiền nhận thấy có cậu Lê Hữu Hào, gốc ở xóm Tre, học lực trội hơn hết. Ông đặt hy vọng vào tài học của cậu, tin chắc khoa thi sắp tới cậu sẽ gởi bước thang mây.

Nào dè đến đầu năm Tự Đức thứ 12 là năm 1859, thầy trò lại nghe tin binh thuyền Pháp quốc vào cửa Cần Giờ bắn phá những pháo đài của Việt Nam đóng dài theo mé sông, dường như muốn quyết ý muốn tiến vào mà đánh thành Gia Định.

Nghe tin ấy ông Phạm Chí Hiền bàn luận với môn đệ; thầy trò đều không an trong lòng. Có vài cậu nóng nảy xin đi nghe tin tức.

Cách ít ngày có tờ của quan Tổng Đốc Gia Định gởi tới Gò Công lúc đó gọi là Huyện Tân Hòa, cho hay quân đội Pháp đã chiếm thành Gia Định và khuyên nhân dân cường tráng hãy đến tỉnh xin đầu quân mà tiêu trừ giặc ngoại xâm.

Thầy buồn rầu về nạn nước, trò bối rối về phận làm trai, thầy trò bàn tính với nhau mới định đóng cửa trường, ai về nhà nấy, đặng lo sắp đặt việc nhà rồi ra hiến thân cứu nước

Hai vợ

II

Lê Hữu Hào, môn đệ cao lớn hơn hết của ông Phạm Chí Hiền ở Sơn Qui, năm nay cậu đã được 24 tuổi, vóc cao lớn, sức khỏe mạnh.

Cậu là con của ông Lê Hữu Thuận, nhà ở xóm Tre, gần mé sông Bao Ngược.

Ông Lê Hữu Thuận, tuổi đã đến lục tuần, góa vợ mấy năm nay, chỉ có một người con trai là Lê Hữu Hào đó mà thôi. Hồi còn trai ông có học lem nhem ít năm, nên ông mang cái thành kiến cho trong tứ dân duy có bực "Sĩ" là quí hơn hết, sĩ ở trên các nông, công, thương.

Khi Hữu Hào lớn lên ông thấy con có chí ham học, ông mới nong nả cho con ăn học đặng đi thi làm ông tú, ông cử, mà may vượt lên tới bậc ông Cống, ông Nghè đặng làm quan, rồi "lộng ông đi trước, võng bà theo sau", làm cho tông môn rỡ ràng trong làng xóm. Nuôi cái mộng đó ông không chịu tập cho con biết làm ruộng đặng ngày sau kế nghiệp nhà nông cho ông. Ông để cho con học với thầy trong làng mấy năm; chừng đủ sức nghe giảng Tứ thơ, Ngũ Kinh rồi ông mới cho vào giồng Sơn Qui thọ giáo với ông Phạm Chí Hiền, thầm nghĩ rằng ở vùng Khổng Tước phải học với thầy ở Sơn Qui mới hiển đạt được.

Mấy năm con đi học, ông ở nhà cặm cụi cùng người cháu trong họ là Tư Cầu, lo cày cấy vài mẫu đất của ông phá rừng làm ruộng ở phía Rạch Nhợ để lấy lúa mà ăn. Tư Cầu đã 40 tuổi, thuở nay có tính như khật khùng, nên không có vợ con, cứ ở với ông Lê Hữu Thuận là cháu họ cũng như người gia dịch, ở đặng nhờ hột cơm manh áo, chớ không kể công mà đòi tiền mướn.

Ông Lê Hữu Thuận không giàu mà cũng không nghèo. Ông ở trong một nhà lá 3 căn sạch sẽ, phía sau có một cái nhà nhỏ để nấu ăn, ông có nuôi vịt nuôi heo, lại có một chiếc ghe nhỏ đậu trong xẻo phía sau hè, ghe ấy dùng để ra mé sông Bao Ngược câu cá, lưới tôm mà ăn mỗi ngày mỗi bữa.

Hôm đó mặt trời vừa xế bóng. Tư Cầu đi thăm ruộng mới cấy xong cách 3 bữa trước. Ông Lê Hữu Thuận ở nhà tính nấu cơm sớm đặng Tư Cầu về có sẵn mà ăn rồi nước ròng chèo ghe ra sông cái, giăng câu mà kiếm cá. Ông mới tính chớ chưa làm, bỗng thấy con là Lê Hữu Hào, vai mang gói lơn tơn đi vô sân.

Hữu Thuận bước ra sân mừng con và hỏi: "Con về thăm nhà phải hôn? Chuyến nầy con tính ở chơi bao lâu mà mang gói lùm xùm dữ vậy?"

Hữu Hào bước vô nhà, nghiêng vai cho sút cái gói sách vở quần áo, mùng, gói trên ván rồi ngó cha chậm rãi nói:

- Có giặc nên thầy biểu nghỉ học để xem coi thời cuộc biến chuyển thế nào rồi sẽ hay.

- Ủa! Giặc ở đâu? Sao ở nhà đây không nghe nói?

- Cách mười bữa rồi có người ở Vàm Láng lên Sơn Qui thăm bà con. Họ nói rằng có mấy người bên Lý Nhơn chở vợ con qua bên mình mà lánh nạn, bởi vì có tàu của Pháp chở binh vào cửa Cần Giờ bắn pháo đài phòng ngữ của mình. Giặc đương mạnh mẽ vào Nhà Bè.

- Còn binh lính của mình đâu? Sao các quan không xua ra mà chống cự?

- Có lẽ cũng có chống cự, nhưng binh lính mình thế yếu nên chống cự không nổi, bởi vậy hôm qua có tin quan Huyện được tờ của quan Tỉnh cho hay giặc đã hạ thành Gia Định rồi.

- Trời ơi! Thành Gia Định mất thì còn gì nữa mà kể.

- Bởi vậy quan trên biểu phải khuyên dân cường tráng nên sửa soạn ra đi lính đặng dẹp giặc mà cứu quốc gia lâm nguy. Thầy con nghe như vậy mới bảo chúng con nghỉ học đặng về thu xếp việc nhà lo cứu dân cứu nước.

- Phải vậy chớ sao. Giặc đã phá lũy đoạt thành rồi, còn học gì được nữa. Lúc thái bình thì yểm võ tu văn, cơn bác loạn phải yểm văn tu võ. Thời đường khoa mục của con hết kể rồi, phải cha dè như vậy, thì mấy năm trước cha cho con vô giồng Tre mà học võ nghệ thì hạp thời hơn.

- Giặc tình cờ ở đâu nó tới mà lo gây họa, làm sao mình biết trước được mà liệu.

- Anh em bạn học của con con họ tính làm sao?

- Có người quyết về làm đơn đem đến huyện xin cho đi lính đặng đánh giặc. Mà phần đông thì nói để về thưa cha mẹ hay coi cha mẹ định lẽ nào. Mấy anh đã có vợ coi bộ đã bối rối.

- Mấy người có vợ có con họ du dự là phải. Đi đánh giặc có phải như đi chơi hay sao. Rủi có bề nào bỏ vợ con cho ai nuôi. Phận con chưa có vợ, con tính đi hay không?

- Con còn phân vân, chưa nhứt định. Con tính về hỏi cha đây.

- Làm trai một bên vai mang nợ nước, một bên nữa mang ơn nhà. Hai vai đều mang nặng. Thôi, chiều rồi, để nấu cơm ăn rồi sẽ tính.

Ông Thuận đi vô trong tính nhúm lửa đặng nấu cơm.

Cậu Hào xách gói đem để trên cái giường dựa vách là chỗ hễ cậu về nhà thì cậu ngủ ở đó.

Tư Cầu đi thăm ruộng về, quần áo ướt mem, dựng cây tre ngoài cửa, bước vô thấy Hào thì mừng hỏi lăng xăng.

Ông Thuận ở nhà sau nghe có tiếng Tư Cầu nói chuyện thì ông bước ra hỏi đám mưa hồi khuya có làm đám ruộng mới cấy sau đó, lúa nổi nhiều hay không. Tư Cầu nói có nổi chút đỉnh, anh đã giặm lại rồi.

Ông Thuận biểu Tư Cầu vô thay áo quần khô rồi coi chụm lửa nấu cơm ăn sớm, đặng nước ròng đi giăng câu kiếm cá để ăn.

Nghe con nói chuyện giặc giã nãy giờ ông lo trong trí, nên Tư Cầu đi vô trong rồi thì ông leo lên võng mà nằm. Ông đưa cột kẹt một hồi rồi ông nói với con:

- Tuy con chưa có vợ con, song con còn một mình cha già. Đó cũng là một gánh nặng. Đã biết làm trai thì phải trả nợ nước. Nhưng người ta có năm ba anh em chẳng nói làm chi. Cha có một mình con. Nếu con đi lính, rủi bỏ thây nơi chốn sa trường, cha già ở nhà gặp khi ươn yếu biết cậy ai nuôi dưỡng. Huống chi thuở nay, con chuyên nghề văn, không quen nghiệp võ, con đánh giặc làm sao cho được.

- Con cũng nghĩ như vậy. Ngặt ngoại bang giày đạp giang san của mình, chiếm đất đai của mình mà làm chủ, bắt người mình làm tôi mọi, làm trai ai cũng phải ra chiến đấu, liều thân bảo thủ nước nhà. Nếu con sợ chết nên viện lẽ nầy lẽ nọ, rúc ở trong nhà, làm như vậy con hổ thẹn quá.

- Để người ta chết cho mình sống mà an hưởng vui sướng thì xấu hổ chớ sao. Họ đã khinh bỉ, mà họ còn chửi rủa, chịu làm sao được.

- Học trong trường con học giỏi hơn chúng bạn của con hết thảy. Nếu chúng bạn của con đều hiến thân cứu dân cứu nước, thì con không thể nào co đầu rút cổ ở nhà được.

- Vậy chớ sao. Người ta làm sao con phải làm theo người ta. Con trốn tránh thì người ta coi con ra gì. Mà chuyện giặc giã thì mới nghe phong phanh chớ chưa có gì chắc chắn. Đợi ít ngày coi có lịnh quan trên dạy làm sao rồi sẽ hay.

- Ở các tỉnh đều có vệ binh sẵn. Binh ấy đã luyện tập thành thục. Có lẽ quan trên sẽ gom binh ấy mà đánh trước. Chừng nào thắng không nổi giặc rồi mới kêu lính thêm.

- Ừ. Con nói phải a. Đánh giặc phải dùng binh thiện chiến kìa, chớ kêu học trò với dân cày rồi đưa gươm đao súng ống biểu ra trận, họ có hiểu gì đâu mà đánh. Vậy chuyện nầy không gấp đâu. Con đừng lo. Đợi coi có lịnh gì rồi sẽ hay.

Ăn cơm chiều rồi Tư Cầu xuống thuyền đi giăng câu.

Chuyện giặc giã cứ rạo rực trong lòng ông Thuận hoài. Ông nằm ngồi không yên. Thấy trời còn sớm ông mới đi dạo xóm chơi, đi kiếm mấy người thân thiết đặng thông tin có giặc, rồi bàn luận thời cuộc và dò coi ý người trong xóm liệu phải đối phó cách nào. Ông đi chơi tới nửa canh một ông mới về.

Hữu Hào ở nhà, nằm trên võng đưa trèo trẹo, mắt ngó thếp đèn dầu leo lét đốt để trên bộ ván gần đó, trí tư lự về sự đầu quân xuất trận đặng giữ nước cứu dân.

Ông Thuận xăng xớm bước vô. Hào lật đật lại ván mà ngồi, nhường võng cho cha nằm. Cậu hỏi:

- Từ hồi chiều tới giờ cha đi chơi nhà nào?

- Lại chơi đằng nhà Phó Tha. Có mấy người trong xóm tựu lại đó. Cha nói giặc Pháp đã hạ thành Gia Định rồi, ai nấy đều chưng hửng.

- Họ nghe nói có giặc coi bộ họ sợ hay không cha?

- Không, họ nói giặc đến thì mình đánh chớ sợ gì. Binh ngoại xâm tới đây họ có biết đường đi nước bước chỗ nào đâu. Mình đặt nghi binh, gạt họ vào Truông Cóc đây, mình vây mà giết hết, không còn một con đỏ.

- Giặc đánh trên Gia Định chớ phải đánh tại xứ mình đây hay sao. Người ta đương cần dùng binh lính ở trển, thì có lẽ mình phải lên đó mà tiếp tay chớ.

- Họ nói làm quan bình thường lên võng xuống dù, có giặc thì phải cầm thương lên ngựa mà đánh giặc. Làm dân chỗ nào lo giữ chỗ nấy. Đâu đâu cũng có dân. Giặc đánh trên Gia Định thì dân ở trển chống cự. Nếu gom hết dân dưới nầy đem lên trển, rồi giặc xuống tới đây mới lấy ai mà ngăn cản. Đàn ông đi hết, bỏ đàn bà con gái ở nhà, giặc tới nó tung hoành bắt hết trâu bò, heo chó, gà vịt, rồi nó còn đốt nhà xúc lúa nữa mới làm sao. Cha dọ ý bà con trong xóm thì ai cũng hăng hái không sợ giặc, hễ có giặc thì đánh. Nhưng họ không muốn hạng trai trẻ cường tráng như con phải bỏ làng xóm đi gìn giữ chỗ khác. Điều cần nhứt bây giờ là nhà nào cũng mướn thợ rèn làm binh khí cho sẵn, rồi dân xóm nào giữ xóm nấy, hễ có giặc tới thì hiệp nhau mà chống cự.

- Binh sĩ bây giờ họ có súng điểu thương, có tới súng thần công nữa, chớ có phải đánh với dao búa hay là mác thong đâu cha.

- Oái! Người ta nói bắn súng châm ngòi, bắn chậm xì, chết chóc gì mà sợ. Tay cầm dao búa, ta lăn tới, ta chặt chết hết.

Hữu Hào nói chuyện với cha thì hiểu ý người trong xóm không muốn cho hạng trai trẻ cường tráng đến tỉnh tình nguyện đầu quân đánh giặc.

Dư luận ấy làm cho chàng yên lòng mà nằm nhà, chờ coi thời cuộc biến chuyển thế nào rồi sẽ quyết định. Chàng đóng cửa rồi cha con dẹp đèn đi ngủ.

vHai vợ

III

Thuở đó, xóm Tre nầy là một xóm dân cư trù mật hơn hết trong Huyện Tân Hòa. Nhà ở trong xóm kể tới vài trăm, mà nhà nào nếu không giàu thì đủ ăn, chớ không nghèo lắm.

Sở dĩ xóm Tre dân số đông, sinh hoạt dễ, ấy là nhờ vị trí có nhiều bề thuận lợi hơn xóm khác. Trước xóm có sông Bạo Ngược tôm cá không thiếu gì. Dọc theo mé sông là dừa mọc đám nào đám nấy dây bịt, đốn lá đó mà lợp nhà, khỏi đi đâu xa cho mất công. Có nhiều rạch và xẻo từ ngoài sông cái đâm vô xóm giúp cho ghe ra vô rất dễ.

Còn phía sau xóm thì ruộng đất đã khai khẩn lâu năm rồi, hễ cày cấy thì chắc có lúa, khỏi lo thất mùa đói rách. Hết ruộng thì tới rừng, cái giăng rừng Truông Cóc cây cối không biết làm gì cho hết. Người ta nhờ đó mà có cột, có cây cất nhà, lại thêm có củi mà chụm.

Lại phía Rạch Nhợ, gò Xoài gần đó, hễ đến tháng 11, tháng chạp nước mặn dưới sông Bao Ngược tràn lên ruộng, chừng nước giựt ruộng khô, muối đọng cùng trên mặt đất. Người ta xúc muối đó gánh về nấu đặng lọc lại mà dùng, khỏi xuất tiền mua hay là gánh lúa đi đổi.

Dân xóm Tre đương vui vẻ với cảnh đời ấm no yên tịnh thình lình nghe ông Thuận nói chuyện Tàu Pháp chở binh do cửa Cần giờ và hạ thành Gia Định, thì ai nấy tuy miệng nói cứng, song trong bụng có hơi lo.

Sáng bữa sau người trong xóm chuyền miệng nói với nhau trong một lát thì từ đầu xóm đến cuối xóm ai cũng hay tin có giặc trên Gia Định. Ông Bá hộ Cầm ở đầu xóm, phía gần đường cái, ông cũng hay nữa. Ông là người giàu có hơn hết, nên ông lo nhiều hơn người khác.

Ông Hà Văn Cầm giỏi có nghề phá rừng mở ruộng, chớ ông không có ăn học. Mà ông nhờ nghề riêng của ông nên mỗi năm ông có lúa chứa đầy lẫm. Quan tỉnh Gia Định không có lúa gạo cho binh lính ăn, bèn tư tờ cho quan huyện Tân Hòa dạy phải cậy nhà nông trong huyện giúp lúa. Ông Hà Văn Cầm hiến cho nhà nước 5.000 giạ. Nhờ cái nghĩa cử ấy quan tỉnh mới chạy tờ về Triều rồi vua mới ban cho ông Cầm tước Bá hộ.

Ông chiếm một miếng đất rộng lớn, trước có sân, sau có vườn, ông trồng tre chung quanh cuộc ông ở. Nhà lớn cất ba căn hai chái nằm giữa, phía sau thì nhà bếp với chuồng heo, chuồng vịt. Hai bên chái ông kềm hai lẫm lúa rộng lớn đủ chứa đến lúa muôn. Còn hai bên sân thì có chuồng ngựa với chuồng trâu, ngựa có một con, còn trâu đến một chục rưỡi.

Ông Bá hộ Hà Văn Cầm năm nay được 52 tuổi, còn bà vợ là Huỳnh Thị Hậu tuổi mới 49. Vợ chồng khỏe mạnh, nhà cửa kinh dinh, tôi tớ rần rộ, làm chủ cả trăm mẫu đất, trên ruộng có trâu, dưới bến có thuyền. Tuy vợ chồng dốt nát, song tánh tình chơn chánh, ăn ở hiền lành, có một con trai lớn là Hà Văn Kỳ, 25 tuổi, đã có vợ con, ở trong nhà phụ giúp với cha mẹ trong công việc ruộng rẫy. Vợ chồng còn có thêm một đứa con gái tên Hà Thị Quyên mới 22 tuổi, chưa có chồng.

Nhà ông Lê Hữu Thuận ở đầu xóm phía trong, còn nhà ông Bá hộ Cầm ở đầu xóm phía ngoài, bởi vậy những người ở vùng trong muốn ra đường cái đặng đi vô phía Sơn Qui và vô huyện lỵ, đều phải đi ngang qua trước cửa nhà ông Bá Hộ.

Ông Bá hộ Cầm giàu mà đốt. Ông nhận thấy cái dốt của cha con ông làm cho nhà ông lắm khi bị thiệt thòi, bởi vậy khi cô Quyên là con gái ông lớn lên, ông thầm tính chọn người hay chữ mà gả cô, không cần giàu hay nghèo, miễn có chàng rể hay chữ đặng nó coi giùm giấy tờ hoặc nó thay mặt vào ra chốn công đường cho ông khỏi cực lòng bực trí.

Ông thấy trong xóm có chàng Lê Hữu Hào, con của ông Thuận, tánh nết đàng hoàng, ông lại nghe chàng có danh học giỏi, chàng là môn đệ cao nhất của ông Nhiêu Hiền trong Sơn Qui. Từ năm ngoái ông đã muốn mời ông Thuận ra nhà đặng ông nói chuyện làm sui, nhưng vì ông nghe Hào đương chăm chú học đặng năm tới đi thi, ông sợ nói không đắc lời, nên ông chưa dám mở miệng.

Buổi sớm mai nầy Phó Tha nhơn dịp đi thăm ruộng ghé nhà ông Bá hộ Cầm nói cho ông hay cậu Hào, là con ông Thuận, ở học trong Sơn Qui, cậu mới mang gói trở về nói giặc Pháp đã khởi đánh xứ ta và đã đoạt thành Gia Định rồi, vậy cả thảy nhân dân phải sắp đặt việc nhà đặng đi lính mà giữ gìn đất nước.

Ông Bá hộ nhà có cơm tiền, lại có một con trai đương tuổi cường tráng, nghe có giặc thì ông lo sợ. Ông biểu vợ con lo cơm nước cho ông ăn sớm, đặng ông vô nhà ông Thuận hỏi thăm việc giặc giã cho rõ ràng.

Cha con ông Thuận ăn cơm sớm mới vừa rồi thì thấy ông Bá hộ vác dù lơn tơn đi vô sân. Cha con ông vui vẻ tiếp chào mời khách vào nhà. Hào kêu Tư Cầu biểu lo trầu nước.

Ông Bá hộ giản dị, biểu đừng lo trầu nước chi hết, để ông hỏi thăm việc giặc giã mà thôi. Cậu Hào mới thuật lại cho ông hay mấy chuyện cậu đã nghe trong Sơn Qui, chuyện chắc chắn có giặc nên ông Nhiêu Hiền mới thôi dạy để cho học trò về lo làm phận sự con dân của đất nước.

Ông Bá hộ nghe rõ rồi ông mới nói với Hào:

- Nghe nói cậu đương đi học rút đặng đi thi. Mà nếu có giặc lộn xộn như vậy thì thi giống gì được.

- Qua sang năm trong Gia Định mới có khoa thi. Nếu giặc dẹp được mau, thì có lẽ sẽ thi được. Còn nếu giặc kéo dài cù nhầy thì khóa thi tới đây chắc phải đình lại.

- Cậu không học nữa. Bây giờ trở về đây cậu tính làm việc gì?

- Để coi phải đi lính hay không. Nếu không đi lính thì tiếp học ôn sách vở mà chờ thời vận.

Ông Thuần tiếp nói:

- Hôm qua thằng Hào về nói làm trai, hễ có giặc thì ai cũng phải đi ra đi lính đặng dẹp giặc giữ nước cứu dân. Tôi nghĩ thuở nay ở tỉnh nào nhà nước cũng có sẵn những đội vệ binh. Có giặc thì gom binh lính lão luyện đó mà xua ra trận, chớ dân làng có tập rèn chi đâu mà biết đánh giặc. Huống chi tôi già mà có một mình nó, lại thuở nay nó học chữ, chớ có biết võ nghệ đâu mà đi lính. Vậy nó cứ ở nhà mà học ôn, chừng nào có lịnh quan trên dạy làm sao rồi sẽ hay.

Ông Bá hộ cũng có con trai, ông nghe như vậy ông rất hài lòng, nên ông nói:

- Lời anh phân nghe được lắm. Tôi cũng có một thằng con trai chen ngoẻn như anh. Nếu tôi cho nó đi lính thì tôi cụt tay, còn làm việc gì được.

Ông Thuận tiếp nói:

- Hồi hôm tôi lại chơi đằng nhà chú Phó Tha, gặp anh em trong xóm có bàn luận với nhau về chuyện đi lính. Ai cũng nói ở tỉnh nào ở huyện nào cũng có dân hết thảy. Giặc đánh chỗ nào thì dân chỗ đó phải chống cự. Nếu thiếu số thì đem vệ binh chỗ khác tới tiếp sức. Giặc đánh trên Gia Định, nếu trai tráng của mình ở đây đều phải lên trển hết, chừng giặc tràn tới xứ mình mới lấy ai mà cự địch. Phải có người ở nhà đặng luyện tập mà giữ làng chớ.

Ông Bá hộ càng thêm khoái chí nên ông nói:

- Anh em nói như vậy thì đúng quá. Tôi phục ngay. Trong nước có giặc cả thảy thần dân phải lo cứu nước cứu dân, tốp chinh chiến ở ngoài, tốp phòng bị ở trong, kẻ ra trận người cấy cày, mới có cơm gạo nuôi nhau mà đánh giặc chớ.

Ông Thuận nói:

- Anh em tính bây giờ trong xóm mình đây mỗi nhà đều phải mướn thợ rèn làm dao mác cho sẵn để khi hữu sự mình có binh khí mà ra trận.

- Ai bày kế đó thật là hay. Phải lo trước như vậy mới được. Anh biểu anh em sắm binh khí đi. Ai không có tiền thì nói cho tôi biết tôi sẽ tiếp sức cho.

- Cha chả, mà có binh khí rồi con em nó không biết cách dùng thì có ích gì đâu.

- Anh hỏi thăm coi chỗ nào có thầy dạy nghề võ anh rước về đây mà nuôi để dạy bà con anh em trong xóm. Tôi lãnh tôi nuôi cho. Tôi chịu tiền công cho thầy nữa. Đừng lo sự tiền bạc.

- Được vậy thì tốt. Để tôi bàn lại với anh em.

- Ừ, anh tính đi. Phải làm cho gấp. Có thầy dạy nghề võ thì tôi cho con tôi, anh cho con anh cũng luyện tập như họ. Cậu Hào học nho giỏi. Cậu tập nghề võ, cậu cưới vợ rồi cậu ở đây cầm đầu đội binh xóm tre của mình được mà. Này, tôi mời anh với anh Phó Tha xế mát qua nhà tôi nhậu nhẹt rồi anh em mình bàn tính chuyện đó lại cho kỹ đặng bắt đầu thực hành cho sớm.

- Được. Xế tôi ra.

- Hồi sớm mơi anh Phó Tha đi thăm ruộng, bây giờ chắc anh chưa về tới. Để tôi về tôi ghé tôi mời nhắn với vợ con ảnh. Đến xế anh đi ngang cửa anh kêu ảnh đi với anh.

- Được. Xế mát tôi sẽ dắt ảnh ra.

Bá hộ Cầm từ giã xách dù đi về. Cha con ông Thuận đưa khách ra cửa. Ông Bá hộ đứng lại nói: "Cậu Hào ở nhà có buồn thì ra ngoài tôi nói chuyện chơi. Cậu muốn ra chừng nào cũng được hết. Tôi ít đi đâu".

Hào gặc đầu đáp lễ. Ông Bá hộ giương dù che đi về.

Đến xế ông Thuận sửa soạn đi ra nhà ông Bá hộ. Ông hỏi Hào muốn đi theo chơi hay không, Hào nói Hào ít uống rượu nên xin phép để bữa khác rồi Hào sẽ đi thăm.

Ông Thuận dặn con chiều ở nhà ăn cơm, đừng chờ ông, rồi ông đi.

Hào lấy một quyển sách đem lại võng nằm đọc.

Con heo quắn ở ngoài sân đi vô, đứng tại cửa kêu ịch ịch ít tiếng rồi co giò nằm phịch xuống đó, mắt lim nhim, đuôi ngúc ngoắc.

Tối một lát Ông Thuận mới trở về tới. Ông bước vô nhà có con chó vàng chạy theo ngoắt đuôi mừng.

Hào hỏi ông ăn cơm hay chưa, thì ông cười đáp:

- Còn ăn gì được nữa mà con hỏi. Ông Bá hộ đãi một tiệc quá xá, mời một mình cha với chú Phó Tha, mà ông làm một con vịt lại kềm thêm một con gà nữa, làm ăn no muốn nứt bụng.

- Nhà có cơm tiền, không mấy khi mời khách nên xài lớn một lần, có hại gì. Lại vịt gà nuôi trong nhà sẵn, có mua chát gì mà sợ tốn tiền.

- Con có biết tại sao mà bữa nay ông bày tiệc như vậy hay không? Ổng nghe có giặc ổng sợ, nên ổng trút hồ bao ra. Nhà ổng có tiền lúa nhiều, nếu giặc tới bà con trong xóm bỏ chạy vô rừng mà trốn hết thì giặc ráp vác tiền xúc lúa ráo, ổng còn gì mà giàu nữa.

- Ông mời cha với chú Phó Tha mà ổng đãi rồi ổng tính làm sao?

- Ông tính nhiều chuyện ngộ lắm con à. Ổng tính chuyện lợi ích chung trong làng trong xóm, mà cũng ích lợi riêng cho ổng luôn cho nhà mình nữa.

- Sao mà ích lợi riêng cho nhà mình?

- Ây, để thủng thẳng cha nói cho con nghe. Ông Bá hộ nói nếu có giặc đến đây bà con trong xóm phải đấu cật đấu lưng mà chiến với giặc một trận cho chúng nó biết danh người xóm tre nầy. Mà muốn chiến đấu cho đắc thắng, thì ngay bây giờ phải:

"Thứ nhứt: kiếm rước một ông thầy nghề võ thiệt giỏi để rèn tập đàn ông con trai trong xóm cho biết cách chiến đấu. Nuôi và trả tiền công cho thầy dạy võ thì ông Bá hộ bao hết, người trong xóm khỏi lo khoảng đó.

Thứ nhì: kiếm rước một anh thợ rèn về trong xóm đặng nổi lò rèn mác thong, đại đao, đoản đao, chĩa ba, để dùng làm binh khí, ai có sắt có thép thì đem lại lò đặng thợ rèn cho. Ai có tiền thì trả tiền công cho thợ. Ai không có tiền thì ông Bá hộ giúp cho.

Thứ ba: vô rừng đốn cây đem về chặt ra làm nọc mà chặn mấy nẻo đi vô xóm, tổ chức canh phòng thủ cho chắc chắn, hễ nghe động gần xóm thì ngày đêm phải phải cắt người canh chừng. Đốn cây thì lấy ghe của ông mà chở, chỗ nào không có rạch cho ghe vô thì ông cho mượn trâu với xe mà kéo về.

- Ông Bá hộ tính mấy việc đó thì hay quá. Có giặc thì phải làm như vậy mới được, chớ giặc tới bỏ chạy hết thì giặc dọn đồ hết rồi đốt nhà càng khổ. Thà chết cho biết mặt dân Việt Nam nầy cũng có khí hùng dõng, dầu không hơn thì cũng bằng họ, chớ có thua đâu. Ông Bá hộ tính như vậy rồi cha với chú Phó Tha chịu hay không?

- Chịu lắm chớ. Chú Phó Tha nói chú có quen với một thầy nghề võ trong giồng Tháp, ngày mai bổn thân chú vô đó chú cậy ra đây mà dạy trai trong xóm. Còn thợ rèn thì trên vàm sông Tra có chú thợ Phi rèn đồ bén lắm. Ông Bá hộ nói để ổng cậy thằng Hai Chỉ bơi xuồng lên nói chuyện với chú. Như chú chịu xuống ở đây mà rèn binh khí cho mình sẽ cho ghe lớn lên rước chú và chở lò về đây cho chú ở làm.

- Còn đốn cây làm nọc mà chặn mấy nẻo vô xóm, biết sai ai? Biểu họ đi làm họ chịu hay không? Mình có quyền gì mà ép họ?

- Cái đó khó một chút, bởi vậy ông Bá hộ cậy hai cha con mình. Ông nói trong xóm có một mình con học giỏi, ai cũng vị con. Ông cậy cha, ngày mai cha con mình đi từ đầu xóm đến cuối xóm mời hết mỗi nhà cho một người thay mặt sáng mốt tựu trên sân Bá hộ. Con đứng ra nói chuyện giặc giã rồi cắt nghĩa các cách mình sắp đặt phòng thủ cho mọi người biết. Rồi đó con lật sổ biên tên họ và tuổi hết thảy đàn ông con trai từ 18 tuổi sắp lên ở trong xóm, đặng biết số cường tráng là bao nhiêu, số lão hạng được bao nhiêu. Nhân dịp đó ông Bá hộ mới cho ai nấy biết phần ông muốn giúp cho bà con trong xóm nên ông lãnh nuôi thầy dạy nghề võ và ai không đủ sức sắm binh khí thì ông tiếp giúp cho. Còn việc đốn cây để lập hệ thống phòng thủ, thì ông sẽ cho tôi tớ đi đốn cây liền để làm gương. Ông sẽ khuyên bà con trong xóm ai cấy rồi nên rảnh rang thì ra công đi đốn cây đem về để làm lợi ích chung. Cha đã hứa lời với ông rồi. Sáng mai cha sẽ sai Tư Cầu đi mời bà con trong xóm trưa mốt tựu lại sân ông Bá hộ đặng nghe bàn việc công ích.

- Được. Lập sổ kiểm điểm đàn ông con trai thì con giúp cho. Cắt nghĩa về sự lợi ích của việc phòng thủ trong xóm thì con cũng nói được. Mà theo lời cha nói nảy giờ, thì con thấy việc tính làm đó có lợi chung trong xóm và lợi riêng cho nhà ông Bá hộ, chớ có lợi riêng gì cho nhà mình đâu.

- Có. Cái lợi của mình cha chưa nói tới. Bây giờ để cha nói cho con nghe. Hòi chiều ăn uống mà bàn tính cuộc đề phòng giặc giã xong rồi, ông Bá hộ mới nói thuở nay ổng thấy con nhà nghèo mà ham học ổng thương. Ổng có tính sẽ gả con gái của ổng cho con. Con Quyên năm nay đã 22 tuổi rồi. Bây giờ có giặc giã con học không được nữa, còn cuộc thi cử thì không biết chừng nào mới mở khóa thi được. Con về ở nhà đọc sách chớ không biết làm việc gì. Vậy ổng hỏi như cha bằng lòng thì ổng gả con Quyên cho con. Ổng thương ổng gả nên ổng không đòi lễ vật chi hết.

- Ổng nói như vậy cha chịu hay không?

- Cha thấy ông Bá hộ thiệt tình, cha nghĩ con Quyên dễ coi lại có hạnh, lại thêm có chú Phó Tha đốc riết, chú nói con với con Quyên xứng đôi vừa lứa lắm, bởi vậy cha hứa lời với ông Bá hộ rồi.

Thuở nay người Việt chăm học chữ nho, không biết chữ Pháp, hoặc chữ Anh hoặc chữ Huê kỳ như bây giờ, mà sách nho thì không có dạy cái thuyết tự do kết hôn. Trong gia đình bề cư xử đều do phong hóa cổ truyền. Việc cưới vợ gả chồng thuộc quyền cha mẹ định, dầu trai dầu gái cũng vậy, cha mẹ định đâu thì phải chịu đó, không được phép cãi.

Hữu Hào nghe cha nói đã hứa cưới con gái ông Bá hộ Cầm cho chàng thì chàng châu mày nhưng không dám cãi chỉ nói:

- Chớ chi con biết bữa nay ông Bá hộ mời cha ăn uống đặng nói chuyện gả con gái, thì con thưa trước với cha khoan nhận lời của ổng.

- Sao vậy?

- Việc giặc giã không biết nó biến chuyển thế nào. Nếu con phải đi lính, thì có vợ sẽ thêm một mối lo cho con nữa.

- Ai cũng nói con không có đi lính đâu mà lo. Mà dù con có ra giúp nước đi nữa, thì để vợ ở nhà càng có ích chớ đâu có hại. Cha suy nghĩ kỹ rồi cha mới nhận lời. Con vào làm rể nhà ông thì con vinh vang chớ có nhục nhã chi đâu. Việc thi cử coi thế hết trông mong, mà con cũng cưới vợ được chỗ giàu sang, vậy cũng có phước. Còn một điều nầy nữa mình bây giờ chỉ có hai cha con, không còn thân tộc nào hết. Thằng Cầu là cháu họ, nhưng nó khùng khịu không đáng kể. Đời giặc giã ví như con phải đem thân ra giúp nước, cha đã 60 tuổi rồi, cha ở nhà một mình, khi mưa gió thì tắt lửa tối đèn cha biết cậy nhờ ai. Cưới vợ cho con, dầu có bề nào ít nữa cũng có được con dâu ở nhà hủ hỉ với cha. Lại làm sui với ông Bá hộ là người có cơm tiền, nhưng con phải đi lính, cha ở nhà rủi cha có chết, thì có lẽ ông sui sẽ chôn cất giùm, chớ không lẽ làm ngơ.

- Cha nghĩ như vậy thì phải lắm. Nhưng việc giặc giã lôi thôi đây không hiểu thế cuộc sẽ xoay cách nào. Vậy con xin cha chịu lời với ông Bá hộ thì chịu, nhưng phải chậm chậm mà xem thế cuộc, chớ không nên nài cưới gấp. Nếu như giặc yên mau, thì năm tới sẽ có khoa thi. Con cần phải rảnh trí để mà học, chừng con thi rồi sẽ cưới. Còn nếu như giặc tràn lan khắp trong xóm, thì cũng để con rảnh đặng lo, bổn phận làm trai, chừng nào giặc xong rồi sẽ hay.

- Con muốn như vậy thì được. Để bữa nào cha nói chuyện lại với ông Bá hộ. Nếu ổng muốn gả con thì cha xin bỏ trầu cau, cũng như cắm hàng rào thưa vậy thôi, đợi thời cuộc thuận tiện rồi sẽ làm lễ thân nghinh.

Bàn tính xong rồi cha con mới gài cửa tắt đèn đi ngủ.

Hai vợ

IV

Nhân dân ở trong nguồn Khổng Tước, trước kia nhờ Kiến Hòa tiên sanh ở Sơn Qui tiếp nhau mấy đời mà gieo rắc đạo thuần túy trong các xóm làng, rồi lại còn nhờ Hoài Quốc công Võ Tánh treo gương anh dũng sáng ngời ở giồng Tre nữa, bởi vậy đàn ông cũng như đàn bà, người già cũng như người trẻ, cả thảy đều mến đất nước, yêu giống nòi, biết ham nghĩa nhân, dám liều sanh mạng để cứu dân giữ nước. Trước gặp nội loạn Tây Sơn, người đem nghề văn, kẻ đem nghiệp võ giúp cho triều đình bình loạn phục hưng. Nay nghe có giặc ngoại xâm, lại càng thêm hăng hái đoàn kết làm một khối mạnh mẽ để chống với giặc.

Nhân dân sẵn có ý chí như vậy, nên công cuộc sắp đặt để phòng thủ xóm Tre được tiến hành rất dễ dàng.

Ông Thuận sai Tư Cầu đi mời nhóm tại sân ông Bá hộ Cầm thì mỗi nhà đều có chủ nhà hoặc đàn ông hoặc đàn bà đến dự mà nghe nói chuyện. Ông Bá hộ, Ông Thuận với Phó Tha làm đầu cuộc hội hiệp này, nhưng biểu Lê Hữu Hào thay mặt báo tin cho bà con trong xóm hay binh đội pháp đã chiếm thành Gia Định. Cử tọa nghe tin thì xao xuyến, Hào nhơn người ta xúc động mới bày tỏ các cách của người trưởng thượng trong xóm tính sắp đặt bảo thủ sanh mạng và tài sản chung với nhau. Ai nấy đều bằng lòng góp sức vào cuộc công ích đó, không có một người nào thối thác.

Hào đã có dự bị giấy, viết, mực sẵn sàng, liền hỏi từng nhà mà biên tên tuổi đàn ông. Biên đủ rồi đếm lại thì được:

58 người cường tráng từ 18 tuổi đến 40 tuổi.

47 người từ 41 tới 60 tuổi,

12 người già từ 61 tuổi sắp lên.

Hơn 20 người đàn ông rảnh rang nên tình nguyện đi đốn cây để làm nọc. Còn tập luyện võ nghệ và đặt rèn binh khí thì ai cũng chịu hết.

Cuộc nhóm xong rồi người trong xóm rả ra mà về. Ông Bá hộ mời riêng Phó Tha với hai cha con Ông Thuận ở lại dùng cơm với ông đặng sắp đặt việc công.

Hai Chỉ lên vàm sông Tra thương thuyết với thợ rèn Phi thì chú thợ chịu dọn đồ xuống ở đặng rèn binh khí. Ông Bá hộ kiếm một chỗ đất trống, biểu bạn trong nhà đốn cây lá mà cất cái trại để làm lò rèn. Trong ít bữa trại cất xong, ông cho người chèo ghe lên rước thợ Phi và chở đồ đạc xuống, rồi khởi công rèn binh khí liền.

Trần Khoan là thầy nghề võ ở giồng Tháp đã có hứa hẹn với chú Phó Tha nên đúng ngày hẹn thầy cũng lên tới. Phó Tha dắt lại giới thiệu với ông Bá hộ thì ông tiếp rước mà nuôi trong nhà. Ông dắt đi lựa một cái sân lớn ở giữa xóm để làm võ trường. Mấy người trai trẻ trong xóm ráp lại dẩy cỏ, ban đất cho bằng thẳng, rồi bắt đầu tập dượt.

Cây đốn trong rừng chở về thì hạng người 41 tuổi sắp lên lãnh lo cưa khúc mà đóng nọc hoặc cắm rào, để chặn các nẻo vô xóm.

Ai cũng phải tập võ nghệ hết thảy, nhưng ngoài việc đó mỗi người còn phải có phận sự riêng hễ có rảnh việc nhà thì phải giúp công vào ra phòng thủ.

Lê Hữu Hào làm như thơ ký trong xóm, tuy vậy cũng phải tập võ như người ta, song khỏi làm công việc nặng nề cực nhọc. Nhưng mà mỗi ngày chàng phải đi một vòng để xem xét mọi việc, xem tập võ, xem rèn đồ, xem đóng nọc rồi đi luôn ra nhà ông Bá hộ đặng cho ông hay coi có việc chi trắc trở hay không.

Ông Bá hộ thấy tất cả anh em lớn nhỏ trong xóm đều xuôi thuận theo ý ông, ai cũng tận tâm giúp công sức vào cuộc phòng thủ thì ông lấy điều hài lòng. Ông muốn làm cho trong xóm hiểu đương lúc gặp nạn dân ách nước phải coi nhau như con một nhà, phải giúp đỡ nhau, đừng nghi kỵ nhau, bởi vậy ông định xuất tiền mà trả tiền công cho thợ rèn binh khí, ông không cho ai trả tiền hết. Ông lại rao cho trong xóm biết, ai thiếu lúa ăn thì đến nói với ông mà mượn mà qua mùa gặt sẽ trả lại cho ông chẳng cần phải đi mua tốn tiền.

Người trong xóm hay ông Bá hộ có lòng từ thiện như vậy lại càng cảm mến ông hơn nữa, càng lo giữ gìn tiền lúa của ông đặng mà nhờ, không còn nói của họ của mình gì hết.

Thấy công việc phòng thủ tiến hành mạnh mẽ, ông Bá hộ mới nhắc ông Thuận về cuộc hôn nhơn của hai trẻ. Ông Thuận nói rằng Hào được ông Bá hộ chiếu cố thì Hào mang ơn vô cùng. Ngặt trong lúc nước đương có giặc, không biết tình hình biến đổi ra thế nào. Hào nghi ngại sợ đi lính. Bởi vậy Hào xin ông Bá hộ huỡn cưới hỏi trong ít tháng, chờ xem coi giặc có đứt thì sẽ trình bày lễ cưới.

Ông Bá hộ nói:

- Cháu sợ cưới gấp, rủi có nó bị đòi đi lính nó bỏ vợ ở nhà, vợ nó buồn. Tôi hiểu ý nó rồi, nó sợ như vậy cũng phải. Thà chưa thành vợ chồng thì thôi, chớ thành vợ chồng rồi mà phải phân rẻ tự nhiên hai đứa buồn rầu, thương nhớ nhau. Hễ tôi nói thì không bao giờ tôi nuốt lời. Tôi nói tôi gả con Quyên cho cháu Hào, thì bao giờ Quyên cũng là vợ của cháu Hào, chớ không được làm vợ ai khác.

"Nhưng muốn cho hai bên đừng nghi ngờ điều chi hết, lại làm cho người ngoài hay biết đặng đừng có dòm ngó con Quyên nữa, mình chọn bữa nào nhằm ngày tốt, tôi mời ít người khách đến nhà tôi, anh cũng mời vài người khách đi cùng anh và Hào đến nhà tôi là lễ "bỏ trầu cau". Tôi nấu ít mâm cơm mà cúng cho Hào lại ra mắt ông bà đặng cho chòm xóm họ hay từ ngày đó hai đứa nó được gọi anh em mình là cha, rồi ít tháng hết giặc, hoặc ra giêng gặt lúa rồi, trời khô ráo mình sẽ làm lễ cưới."

Ông Thuận chịu.

Cách mươi bữa sau cha con Ông Thuận vận khăn đen, mặc áo dài đi với vợ chồng Phó Tha và vợ chồng ông Bảy Hiệp đến nhà ông Bá hộ làm lễ "bỏ trầu cau".

Ông Bá hộ đã có mời Trần Khoan, là thầy nghề võ, mời khách vài cặp nữa, đã ngồi sẵn trong nhà. Trên bàn thờ ông bà thì đồ cúng đã xong, nhang đèn đã đốt đỏ.

Họ đàng trai bưng trầu cau đến. Chàng rễ làm lễ ông bà cha mẹ, rồi người trong nhà dọn cỗ đãi khách ăn uống.

Kể từ ngày đó Lê Hữu Hào là rể của ông Bá hộ Hà Văn Cầm. Hà Thị Quyên là dâu của ông Lê Hữu Thuận. Trong xóm trẻ già đều hay hết thảy.

Ngày lụn tháng qua, lúa trổ rồi đến lúa chín, nhân dân xóm Tre luyện tập võ nghệ rất hăng hái nhưng không thấy giặc giã gì hết, mà cũng không gặp được người ở miệt Gia Định xuống đặng hỏi thăm.

Gần tới Tết, người trong xóm ban ngày đều phải ra ruộng gặt lúa chỉ tập võ ban đêm mà thôi nên cũng không thao luyện được.

Rào giậu chung quanh xóm đã hoàn thành chắc chắn rồi.

Thợ rèn Phi rèn binh khí đủ dùng, nên xin cho ghe chú về sông Tra ăn Tết.

Ra giêng lúa chỉ còn một vài đám trổ muộn, chớ đồng đã gặt sạch hết rồi. Ông Bá hộ mướn một người lên Gia Đinh dọ thám tình hình chiến sự thế nào đặng cho Hào làm lễ cưới với cô Quyên cho rồi.

Người trẻ tuổi nhút nhát không dám đi.

Ông Thuận quyết lãnh sứ mạng đi dọ thám tin tức. Ông Bá hộ biểu dọn một chiếc ghe nhẹ 2 chèo cho 10 quan tiền với gạo muối đủ ba người ăn trong 10 ngày và lựa hai ông già còn sức khỏe chèo cho Ông Thuận đi.

Ông Thuận đi đã 6 ngày mà chưa thấy về. Ông Bá hộ với Phó Tha bắt đầu ngóng trông, lại có ý lo.

Qua ngày thứ 7 ghe Ông Thuận về tới. Ông nói ghe ông lên tới Cần Giuộc bị binh lính huyện Trường Bình tra xét không cho đi. Ông phải ở đó hết một ngày một đêm. Chừng người ta cho đi ông mới vô vàm Rạch Cát. Bị cản nữa. Ông phải trở lại hỏi thăm đường sá. Nhờ có mấy nhà ở rạch chỉ chừng, ông mới dò theo xẻo nhỏ lọt được vào Rạch Ong. Nhưng tới ngả ba Rạch Đĩa thì có đồn của mình đóng đó, họ cản lại không cho đi tới nữa. Ông Thuận lại day ghe trở lại, thấy có nhà ở dựa mé ông mới đậu lại cho hai người chèo nghỉ, còn ông lên bờ kiếm thế hỏi thăm tin tức. May gặp được một ông già thạo việc, ông mới cho hay rằng quân đội Pháp vẫn còn chiếm thành Gia Định nhưng không biết số bao nhiêu. Mà cách hai ngày trước có một đoàn tàu kéo neo chạy trở ra phía Nhà Bè, không biết đi đâu. Hỏi binh lính của quân ta đã có giáp trận với địch lần nào chưa, thì ông già nói binh ta từ các tỉnh lần lượt kéo về mấy tháng nay thì đóng bao chung quanh thành, ở ngọn Rạch Cát, chùa Cây Mai, Phú Thọ, Chí Hòa, chỗ nào cũng có. Binh Pháp đi thám dọ tình hình, hễ ló ra khỏi thành thì bị quân ta vây đánh, nên rút trong thành không dám ra nữa. Không biết tướng giặc biết quan dân ta rút binh các tỉnh đem về đây thì các tỉnh đều bỏ trống nên 2 bữa trước họ cho tàu đi đó là chở binh đi đánh chiếm thêm mấy tỉnh khác hay không.

Ông Bá hộ cùng mấy người lớn trong xóm và cậu Hào, nhứt là cậu Hào nghe tin sau chót đó thì ai cũng lo ngại, nghĩ đoàn tàu lui ra Nhà Bè đó sẽ chia nhau một tốp xuống Vàm Tuần rồi do sông Bao Ngược vào đánh huyện Tân Hòa với phủ Tân An, còn một tốp ra Vàm Sáng rồi do ngả Cửa Tiểu vào đánh Định Tường, Long Hổ.

Bây giờ ai nấy đều lo gắt cuộc phòng thủ lại, dặn mấy nhà trở cửa ra sông Bao Ngược phải coi chừng tàu, hễ ngó thấy tàu thì phải nổi mõ đặng cho trong xóm hay biết. Còn ban đêm thì cắt người thay phiên mà canh chừng đặng báo động.

Ông Bá hộ mắc lo việc nầy nên ông phải tạm dẹp đám cưới của cô Quyên lại, ông không nhắc tới nữa.

Còn Ông Thuận từ bữa đi dọ tin tức về nói lại, thì ông thấy con ông có sắc buồn lo, ông nghĩ có lẽ nó học giỏi, nó nhận thấy tình hình chiến cuộc có chỗ nào nguy biến hay sao nên nó mới lo như vậy. Ông thấy rồi ông cũng không muốn tính cưới vợ gấp cho con.

Cách 2 bữa sau, lối mặt trời đứng đầu thì có Lý Quang Minh, một bạn học của Lê Hữu Hào nhà ở giồng Sơn Qui, ra hỏi thăm nhà ông Thuận đặng kiếm Hào nói chuyện.

Cha con ông Thuận có ở nhà. Hào thấy bạn lật đật bước ra cửa tiếp mừng, dắt vô giới thiệu cho cha biết. Ông Thuận biết Minh cũng là học trò của ông Nhiêu Hiền như con mình, ông niềm nở mời ngồi, kêu Tư Cầu biểu nhúm lửa nấu giùm một nồi cơm cho khách ăn vì khách ở xa phải đi sớm, nên ra tới đây chắc khách đã đói rồi.

Hào hỏi thăm sức khỏe của thầy, tiếc rằng nhà có một cha một con, lại gặp lúc ly loạn trong xóm người ta giao cho sắp đặt việc phòng thủ, nên về hơn nửa năm rồi, nhưng không vô Sơn Qui được mà thăm thầy thăm bạn.

Ông Thuận nghi Minh ra kiếm Hào phải có việc chi cần kíp, chớ không lẽ đi chơi, bởi vậy ông hỏi:

- Cháu ở trỏng gần huyện lỵ, cháu có nghe tin giặc giã hay sao không cháu?

- Thưa bác, việc chắc phải dây dưa lâu lắm. Anh em chúng tôi học, mong thi khóa năm nay. Mà thời cuộc biến động như vầy thì chắc không có thi rồi. Trong huyện mình đây thì êm. Nhưng ở miệt trên sắp có đại sự rồi.

- Ừ, anh em trong xóm cậy tôi đi lên Gia Định nghe tin tức. Tôi về 2 bữa rày. Tôi lên tới Rạch Ong rồi bị đồn cản, nên không thể đi sâu vô nữa được. Nhưng tôi đã nghe chắc binh đội Pháp còn chiếm thành Gia Định, bị binh mình bao vây 4 mặt nên không dám ra. Thế mà cách mấy bữa trước đây có một đoàn tàu giặc kéo đi ra hướng Nhà Bè. Tôi nghi chúng bị mình vây ở trển, chúng biết ở các tỉnh hết lính, rồi chúng lén chở binh xuống đánh chiếm miệt dưới.

- Thưa bác. Bác chưa nghe huyện mình có điều chi lo sợ. Lại quan huyện lại có sắp đặt cuộc phòng thủ hẳn hoi. Tại Vàm Sơn Qui, Vàn Gò Gừa đều có xây đồn lũy chắc chắn. Ngày đêm có quân lính canh giữ. Tàu giặc không thể vô được.

- Nếu có vậy thì bớt lo. Ở xóm nầy dân sự hiệp nhau tổ chức cuộc phòng thủ đàng hoàng lắm. Bà con trong Sơn Qui cố lo phòng thủ hay không?

- Thưa, cũng có lo. Chỗ nào cũng phải vậy.

- Nghe cháu nói chuyện nãy giờ tôi vừa lòng lắm. Làm con dân trong nước, hễ có giặc thì già trẻ chung lo giúp nước cứu dân chớ sao. Ở xóm nầy hạng trai trẻ mấy tháng nay tập luyện võ nghệ dữ lắm. Ai cũng hăng hái giết giặc tới đây sẽ sanh tử một trận cho chúng biết mặt.

- Thưa, cháu mới nghe hiện giờ đằng mình đương sắp đặt mà đánh trên Gia Định đặng đuổi giặc và khắc phục thành trì lại.

- Vậy hả? Chừng nào mới đánh ? Hôm lên trển tôi có nghe gom binh các tỉnh về nhiều lắm, nhưng có đông mà cứ vây ngoài xa. Còn chờ gì nữa mà không chịu hãm thành không biết.

- Thưa bác có chuyện như vầy, để cháu nói rõ bác với anh Hào hay. Số là cách mấy bữa trước quan Huyện có gởi tờ mời thầy của mấy cháu vô nói chuyện. Thầy cháu về nói rằng có quan trên tỉnh xuống huyện cho hay rằng triều đình sắp phái vài vị đại thần vào Nam để cầm binh đánh đuổi giặc. Có lịnh dạy cụ Tôn Thất Hiệp phải góp về cho đủ số muôn binh đợi quan triều vào rồi sẽ khai chiến. Binh của mình thì không sợ thiếu, hiện giờ gom được hơn tám ngàn rồi. Trong một tháng sẽ đủ số.

- Có nghe nói có kêu hàng trai trẻ của mình đi lính hay không?

- Thưa, không. Có lẽ miệt dưới còn sẵn lính nhiều. Nhưng gom binh lính về đông quá thì phải lo cơm gạo đặng nuôi lính, lo cất trại cho lính ở. Đã vậy mà còn cần dùng người biết chữ đặng lập bộ sổ tướng sĩ mỗi đội, viết phiếu để truyền lịnh của cấp chỉ huy, viết tờ thôi thúc các huyện các phủ nạp lương thực. Lính thì ít biết chữ lại mắc lo tâpj luyện. Quan thì mắc lo điều khiển, không rảnh mà lo đến sổ sách giấy tờ.

- Chắc bây giờ quan trên đòi mấy người có học như cháu, như thằng Hào, nhập ngũ đầu quân phải hôn?

- Thưa phải. Chính vì vậy, nên quan trên phái người xuống huyện mời mấy ông Nhiêu dạy học mà cậy gom học trò lại rồi quan huỵên cho ghe đưa lên Gia Định mà giúp công trong cuộc kháng chiến.

Ông Thuận ngẩn ngơ.

Hào cười và nói:

- Xưa rày con thường nói với cha thế nào con cũng phải bị kêu đi lính. Thiệt quả như vậy thấy hôn cha?

Ông Thuận lặng thinh.

Minh nói với Hào:

- Mình đi lính mà làm việc giấy, chớ không phải ra trận.

- Dầu ra trận cũng không sợ gì. Thầy biểu anh em trong trường phải đi hết hay là thầy lựa người mà thôi?

- Quan trên cậy đi hết. Trường nào cũng vậy.

- Người ta đi thì mình phải đi với người ta. Giúp nước mà mình trốn tránh ai coi mình ra gì. Ai đi cho mấy anh em khác hay?

- Trưa hôm qua thầy về mượn người trong xóm đi kêu, dặn chiều mai phải tới đặng sáng mốt thầy dắt vô huyện. Anh em khác ở gần, ở giòng cát, giòng Nàu với Sơn Qui nên họ đã hay rồi. Có một mình anh ở xa nên thầy cậy tôi ra cho anh hay đặng sửa soạn rồ chiều mai vô cho tới.

Tư Cầu bưng mâm cơm lên để giữa ván. Cha con ông Thuần ân cần mời Minh ngồi ăn. Ông Thuần hỏi Minh:

- Cháu có vợ con hay chưa?

- Thưa cháu có vợ mới sanh một đứa con được 4 tháng.

- Cha mẹ còn sống toàn hay không?

- Thưa, cháu còn có bà mẹ già, may cháu có người chị không chịu lấy chồng, nên cháu đi thì chị cháu với vợ cháu ở nhà với bà già cháu.

- Có vậy cũng đỡ khổ. Phận thằng Hào tôi có hai cha con. Hễ nó đi thì tôi ở nhà trơ trọi một mình. Tôi nói vợ cho nó rồi, nhưng mà sợ đi lính rồi bỏ người ta, nên nó dục dặc chưa chịu cưới. Tuy vậy mà không hại gì lắm. Thằng Hào đi thì tôi ở nhà có chòm xóm. Dầu có bề nào người ta không bỏ tôi.

- Thưa, bác tuy già nhưng sức khỏe cũng còn đủ.

- Phải tôi còn mạnh.

Ông Thuận khuyên khách ăn cơm cho no rồi ở nhà nói chuyện chơi với Hào, để ông đi xóm một lát. Ông biểu Hào sửa soạn rồi sáng mai dậy sớm đi với nhau. Đi liền bây giờ Minh mệt. Mà vô Sơn Qui ban đêm không ích gì.

Minh ăn uống rồi, Hào trải chiếu, anh em nằm đàm luận về chiến cuộc với nhau. Cả hai đều hiểu nghĩa vụ của hạng trai trẻ là cứu dân giữ nước, bởi vậy người sắp lìa cha già, người sắp từ mẹ yếu với vợ nhỏ con thơ mà đi trả nợ non sông, nhưng cả hai đều lo ngại về việc gia đình chớ phận mình dầu rủi hay may cũng không buồn không sợ gì hết.

Đến xế một lát ông Thuận trở về thấy hai trẻ nằm nói chuyện thì ông hỏi con có sửa soạn hành lý đặng khuya đi hay chưa. Hào nói để gói vài cái quần với vài cái áo mà ôm theo vậy thôi, chớ có hành lý gì đâu mà sửa soạn.

Ông Thuận nói:

- Hồi nảy cha có đi thẳng ra ngoài ông Bá hộ cha cho ổng hay có lịnh đòi nên khuya nay con phải vô Sơn Qui đặng hiệp với anh em bạn học mà lên Gia Định.

- Ông già vợ con hay con đi ổng có tỏ ý buồn hay không cha?

- Buồn thì ổng không buồn, vì ổng hiểu quan trên cần dùng hạng hay chữ, con có học thì con phải đi, lại đi với chúng bạn chớ phải đi một mình con hay sao mà buồn. Nhưng ông tiếc con đi rồi trong xóm không có người làm sổ sách tờ, bất tiện có chỗ đó mà thôi. Mà trước khi đi con ra từ biệt cha mẹ vợ con một chút cho đủ lễ chớ.

- Con phải từ giã rồi mới đi được. Vì khuya phải đi sớm cho mát, thôi để con ra nói liền bây giờ đặng khuya con khỏi ghé. Anh Minh nằm đây mà nghỉ nghe hôn. Tôi đi một chút rồi tôi về.

Hào vô trong thay áo rồi đi liền.

Vợ chồng ông Bá hộ Cầm đương ngồi trong nhà bàn luận về sự lịnh đòi rể đi lính, bỗng thấy Hào xăng xớm đi vô sân. Hà Văn Ký, là con trai lớn của ông Bá hộ, đương coi cho bạn xúc lúa ngoài sân bưng vô đổ vô lẫm, cậu cũng ngó thầy Hào vô nên cũng đón mà hỏi:

- Hồi nãy nghe bác nói có lịnh đòi dượng đi lính phải hôn?

- Phải.

- Chừng nào dượng đi?

- Khuya nay vô Sơn Qui hiệp với anh em bạn đặng quan huyện cho cho ghe đi một lượt.

- Tôi lớn hơn dượng có một tuổi. Không biết họ đòi tới tôi hay không?

- Chắc không có đâu anh Hai. Nghe nói lính có sẵn rồi chớ không phải thiếu số nên đòi thêm nữa. Quan trên đòi anh em tôi, đây là đòi tụi biết chữ đặng làm việc giấy.

- Nếu như vậy thì tôi bớt lo.

Anh vợ với em rể cùng nhau đi vô nhà.

Hào bước lại xá cha mẹ vợ và chúc cha mẹ vợ ở nhà mạnh giỏi đặng khuya chàng đi giúp nước.

Ông Bá hộ nói:

- Hồi trưa anh ra cho hay có lịnh đòi con nhập ngũ. Con đi thì trong xóm thiếu người biết chữ, nên có chỗ bất tiện. Nhưng có giặc, nhà nước cần dùng con về việc gì, phận con làm trai con phải vâng lịnh không nên từ chối. Vậy con hãy yên lòng mà ra giúp nước. Anh ở nhà với bà con trong xóm, nên con khỏi lo.

"Còn việc vợ, cha với mẹ đã định gả cho con rồi, đã có ăn trầu uống rượu của con, thì dầu nước nhà có hữu sự con chưa cưới kịp, bao giờ cha với mẹ cũng coi con Quyên là vợ của con; chừng nào con trở về thì làm lễ cưới, không mất đâu. Con ra từ giã cha mẹ đặng khuya con đi đến chiến trường mà giúp nước. Con có muốn giáp mặt vợ con đặng con nói ít tiếng mà từ biệt nó hay không?"

Hào nói:

- Thưa, nếu cha với mẹ cho phép con nói với vợ con ít lời đặng con đi, thì con đội ơn cha mẹ lắm.

Bà Bá hộ biểu Hai Kỳ vô trong kêu Quyên.

Quyên theo Hai Kỳ ra, bộ cô bợ ngợ

Bà Bá hộ nói:

- Quyên bước lại gần đây con. Chồng con ra từ giã đặng khuya nay nó đi lính. Cha con biểu kêu con ra cho nó nói chuyện một chút, rồi về sửa soạn đặng khuya nó đi.

Hào ngó ngay Quyên mà nói:

- Phận anh còn có một chút cha già. Hôm nay vì phận sự nên anh phải bỏ cha già mà đi. Tuy anh với em chưa chánh thức phối hiệp vợ chồng song đã gá lời, dầu không tình cũng là nghĩa. Vậy anh trân trọng gởi cha già lại cho em. Nếu em sẵn lòng chăm nom giùm anh, thì ơn ấy không bao giờ anh dám quên. Anh muốn nói với em bao nhiêu đó mà thôi. Anh cầu chúc cho em ở nhà an vui và mạnh khỏe.

Quyên cũng ngó ngay Hào mà đáp rằng:

- Em xin anh an lòng mà giúp nước, đừng lo việc nhà. Em chúc anh lo phận sự vuông tròn, tan giặc cho mau đặng trở về kẻo cha già trong đợi.

Bà Bá hộ cười. Bà nói với Hai Kỳ:

- Nghe nói có người khác ở Sơn Qui ra kêu nó, khách ở chờ trong nhà đặng khuya đi với nhau. Kỳ biểu bầy trẻ bắt một cặp vịt xách vô trỏng, rồi con ở ăn chơi với em một đêm rồi khuya nó đi.

Ông Bá hộ nói:

- Mẹ nó tính như vậy phải lắm. Nãy giờ tôi tính biểu nó về mời anh sui với khách đi hết ra nhà mình ăn cơm chơi. Nhưng tôi nghĩ khách lạ ra đây người ta không vui, còn phận nó thì nó phải nói chuyện với anh sui một đêm đặng cha con dặn dò nhau, bởi vậy tôi không mời. Vậy Kỳ đem vịt vô trỏng làm thịt đặng cho anh em ăn với nhau một bữa là phải.

Kỳ với Quyên đi ra sau biểu người nhà bắt vịt.

Ông Bá hộ mở rươn xe lấy hai nén bạc đưa cho Hào mà nói:

- Con đi xa đến xứ lạ quê người mà nếu có việc cần dùng tiền thì không biết ai mà mượn. Vậy con lấy vài nén bạc đây mà đem theo phòng khi bất trắc mà đỡ gạc.

Hào không muốn thọ lãnh. Nhưng vợ chồng ông Bá hộ nài ép quá nên chàng hết dám từ.

Hai Kỳ trở ra nói với cha mẹ rằng chàng có sai một người xách vịt đem trước vô trỏng rồi ở luôn đặng phụ với Tư Cầu mà làm vịt.

Ông Bá hộ biểu Hào thôi đi về đặng chơi với khách kẻo khách buồn.

Hào mới chúc thọ cầu an chon cha mẹ vợ một lần nữa rồi đi về, có anh vợ đi theo chơi.

Ông Thuận thấy nhà sui sai đem vô một cặp vịt mập để làm tiệc tiển hành Hào, ông bèn lại xóm kiếm một bầu rượu và ghé mời Phó Tha lại ăn uống cho vui.

Buổi cơm chiều đó tuy là buổi cơm ly biệt, song nhờ có khách Sơn Qui, lại có Hai Kỳ bới Phó Tha nữa, bởi vậy cha con ông Thuận vui vẻ quên buồn. Ăn gần rồi bữa có thêm ông Bá hộ vô chơi nữa làm cho ông Thuận rất vui lòng, con đi lính giúp nước cũng không bịn rịn chút nào hết.

Chơi đến qua đầu canh hai, cha con ông Bá hộ với Phó Tha tỏ lời chúc may mắn cho Hòa với Minh rồi về, nói để cho hai cậu nghỉ ngơi đặng khuya dậy sớm mà đi.

Đến đầu canh năm, ông Thuận kêu Tư Cầu dậy nấu một nồi cơm cho Hào với Minh ăn, rồi hừng sáng ông theo đưa hai cậu ra khỏi xóm. Đi ngang nhà ông Bá hộ, Hào dòm thấy cha mẹ vợ với Hai Kỳ và cô Quyên đương đứng tại cửa ngõ mà chờ. Chàng phải đứng bước mà từ biệt một lần nữa rồi ông Thuận ở lại đó, để cho Hòa mang gói với Minh ra đường cái.

Mấy người đứng tại cửa ông Bá hộ mà ngó theo, trời lờ mờ chưa sáng, lòng cảm xúc ngậm ngùi.

Hai vợ

V

Lê Hữu Hào đi rồi thì cuộc sắp đặt nghình địch ở xóm Tre có mòi lơi lần lần.

Binh khí đã rèn đủ rồi, nên thợ Phi về Vàm sông Tra ăn Tết không thấy trở xuống nữa.

Trần Khoan, là thầy dạy nghề võ, cũng về giồng Tháp từ hôm Tết rồi mỗi tháng trở lên dượt học trò đôi ba ngày mà thôi chớ không ở lâu.

Hàng trai tráng thì không có thầy kèm thúc, lại còn mắc bận việc ruộng rẫy, nên tập võ cũng dãi đãi, chỉ có tập ban đêm mà thôi.

Chí nghinh địch ở xóm Tre suy giảm như vậy không phải tại lòng dân mòn mỏi. Người làm đầu trong xóm vẫn còn hăng hái hoài. Người ta không còn hoạt động như năm trước nữa, ấy là vì cuộc phòng thủ sắp đặt xong, nhứt là nhờ có dịp Hào bị đòi nhập ngũ tùng chinh, người ta được hay binh ta cả muôn đương vây chặt quân đội Pháp trong thành Gia Định, nên giặc không thể quy động được mà phải lo.

Nhân dân xóm Tre tiếp tục sống một chuỗi ngày bình an thanh tịnh trót cả năm, đến mùa mưa theo cày cấy lệ thường, lóng nghe binh đội của ta đương xây dựng đại đồn tại Chí Hòa, đặt quân phòng thủ hẳn hoi từ ngọn Rạch Cát vòng qua tới vùng GòVấp. Tin ấy giúp cho người ta càng vững bụng hơn nữa.

Trong xóm chỉ có một mình ông Thuận có con ra giúp nước mà thôi, không nhà nào được cái vinh hạnh đó, vì vậy nên cả xóm đều kiên nể ông, làm cho ông thêm hảnh diện như là người có công lớn với dân với nước.

Vợ chồng ông Bá hộ Cầm đã có lòng thương mến Hào, lại nghĩ ai nấy đều được no ấm vui sướng, chỉ có một mình Hào phải vùi thân nơi chiến trường, có lẽ lại phải chịu bữa no bữa đói,chịu nắng nằm sương, thì tội nghiệp cho phận của rể. Bà Bá hộ nhớ Hào lúc từ giã ra đi có lời gởi gắm cha già cho vợ, nên bà thường nhắc cô Quyên phải vô thăm ông Thuận cho chọn nghĩa cha con.

Cô Quyên không quên lời cô đã hứa với Hào mà lại còn nghe mẹ nhắc nhở nữa, bởi vậy cô sốt sắng đi thăm cha chồng, thường đôi ba ngày cô vô một lần, có món ngon vật lạ cô đem vô hiến cho ông Thuận ăn. Bữa nào cô vô mà Tư Cầu mắc đi câu hay đi ra ruộng thì cô lấy chổi quét nhà, dọn dẹp trong bếp cho sạch sẽ. Cô thường hỏi ông Thuận nếu có quần áo rách thì đưa cho cô đem về cô vá, nếu có mua vải may đồ mới thì cô lãnh cắt may giùm.

Tuy chưa có lễ cưới, song cô Quyên phục dịch nhà chồng cũng như nàng dâu đã cưới rồi, cha chồng nàng dâu tiếp xúc với nhau cả năm, tình nghĩa cha con càng thêm mặn nồng sự thân thiết đôi bên càng lâu càng thêm chặt chẽ.

Mùa gặt tới nữa, mà chiến cuộc vẫn chưa có tin tức gì. Người ở xóm Tre lo chở lúa về sân, rồi đạp mà ví để giành nuôi sống.

Ông Thuận có Tư Cầu giúp sức nên mùa nầy ông có được 50 giạ lúa trong nhà. Nhà có sẵn lúa gạo, sông có nhiều cá tôm, đời sống của ông được thảnh thơi, chỉ còn trông cho mau hết giặc cho con về, đặng cưới vợ rồi tiếp tục ra công sách đèn mà chờ khoa cử.

Vừa hết mùa khô, thình lình có tin đến xóm Tre nói rằng binh ta đã thất đại đồn Chí Hòa, sau một cuộc quyết chiến kéo dài tới mấy ngày đêm. Hai bên đều bị tổn thất nặng nề, nhưng giặc lại nhờ có súng nhiều và đại bác thần công mạnh quá bắn nát đồn lũy của ta hết. Binh ta không có chỗ nương dựa mà kháng cự tự nhiên phải đổ, một phần phải qua sông Bến Nghé thối lui về hướng Biên Hòa, nhưng phần lớn thì tán loạn chạy về mé Ba Cụm Bến Lức.

Tin bất tường ấy làm chấn động cả xóm Tre. Nhân dân xao xuyến hỏi nhau bây giờ phải làm sao. Ông Bá hộ sợ dân tán đởm ngã lòng mà gây thêm tai họa, bèn cho mời ông Thuận với Phó Tha mà ra định kế tấn thối.

Ông Thuận nói:

- Binh giặc chắc đông lại có súng nhiều nên trên Gia Định quan ta có cả muôn binh mà chống giữ đại đồn không nổi đến phải đổ. Mình ở xóm Tre kể hết già trẻ chỉ có một trăm, lại cầm dao mác, chớ không có súng. Tình thế như vậy nếu giặc đến đây làm sao mà chống cự cho nổi binh giặc cũng có lẽ đôi ba trăm, mà xuống đây chắc giặc sẽ đi tàu. Xóm mình nằm sát mé sông cái, nếu giặc ở dưới tàu sạ súng vào xóm thì mình chết hết, chết vô lối, vì có được xáp gần mà đâm chém giặc được đâu. Không phải tôi nhát mà kiếm kế cho anh em trong xóm ngã lòng, đợi giặc tới mà ta bái quỵ mà xin đầu giặc. Năm nay tôi đã 62 tuổi rồi dầu có chết cũng nên cái mồ. Mà chết với đất nước thì vinh dự quá, chết như vậy đáng chết lắm chớ. Ngặt cái chết vô ích tôi không chịu. Phải làm sao đánh vùi với giặc, phải giết giặc cho được rồi dầu có chết tôi cũng vui lòng.

Ông Bá hộ với Phó Tha đồng khen ông Thuận nói phải, nhưng không tìm ra kế cho dân trong xóm xáp lại với giặc mà đánh, song khỏi bị súng đạn.

Ông Thuận mới nói:

- Tôi muốn bàn kế nầy: nếu hay tàu giặc vô sông Bao Ngược thì hết thảy những đàn bà con nít cùng hạng già cả phải chạy hết vô trong rừng rồi tản mác trốn. Còn tốp trai trẻ cường tráng thì thối vô Truông Cóc mà mai phục hai bên truông. Nếu giặc đánh huyện mình tự nhiên chúng phải đổ lên đây rồi do ngả Truông Cóc mà kéo binh vô huyện lỵ. Chúng phân binh đi qua Truông thì dân mai phục ở đó xông ra mà đánh. Chúng bị kích thình lình tự nhiên phải loạn hàng ngũ. Mình thừa thắng mà giết từng tốp. Làm như vậy chắc chắn giặc sẽ đại bại.

Ai nấy điều cho chiến lược đó là hay nhất, nên quyết áp dụng mà trừ giặc.

Nhưng mà ông Bá hộ suy nghĩ rồi hỏi ông Thuận:

- Mình phải vô rừng vô Truông hết rồi nhà cửa lúa thóc Trâu, bò bỏ hay sao?

- Để đó không hại gì.

- Sợ giặc đốt quá chớ.

- Mình ở lại đó cũng không giữ nổi, mà còn phải chết vô lối nưũa.

Ông Bá hộ dụ dự không đành bỏ nhà cửa nhưng ông không tìm ra kế nào khác để giữ của mà khỏi chết, bởi vậy ông phải lặng thinh mà chịu.

Bây giờ phải cắt người thay phiên nhau mà canh chừng tàu luôn ngày đêm, hễ thấy tàu thì đánh mõ cho hay đặng kéo nhau vô rừng vô Truông.

Canh cả tháng mà không thấy tàu bè chi hết, dân canh tự nhiên vãi đãi. Một bữa, lúc gần sáng có hai chiếc tàu chạy vô mà người canh ngủ quên không hay. Chừng tàu chạy khỏi xóm Tre rồi có người thức dậy sớm thấy mới la lên. Nhưng nghĩ tàu không ngừng mà đổ bộ nên không cho người canh đánh mỏ báo động. Tuy vậy mà nghe sạo sực trong xóm ai cũng hay hết, nhưng hay rồi kéo nhau ra mé sông ngó 2 chiếc tàu vẫn chạy luôn bởi vậy không có người nào tính rút vô rừng.

Ngày đó dân trong xóm Tre cứ dụm năm dụm bảy mà bàn luận, không ra ruộng, không đi câu, song cũng không nghe có việc chi hết.

Cách hai ngày mới hay hai chiếc tàu đó chở binh Pháp vào Vàm sông Tra và chiếm huyện lỵ Gò Công. Lính đóng mấy đồn Gò Gừa và Sơn Qui không chống cự, nên giặc không có bắn một phát súng.

Nhân dân xóm Tre nghe như vậy tức quá, tiếc giặc không đổ bộ xóm mình đặng gây ra trận Truông Cóc cho giặc ghi nhớ phải chết sống mới đoạt nguồn Khổng Tước được.

Tuy vậy mà bắt đầu mọi người chán nản. Mà trong ít ngày sau càng chán nản hơn nữa, và lần lượt nghe huyện Cần Guộc bị giặc chiếm rồi phủ Tân An cũng mất nữa, sau hết lại hay phủ Định Tường cũng không còn.

Ông Bá hộ ngồi khanh tay rầu rỉ tối ngày. Ông Thuận với Phó Tha bực tức mà đau, tức không biết Triều đình ở đâu, quan quyền làm việc gì để cho ngoại bang hống hách hoành hành mà chiếm đất đoạt thành như vào nhà không chủ.

Ông Thuận còn đau khổ về nỗi con; đại đồn đã thất thủ, đại binh đã tan hoang mà Hào ở đâu sao không thấy trở về, còn sống xót mà tản lạc theo đám đại binh để lập thế phục thù hay là chốn sa trường đã ngả gục, phơi thây chiến sĩ.

Cô Quyên vô thăm cha chồng thấy ông buồn rầu lại bịnh hoạn, cô phải lo cơm cháu cho ông. Ông Thuận thấy dâu, ông càng thêm nhớ con. Mặc dầu Quyên kiếm lời an ủi đủ cách, cô cũng không làm cho ông nguôi được.

Bữa nào Tư Cầu cũng phải ra ruộng hoặc đi câu, Quyên không nỡ để cho cha chồng bịnh mà nằm hiu quạnh một mình, nên cô thưa cho cha mẹ hay rồi mỗi ngày cô vô mà săn sóc giúp đỡ ông Thuận.

Ông Bá hộ hay ông Thuận bịnh ông lật đật vô thăm, rồi về sai người nhà đi kiếm thuốc cho ông Thuận uống. Phó Tha lại thăm ông Thuận thường thường, kiếm lời an ủi cho ông bớt buồn và chạy thuốc giùm cho ông uống.

Ông Thuận đau cả tháng, nhờ dâu chăm nom săn sóc và nhờ bạn tìm kiếm thuốc men, nên ông đã hết nóng lạnh nhức đầu. Nhưng vì tuổi lớn, lại hôi cơm tanh cá ăn uống không được, nên ông giảm sức rất nhiều. Ông đã ốm mà bây giờ cặp mắt của ông lại đỏ. Anh em trong xóm đi kiếm thuốc mắt cho ông xức con mắt. Thiệt nhờ có thuốc nên hết xốn và bớt đỏ. Nhưng nhãn quang của ông càng bữa càng thêm lu lờ, ban ngày mà ông thấy mờ mờ như ban đêm, ai vô nhà ông không nhìn mặt được, phải nói ra tiếng ông mới biết; còn đến bữa ăn cô Quyên phải ngồi gắp cá bỏ vào chén cho ông ăn, vì ông không thấy mà ăn một mình được.

Đó là một nỗi lo lắng và cực nhọc thêm cho cô Quyên nữa, thế mà cô không buồn, không than, cứ một mực chăm nuôi cha chồng, mặc dầu chưa cưới mà lại bặt tin tức.

Ông Bá hộ nghe trong Rạch Băng có một thầy thuốc trị con mắt. Ông cậy người chèo ghe vô rước thầy ra coi mà cho thuốc. Thầy vạch cặp mắt ông Thuận mà coi rồi nói mây kéo gần bít con ngươi, trong ít tháng nữa mây kéo giáp rồi ông Thuận không còn phân biệt ngày đêm gì nữa được. Bây giờ phải làm sao có thuốc xức tan đám mây đó mới thấy. Ngặt thầy không biết thuốc đó, nên thầy không dám lãnh mà trị.

Thế thì ông Thuận phải đành chịu mang tật đui, không biết đêm ngày, hết thấy trời đất, chớ không làm sao được.

Mà cô Quyên cũng phải đành chịu mang cực nhọc lo phục dịch một cha chồng mù quáng, để vẹn lời hứa với người chồng chưa cưới mà cha mẹ đã định hôn, dầu cực nhọc đến chừng nào cô cũng phải cam lòng, không được phép lẳng lơ lỗi đạo.

Hai vợ

VI

Một bữa cô Quyên nấu cơm rồi dọn cho cha chồng ăn. Cô ngồi bên chan canh gắp cá cho ông.

Ông Thuận than:

- Đại đồn thất thủ, binh ta vỡ tan. Binh đội Pháp tràn ra chiếm trị hết mấy tỉnh, việc đã lâu rồi, mà thằng Hào bặt tin. Cha nghĩ nó đã chết rồi, không còn gì mà trông nữa.

- Tuy đại binh thất trận, song cũng còn tụ tập đâu đó, chớ không lẽ chết hết. Con chắc anh Hào còn theo mấy tốp binh đó nên về chưa được chớ không chết đâu cha.

- Nếu không chết thì nó về, chớ theo đám tàn binh làm chi nữa.

- Con nhớ năm trước có người bạn học của anh Hào trong Sơn Qui ra kêu anh đi với người đó. Vậy cha để cho con kiếm người cậy vô Sơn Qui hỏi thăm coi người bạn học của anh Hào đó đã về hay chưa.

- Ừ, phải có ai rảnh cậy vô Sơn Qui hỏi thăm coi. Người đó tên Minh. Lý Quang Minh.

- Xin cha để cho con liệu.

Tối lại cô Quyên về nhà nói với ông Bá hộ rằng ông Thuận muốn cậy người vô Sơn Qui kiếm người bạn học của Hào coi về hay chưa. Nhưng người ấy về rồi hỏi hay Hào con hay mất mà không thấy về.

Ông Bá hộ sực nhớ nên ông nói:

- Ừ, phải à. Từ năm ngoái tới giờ cha quên lửng chuyện đó. Để cha cậy người đi hỏi thăm coi. Ở đây có thằng Kỳ với anh Phó Tha biết cậu Lý Quang Minh. Năm cậu ra kêu Hào đi, thì hai người nầy có ăn uống với cậu. Bây giờ vô hỏi thăm Hào thì trước hết nên kiếm nhà ông Nhiêu Hiền mà hỏi coi môn đệ của ông đều có đi lên Gia Định cũng như Hào, vậy mà có người nào đã về rồi, anh nào chưa về. Cậu Minh ở Sơn Qui nếu cậu về rồi tự nhiên ông hay, mình xin ông chỉ giùm nhà rồi mình lại đó mà hỏi. Đi hỏi thăm thằng Hào, cha còn muốn hỏi thăm việc khác nữa. Thằng Kỳ khờ lắm, nó không biết nói chuyện, vậy để mai cha nói với anh Phó Tha có rảnh đi giùm được hay không. Ảnh đi thì rảnh hơn.

Bữa sau ông Bá hộ cậy Phó Tha vô Sơn Qui hỏi thăm. Phó Tha chịu đi. Hai người dắt nhau lại thăm ông Thuận.

Ông Thuận nghe Phó Tha chịu đi vô Sơn Qui hỏi thăm coi Hào còn sống hay đã chết mà bặt tin, ông có bụng mừng, mà ông còn căn dặn Phó Tha nếu cậu Minh về rồi thì hỏi chuyện Hào và luôn dịp hỏi coi tại sao binh ta đóng cả muôn mà lại thất đại đồn, ai cầm binh giỏi quá như vậy, bây giờ có tính kháng cự nữa, hay là bỏ xuôi cho mất nước. Ông còn dặn ghé thăm ông Nhiêu Hiền và hỏi coi ông có nghe tin tức gì về chiến cuộc hay không, cho ông biết ngoài nầy bà con mình nóng nảy tức giận lắm.

Phó Tha đi một bữa rồi về ghé nhà ông Bá hộ mà nói có gặp ông Nhiêu Hiền với cậu Minh. Cậu Minh nói năm đó lên tới đại đồn rồi quan sai cắt mỗi người theo một đội đóng riêng nên anh em không gặp nhau được, bởi vậy không biết Hào còn sống hay mất. Cậu Minh có thuật chuyện mất đại đồn. Còn ông Nhiêu Hiền thì ông có cho biết một tin rất quan hệ, bà con trong xóm cần phải bàn tính với nhau.

Ông Bá hộ nói Phó Tha đi Sơn Qui thì ông Thuận nằm nhà tin trông con. Vậy ông vô liền qua nói chuyện cho ông nghe rồi có bàn việc gì thời bàn với ổng luôn thể.

Ông Bá hộ với Phó Tha dắt nhau đi vô nhà ông Thuận. Vừa tới cửa thấy cô Quyên đứng đó. Ông biểu con nấu cơm gấp đặng dọn cho Phó Tha ăn, vì đi đường xa chắc đói bụng.

Ông Thuận nghe nói chuyện thì biết hai người bạn thân, nên lòm còm ngồi dậy, mời hai bạn lại ngồi gần đặng cho ông biét tin tức của Hào một chút.

Bây giờ Phó Tha mới nói rõ:

- Vô tới Sơn Qui tôi hỏi thăm rồi tôi đi ngay lại nhà ông Nhiêu Hiền mà nói chuyện. Ông Nhiêu nói môn đệ của ông đã về bộn rồi, mấy người về đều có đến thăm ông, cậu Minh về mấy tháng nay cậu đau rề rề, còn năm sáu người không có đến thăm ông, trong số đó có cậu Hào, nên ông chắc chưa về tới. Rồi đó ông sai người nhà đi kêu cậu Minh lại đặng tôi hỏi thăm cho rành. Cậu Minh còn đau nên ốm và mét xanh. Cậu thấy tôi thì cậu biết liền cậu hỏi Hào đã về hay chưa, tôi nói vì Hào bặt tin nên tôi mới vô kiếm cậu mà hỏi thăm đây. Cậu Minh nói cậu về được mấy tháng rồi, cậu muốn ra xóm Tre kiếm thăm Hào mà vì cậu cứ bịnh hoài nên đi không được, cậu mới nói chuyện cho tôi nghe năm đó mới lên tới Chí Hòa, đồn đóng dài từ Gò Vấp vô tới Rạch Cát. Quan trên phân phát cho anh em mỗi người một đội đặng coi sổ sách và viết giấy tờ chớ không phải ở chung với nhau, bởi vậy anh em không gặp nhau nữa được. Cậu không dè Hào chưa về, cậu không hiểu tại sao vậy. Giặc tấn công tất cả các đồn luôn một lượt, đánh tới mấy ngày, súng lớn súng nhỏ đều đánh dữ lắm, nhưng vì súng của mình ít quá, lại bắn chậm, nên chịu không nổi. Binh lính của mình bị súng của địch bắn nà, mà mình không trả đũa được thì tức giận nên có nhiều chỗ bỏ đồn xông ra đánh ráp lá cà nghĩ vì trong đồn hay dưới hào bị đạn cũng chết thà xông ra đánh giết cho được giặc dầu có chết cũng mát ruột. Tại như vậy tướng sĩ hai bên chết nhiều.

Ông Thuận chặn mà nói:

- Thằng Hào nhà tôi có tập võ thuật. Đánh cách đó chắc nó tham chiến nên phải tử trận. Chú nghĩ coi phải vậy hay không chú Phó?

- Anh nói phóng chừng chớ làm sao mà dám chắc.

- Chú có hỏi cậu Minh ông quan nào cầm binh mà để thất bại đồn đó hay không?

- Cậu Minh nói cậu nghe cụ Kinh Lược sử Nguyễn Tri Phương được lịnh triều đình cử vô làm chánh tướng có cho cụ Phạm Thế Hiển theo làm tham tán hai cụ vô hiệp với cụ Tôn Thất Hạp, rồi lập đại đồn và cầm binh chống với giặc. Cậu nghe nói như vậy chớ không thấy mặt mấy cụ lớn đó được.

- Để thất bại đại đồn thì mấy cụ lớn đó tính chịu thua hay sao mà để giặc hoành hành đem binh đi chiếm cùng hết vậy?

- Cậu Minh nói cũng có nghe ông Nguyễn Duy, là em của cụ Nguyễn Tri Phương tử trận, còn hai cụ kia thì bị thương, nhưng cụ Nguyễn Tri Phương thì bị thương nhẹ nên trở về Huế, còn cụ Phạm Thế Hiển bị thương nặng nên chạy lên tỉnh Biên Hòa rồi cụ mất.

Ông Bá hộ thở dài mà nói:

- Cầm binh ít nữa cũng phải xông lên lướt đạn với tướng sĩ như vậy mới được, chớ xuất trận mình xúi binh lính tiến dặng chết, còn mình ẩn núp ở sau xa, coi mòi không xong thì thối lui rồi chạy trốn. Cái đó người ta phiền lắm, còn hồi nãy anh Phó nói ông Nhiêu Hiền có cho hay tin gì đó. Bây giờ có anh sui tôi đây, vậy anh nói luôn nghe coi thử.

Phó Tha mới nói:

- Ông Nhiêu hay tôi ở xóm Tre vô thăm tin tức của cháu Hào, thì ông niềm nở dữ lắm. Ông hối người nhà nấu cơm cho tôi ăn. Ông nói năm trước ông nghe cháu Hào vô thuật chuyện nhân dân xóm Tre đồng tổ chức cuộc phòng thủ để nghinh địch, thì ông khen lắm, khen bà con mình nhiệt bảo tâm cứu quốc cứu dân. Ông nghe triều đình bất lực để thua trận Chí Hòa rồi e rằng không dám tính chuyện kháng chiến đánh đuổi giặc, nên lo năn nỉ với quan Pháp mà nghị hòa, thà xuất tiền chuộc mấy tỉnh đã mất và chịu tổn phí cho quân đội Pháp chớ không dám chống cự nữa. Hạng sĩ phu của mình đều hết thảy bất bình, bởi vậy có nhiều anh hùng nghĩa sĩ không thèm kể tới triều đình nữa, họ vận động khuyên dân theo họ đặng đánh đuổi binh Pháp mà lấy đất nước lại. Có ông Quản Định đương chiêu mộ nhân dân trên vùng Rạch Lá đã được mấy ngàn, nay mai gì đây sẽ kiếm xuống đánh úp Gò Công đặng đuổi binh Pháp khỏi xứ. Ông Nhiêu nói binh Pháp đóng trong huyện mình chừng 100 chớ không có nhiều. Binh của Quản Định kéo xuống quét sạch dễ như chơi. Mà hễ binh Pháp thua thì chắc họ chạy ra phía Bao Ngưọec đặng kiếm thuyền mà về Cần Guộc goặc Gia Định. Vậy ở xóm Tre nếu nghe binh ta đánh úp Gò Công thì trai trong xóm, đã có tập luyện sẵn rồi hết thảy đều vô Truông Cóc mai phục, chờ tàn binh của Pháp chạy ngang qua thì đánh mà bắt hết. Ông Nhiêu cũng sắp đặt cho dân Sơn Qui chặn phía trong mà đánh trước; đón từ chặng như vậy thì binh Pháp không lọt khỏi. Ông Nhiêu căn dặn như vậy. Ông biểu tôi nói lại như vậy cho bà con trong xóm hay đặng sắp đặt trước mà rửa cái nhục thất bại giùm cho mấy ông trên Chí Hòa năm trước.

Ông Thuận nghe nói việc mai phục tại Truông Cóc đặng bắt giặc giống như kế của ông bày hồi năm ngoái, thì ông đắc chí, ông quên việc bắt tin của con ông, mà ông cũng quên cặp mắt đã mù quáng hết đi đâu được nữa. Ông vỗ ván mà nói lớn:

- Dịp may đã đến cho dân xóm Tre mình rồi. Mình nên cám ơn ông Nhiêu Hiền cho mình cái tin ấy. Thiệt nghe tin nầy tôi muốn xé mây mà tôi đi.

Cô Quyên bưng ra một mâm cơm có tôm có cá đủ hết. Cô để trên ván mà mời ông Phó Tha ăn. Cô hỏi ông Thuận như đói thì ăn thêm với ông Phó Tha, vì hồi sáng ăn cơm sớm quá. Ông Thuận nói được nghe tin của ông Nhiêu cho, ông mừng quá, nên ông no. Ông tiếp với ông Bá hộ mà mời Phó Tha ăn, xin ăn cho no rồi bàn tới việc phục kích Truông Cóc.

Ông Bá hộ nói:

- Theo lời ông Nhiêu nói, thì chưa biết chắc bữa nào ông Quản Định đem binh đánh úp Gò Công. Không lẽ mình bắt dân trong xóm mỗi ngày phải vô Truông Cóc mà chực hờ hoài cho được. Phải để cho dân làm ăn chớ. Còn cái nầy nữa chờ lâu quá mà không thấy gì hết, dân mòn chí, rồi tới việc tự nhiên giảm hăng hái. Vậy tôi tính như vầy: ngày mai cho người đi thuyền rao cho bà con trong xóm từ 18 đến 45 tuổi hay rằng sắp có giặc đi qua Truông Cóc nhưng chưa biết chắc đi qua ngày nào. Những người trong hạng tuổi đó phải sửa soạn binh khí cho sẵn. Chừng tôi biết chắc ngày nào, giờ nào phải mai phục thì tôi đánh mõ. Hễ nghe mõ thì tựu hết sân tôi, tay cầm binh khí hẳn hoi, rồi có người dắt vô Truông Cóc.

Ông Thuận nói:

- Phải có thằng Hào về, nó lo việc nầy cho mình thì tiện quá.

Ông Bá hộ nói:

- Để tôi sai thằng Kỳ nó đi truyền rao trong xóm hay. Chừng đi mai phục tôi biểu nó dắt dân đi cũng được, chớ tụi già mình lụm cụm không đủ lẹ làng mà làm mấy việc như vậy được. Còn việc muốn biết chắc bữa nào giặc sẽ chạy qua Truông Cóc, cái đó khó một chút. Chớ chi có thằng Hào thì tiện nhiều. Bây giờ không có nó tôi muốn cậy anh Phó nghỉ chơn một bữa rồi đi giùm một lần nữa.

Phó Tha hỏi:

- Ông Bá hộ muốn tôi đi đâu? Mai tôi đi được mà. Có mệt mỏi gì đâu mà nghỉ.

- Anh đã quen với ông Nhiêu rồi. Tôi muốn ngày mai anh nghỉ một bữa rồi sáng mốt anh chịu khó trở vô Sơn Qui nữa. Anh thay mặt cho anh em lớn nhỏ ở xóm Tre mà cám ơn ông Nhiêu cho mình tin quan hệ đó. Anh cho ông biết bà con mình sẵn sàng phục kích tại Truông Cóc, y theo lời ông dặn, song mình phải biết chắc bữa nào sẽ có giặc chạy ngang qua đó đặng mình mai phục. Vậy anh em mình xin ông làm hơn hễ ông Quản Định huy động nghĩa binh khắc phục Gò Công thì ông mướn người chạy ra xóm Tre báo tin cho mình hay liền, đặng mình gom dân mai phục Truông Cóc. Tiền mướn đó hễ người báo tin ra đây thì tôi trả. Tôi không để cho ông tốn hao. Được như vậy thì tiện cho mình lắm.

- Được mà. Tôi sẽ trở vô Sơn Qui nữa cho. Sáng mốt tôi đi.

Ông Thuận nói:

- Hữu sự mà cặp mắt tôi hết thấy đường, buộc tôi phải ngồi một chỗ thiệt tức quá. Nhưng tôi đi phục kích không được, thì tôi sẽ biểu thằng Tư Cầu đi thế cho tôi.

Phó Tha ăn cơm rồi. Ba ông bàn tính một hồi nữa, rồi ông Bá hộ với Phó Tha từ giã chủ nhà mà về.

Ông Bá hộ sai con Hai Kỳ đi khắp xóm mà truyền huấn lịnh cho dân hay theo ý của cha định. Ai cũng hăng hái làm phận sự đặng trả nợ non sông, không ai thối thác.

Phó Tha trở về Sơn Qui nói chuyện với ông Nhiêu Hiền. Ông Nhiêu hứa hễ ông hay tin ông Quản Định huy động nghĩa binh thì ông sẽ sai người ra xóm Tre báo động liền.

Thiệt quả cách mười ngày sau. Quản Định ở vùng Rạch Lá đem binh vây bắt Thiên Hộ Huy là tên phản quốc dắt binh lính bắt giết Huyện Toại, là một chiến sĩ ái quốc đương chiêu mộ nghĩa dõng đặng chống với giặc xâm lăng. Quản Định đem Thiên hộ Huy ra trước đình làng mỗ bụng Huy cúng tế vong linh Huyện Toại, rồi làm lễ tế cờ và dắt hơn hai ngàn nghĩa binh cờ trống đàng hoàng, mác dao sáng ngời, rần rộ kéo xuống Gò Công, quyết tử chiến với giặc một trận.

Số binh Pháp chiếm giữ Gò Công có hơn một trăm, chớ không đông, thình lình hay binh nghĩa dõng đông quá, phân làm hai cánh kéo tới hùng hào rần rộ thì mất tinh thần. Tuy có súng song số binh ít quá, sợ giặc bao vây rồi xung phong đánh xáp lá cà không thể cự nổi, bởi vậy quan chỉ huy truyền lịnh htối lui ra phía Bao Ngược đặng sai người về Gia Ðịnh báo ngay và xin binh tiếp viện. Ðạo binh pháp ra tới Sơn Qui bị nghĩa binh mai phục tại đó đánh một trận làm cho rã làm hai tốp. Tốp xuống giồng Tháp bị dân ở đó đánh làm tổn thương hết một mớ còn lớp đi ra Truông Cóc, thì bị dân xóm Tre xông ra vây đánh một trận nữa, làm cho binh giặc hao hết phân nữa.

Ở truông Cóc giặc thất nặng là vì giặc không biết đường sá, còn rừng thì rậm rạp hoang vu; dưới chơn thì đất sình lầy lội hút đầu gối, còn ở trên thì cây xàng xịu day trở không được. Dân ta quen biết chỗ ẩn núp rồi lui tới lẹ làng làm cho binh địch không biết đâu mà bắn, nên có súng mà phải thua mác thong chĩa nhọn.

Hai bên rượt nhau đánh tới tối, rừng rậm hết thấy nhau, dân xóm Tre mới hú hí kêu nhau, ra về, gần nửa canh một mới tới nhà ông Bá hộ.

Ông Bá hộ với Phó Tha ở nhà chờ tin tức đã có dạy người nhà làm thịt một con heo mà nấu cơm sẵn để cho quân. Nghĩa binh về từng tốp, ai về trước thì ăn trước, ai về sau thì ăn sau. Ông Bá hộ với Phó Tha nghe tin xóm Tre đại thắng thì vui mừng hết sức.

Qua canh hai không còn ai về nữa, mới kiểm điểm lại thì thiếu hai người Tư Cầu với tên Giác, là con trai của Hai Chỉ, hai người đó không có về. Ai cũng lo ngại, sợ hai người đã tử trận còn số đã về rồi có 7 người bị thương, nhưng có hai người bị nặng, một người bị đạn tại bắp vế và một người bị đâm tại cánh tay, còn năm người bị thương nhẹ không đáng kể gì. Ai cũng nói bên địch chết và bị thương ít lắm cũng ba chục người.

Ông Bá hộ biểu thân nhơn mấy người bị thương đem bệnh nhơn về điều dưỡng, ông hứa sẽ giúp tiền cho uống thuốc.

Ăn uống rồi chiến sĩ ai cũng rã ra ai về nhà nấy. Phó Tha cũng về, nói sẽ đi thẳng lại báo tin cho ông Thuận mừng. Còn Tư Cầu với Giác không về thì anh em nói để sáng rồi sẽ đi kiếm.

Đến sáng ông Bá hộ vô nhà Ông Thuận mà phân ưu về sự Tư Cầu không về.

Ông Thuận nói:

- Tôi nuôi thằng Cầu từ nhỏ đến giờ, vì nó khùng khịu nên tôi thương lắm. Nếu rủi nó tử trận thì thôi. Mà chết vì nước thù vinh quang quá có gì đâu mà buồn.

Một lát Phó Tha lại nữa. Ông nói với hai ông bạn rằng Hai Chỉ với một người nữa giả dạng tiều phu đã lập thế vào rừng đặng kiếm tên Giác và Tư Cầu. Ông có dặn hai người phải cẩn thận vì binh giặc đêm nay có lẽ còn lẫn quẩn trong rừng. Nếu mình vô ý ắt phải bị chúng bắt.

Thiệt quả gần nữa buổi. Hai Chỉ với người bạn hào hển chạy về nói giặc còn ẩn núp trong rừng. Khi hai người vô gần tới mé rừng, thì giặc ở trong bắn súng ra, nên hai người phải chạy thôi, lại mới khỏi bị đạn. Ai nấy đều khuyên đừng vô rừng nữa, nên coi chừng giặc đi hết rồi sẽ hay.

Cách ba ngày sau ở xóm Tre người ta thấy có một chiếc tàu lớn với cả chục tàu nhỏ đậu tại Vàm Rạch Nhợ. Đến trưa chỉ có ba chiếc ở lại còn bao nhiêu thì chạy luôn về phía sông Tra.

Dân xóm Tre lo sợ giặc kêu binh tiếp viện đặng phản công xóm mình nên ai nấy lao nhao, muốn chờ đến tối sẽ lấy ghe đưa hạng già và giới đàn bà con nít đi kiếm mấy rạch nhỏ mà ẩn núp. Té ra đến xế chiều có người rình coi thì thấy binh lính dìu dắt nhau đi xuống tàu rồi tối ba chiếc tàu đậu tại Vàm Rạch Nhợ kéo neo chạy lên phía sông Tra nữa.

Bây giờ người ta mới đoán chắc đoàn tàu chạy qua để ba chiếc ở lại tại Rạch Nhợ đặng tom góp tàn binh thất trận hôm nọ mà chở đi, còn bao nhiêu thì vô đánh chiếm Gò Công lại.

Thật vậy, bữa sau ông Nhiêu Hiền cho người ở Sơn Qui ra thông tin cho xóm Tre hay viện binh Pháp đi khắc phục Gò Công. Chúng bắn súng thần công nà quá, nghĩa binh của quan lớn Trương Công Định không thể chống cự nổi, nên phải rút lui, một phần chạy xuống phía Cầu Muống, còn một phần vào ẩn núp trong mấy đám lá "Tối trời" dọc theo mé sông cửa Tiểu.

Ông Bá hộ với Phó Tha nghe tin ấy thì buồn nhưng chắc giặc đã bỏ giăng rừng Truông Cóc rồi, mới để dân xóm Tre vào kiếm Tư Cầu với tên Giác. Dân ruồng kiếm cả ngày, gặp thây chết rải rác đến vài chục, nhưng thây nào cũng rục rã không nhìn được.

Ông Bá hộ cũng như Ông Thuận với Phó Tha đoán chắc tên Cầu với tên Giác đã tử trận. Ông Bá hộ hiến hai con heo cho anh em làm thịt cúng chiến sĩ vị quốc vong thân, rồi ăn uống với nhau một bữa. Ông cho vợ chồng Hai Chỉ 200 quan tiền, giúp mấy người bị thương mỗi người 10 quan tiền đặng mua thuốc uống.

Hổm nay không có Tư Cầu nữa, cô Quyên phải ở luôn ngày đêm tại nhà cha chồng đặng chăm nom giúp đỡ ông.

Cúng Tư Cầu với tên Giác xong rồi tối lại ông Bá hộ Cầm vô thăm ông Thuận, đi ngang nhà Phó Tha, ông kêu Phó Tha đi với ông.

Vô tới nhà Ông Thuận, trước mặt Phó Tha với cô Quyên, ông Bá hộ nói:

- Bà con xóm Tre nầy đã làm tròn phận sự con dân đối với cỏ cây đất nước. Vậy cũng là vinh. Rất tiếc có hai nhà bị hại, anh sui đây với Hai Chỉ. Mà anh sui bị hại nhiều hơn, vì một đứa cháu tử trận lại thêm một thằng con cũng ra giúp nước mà mấy năm nay biệt tích không biết mất hay còn. Đã vậy mà anh còn chịu mù quáng nữa. Thiệt là khổ!

Ông Thuận động lòng nên rơi nước mắt mà đáp:

- Con với cháu tôi hiến thân đặng cứu dân cứu nước. Dầu hai đứa thiệt chết đi nữa, tôi cũng không than phiền. Ngặc thuở nay tôi nhờ thằng Cầu nó giúp tôi làm ruộng mới có lúa mà nuôi sống. Nay nó chết mà tôi lại tối hết hai con mắt, cái đó mới thiệt là khổ. Mấy bữa rày tôi muốn chết đi cho phứt để yên thân.

- Anh đừng thối chí. Chết làm chi? Phải sống đặng nghe thế cuộc thay đổi cách nào chớ. Từ bữa thắng trận Truông Cóc mà Tư Cầu không có về với anh em trong xóm thì tôi đã có nghĩ đến việc nhà của anh rồi. Tôi tin nếu Tư Cầu chết thiệt, thì tôi sẽ kiếm một người khác về ở với anh đặng giúp anh trong việc ruộng nương. Còn việc trong nhà thì vợ chồng tôi đã quyết định để con Quyên ở trong nầy luôn đặng nó săn sóc lo cơm nước cho anh. Vì thời cuộc bối rối nên vợ chồng nó chưa có lễ cưới. Nhưng một lời đã giao kết, thì trăm năm không được quên. Bề nào con Quyên cũng là dâu của anh. Đã vậy ngày Hào đi, con Quyên có hứa với Hào nó sẽ ở nhà thay thế chăm nom nuôi dưỡng anh, dầu Hào nó chết đi nữa, con Quyên cũng phải giữ cho vẹn lời hứa.

- Anh tính như vậy thì tội nghiệp cho con Quyên lắm. Nhà tôi bị tai nạn, nó can cớ gì mà phải chung chịu với cha con tôi. Tôi chắc thằng Hào đã chết rồi. Hổm nay tôi có ý định đợi giặc giã yên rồi tôi sẽ mời anh vô đặng bàn tính việc vợ chồng của thằng Hào. Nay sẵn dịp anh nói ra, lại may có chú Phó lại đây nữa, vậy anh em mình nên nói cho dứt chuyện.

Mấy năm trước tôi mạnh khỏe, con Quyên ra vô giúp việc trong nhà tôi chút đỉnh chẳng nói làm chi. Từ ngày tôi có bịnh rồi lại tối hết hai con mắt thì con Quyên phải cực khổ với tôi không biết chừng nào. Tôi nghĩ tới phận nó thì tôi khó chịu hết sức. Chồng mới bỏ trầu cau chớ chưa cưới, lại chồng còn hay mất không biết được, mà phải nuôi cha chồng già cả đui mù, phải lo manh quần tấm áo, phải lo phơi chiếu giặt mền, phải gắp từng miếng cá, múc từ miếng canh lo nuôi cho tôi sống. Con Quyên nó mắc nợ hồi nào đâu, mà bây giờ nó phải trả nợ? Nó có chịu ơn nghĩa gì đâu mà bây giờ nó phải đáp nghĩa đền ơn? Vì tôi nghĩ như vậy nên tôi không muốn cho nó mang chung tai họa với cha con tôi. Tôi bị tai họa mà tôi kéo nó vô nữa thì mất công bình, tôi mang tội ác. Ấy vậy hổm nay tôi muốn mời anh sui vô nhà tôi mà hồi việc hôn nhân, xin anh sui gả con Quyên cho người khác đặng nó sung sướng tấm thân. Thằng Hào đã chết rồi, nó không còn đâu mà chờ đợi."

Ông Thuận nói như vậy rồi ông khóc.

Ông Bá hộ với Phó Tha nhìn nhau bối rối không kiếm được lời mà khuyên ông bạn.

Cô Quyên bước lại gần cha chồng chậm nói:

- Thưa cha, con có cực khổ chi đâu mà cha nói con cực khổ. Còn ơn nghĩa thì có chớ sao cha lại nói không có. Anh Hào đã hiến thân cứu dân cứu nước. Đó là một đại ân đại nghĩa đối với tất cả mọi người. Phần con tuy gái song cũng là một người của đất nước. Con phải đền ơn đó, đáp nghĩa đó, con có được phép làm lơ đâu. Huống chi con có hứa lời nuôi cha thế cho anh Hào, con quên làm sao được. Ảnh ra trận dãi nắng dầm sương, vùi thân trong khói lửa. Mà ảnh không than. Con ở nhà nấu cơm giặt áo cho cha có gì đâu mà cực. Cha nói anh Hào chết rồi. Có tin nào chắc chắn đâu mà cha quả quyết như vậy. Dầu phải chờ ảnh cho tới bạc đầu rụng răng con cũng chờ chớ. Cha mẹ đã định rồi. Không bao giờ con thay lòng đổi dạ. Dầu cho anh Hào thiệt chết đi nữa, con cũng thủ tiết với anh mãn đời. Con nuôi cha, chừng nào cha trăm tuổi già thì con trở về nhà phụng sự cha mẹ con. Hai bên cha mẹ đều định con là vợ của Lê Hữu Hào, thì kiếp nầy con quyết giữ bổn phận làm vợ của anh Hào, chừng nào con chết con đem bổn phận ấy theo, đặng xuống âm phủ nếu được gặp anh Hào thì con khỏi hổ.

Ông Thuận nghe dâu nói những lời trung hậu như vậy thì ông xúc động cực điểm. Ông càng khóc lớn hơn nữa chớ không cãi được.

Ông Bá hộ ngó Phó Tha, ông ứa nước mắt. Ông nói: "Con Quyên nói như vậy thì phải lắm. Vậy anh sui an lòng, đừng buồn, đừng lo chi hết."

Ông Bá hộ day lại nói với Quyên:

- Sáng mai con về gói hết áo quần đem xuống đây ở luôn mà nuôi anh sui. Con phải tận tâm với anh sui như nuôi cha ruột vậy, cha sẽ kiếm và cậy một người trọng tuổi và siêng năng cũng như Tư Cầu để lo ruộng nương và câu tôm cá mà ăn mỗi bữa.

Phó Tha tiếp nói với ông Thuận:

- Ông Bá hộ tính như vậy thì xong. Anh lo tiếp dưỡng sức khỏe, chớ đừng buồn rầu chi hết. Bà con xóm Tre này không ai bỏ anh đâu.

Ông Thuận bệu bạo tỏ lời cảm ơn.

Ông Bá hộ với Phó Tha nói bà con một xóm cơn nguy phải lo giúp đỡ nhau. Đó là phận sự của con người một giống, một dòng sống chung trong đất nước.

Hai người từ mà về.

Cô Quyên quét giường giũ chiếu rồi dắt cha chồng đi nghỉ.

Cô gài cửa tắt đèn vô trong nằm, nghe tiếng gà trong xóm tiếp nhau mà gáy, từ đầu trong ra tới đầu ngoài.

Hai vợ

VII

Trong vài năm tiếp đó, nhân dân ở vùng Gò Công từ Chợ Gạo xuống Vàm Láng cũng như từ Bao Ngược vô Cửa Tiểu, già trẻ đều sống trong khoảng đời khi mừng, khi sợ, khi giận, khi buồn.

Binh đội Pháp nhờ có súng lớn súng nhỏ, nên chiếm lại địa đầu. Nhưng nghĩa quân của cụ Trương Công Định có những vị đốc binh đàng hoàng là các cụ Đốc Là, Đốc Lựa, Đốc Tòng gây cảm tình giữa dân gian nên phân binh tản mác trong xóm trong làng, nay ẩn chỗ nầy, mai ẩn chỗ khác khuấy phá khắp nơi, không để cho người Pháp bình yên mà sắp đặt cuộc cai trị được. Binh Pháp rần rộ kéo đi tảo thanh thì bị dân chúng gạt gẫm cho lọt vào mấy ổ phục kích đặng lâm nguy thọ hại. Tức giận đốt nhà cửa, giết thường dân, thì gây nên oán hờn chớ không gì.

Cụ Trương Công Định với Đốc Tòng, Đốc Lựa, Đốc Là gây nỗi lo cho binh đội xâm lăng trót mấy năm, làm cho nhiều chiến trường như Cột Cờ, Lá Tối Trời, Vàm Láng, Gia Thuận, Giồng Tháp, Sơn Qui, Truông Cóc nổi danh trong lịch sử.

Sau người cầm binh Pháp dùng âm mưu xuất bạc mua lòng phản quốc của Đội Tấn, Đội Ngôn, chúng chỉ chổ ẩn núp của cụ Trương. Binh Pháp đến vây chặt, cụ Trương không thể thoát thân, cụ phải dùng dao mà tự sát cho toàn danh quốc sĩ.

Nhân dân hay tin ấy đều rơi lụy.

Nghĩa binh rút chí tan rã. Bộ tướng để cho giặc bắt, nhưng cả thảy 18 người chịu bắn chết, chớ không chịu đầu hàng.

Huỳnh Công Tấn được phong chức lãnh binh được thưởng Bắc Đẩu bội tinh, lại được nhập tịch theo dân Pháp.

Trong khoảng đó nhân dân xóm Tre chỉ có năm bảy tên cường tráng nhập theo nghĩa binh của cụ Trương, còn bao nhiêu thì lo làm ruộng làm vườn và lo bắt tôm bắt cá đặng nuôi sống. Chỉ lóng nghe tin tức, nghe nghĩa binh thắng thì mừng rỡ, còn nghe thất thì than van vậy thôi.

Ông Thuận tuy tối hai con mắt song ông mò đi trong nhà được, lại nhờ có cô Quyên vô ở luôn mà lo cơm nước cho ông Thuận, nên duy trì sức khỏe của ông không đến nỗi suy giảm cho lắm. Mọi việc trong nhà có cô Quyên lo lắng hết cũng như con gái của ông. Cha chồng với nàng dâu thuận thảo cùng nhau, chẳng khác nào cha con ruột thịt.

Còn việc ngoài đồng thì ông Bá hộ đã có cậy chú Hợi về ở chung với ông đặng lo cày cấy cùng đốn củi đi câu. Chú Hợi gần 50 tuổi mà không có vợ con. Chú làm chung ăn chung cũng như anh em trong nhà, nhờ cậy nhau giúp đỡ nhau, đồng sướng đồng khổ với nhau. Chú nhâm nhẹ, vui vẻ, siêng năng, mạnh dạn. Chú thấy ông Thuận tật nguyền nên chú chiều chuộng, thấy cô Quyên quyết thủ nghĩa nên chú mến yêu, bởi vậy ở trong nhà đầm ấm hiệp hòa, trên dạy dưới vâng lời, dưới làm trên vừa ý.

Từ ngày Lê Hữu Hào ra đi đến nay đã gần 6 năm, không ai nghe tin tức chi hết.

Ông Thuận đã mỏn chí đợi chờ, ông kể chắc con ông đã chết trong trận Chí Hòa, nên ông không nhắc nhở tới con nữa. Ông Bá hộ cũng như bà con trong xóm, ai cứ tới thăm ông Thuận thì kiếm chuyện vui mà nói sợ ông buồn nên không ai dám nhắc tới Hữu Hào.

Còn cô Quyên thì cô cứ tin chồng mình sẽ về, nhưng cô không nói ra, vì cô không có chứng cớ nào để trưng ra mà nói Hào còn sống được. Mai chiều gì cô vẫn cặm cụi lo săn sóc phụng sự cha chồng cho khỏi lỗi lời cô hứa năm xưa. Cô vẫn một mực quyết thủ tiết với chồng, dầu chồng về hay không về cũng vậy.

Một bữa chú Hợi dậy sớm nấu cơm ăn trước rồi hồi khuya, rồi trời mới đâm mây ngang thì chú đã đi ra đồng vần công nhổ mạ với người trong xóm.

Chừng mặt trời mọc ông Thuận mới thức dậy. Cô Quyên múc một tô nước bưng ra cho ông rữa mặt, rồi cô lăng xăng đi ra phía sau mà thả bầy vịt đẻ và lượm trứng đem vô cất trong buồng. Con heo đen lẩn quẩn đi theo cô ịch ịch đòi ăn. Con gà mái vàng dắt bầy con xẩn bẩn chung quanh đóng rơm, bơi kiếm trùng rồi túc túc kêu con xúm lại mà mổ ăn.

Làm việc trong nhà xong rồi, cô Quyên tiếp lo bữa cơm cho cha chồng. Nồi cơm của chú Hợi nấu ăn hồi khuya còn ấm ấm, khỏi nấu nồi khác, cô bèn bắt vài con cá bống dừa mà làm, rồi với lấy nắm rau dền cô hái hồi chiều hôm qua, cô nấu một tô canh cho cha chồng ăn, chớ cá kho với tép rang khô sợ cha ăn không được.

Nấu dọn một mâm cô bưng ra để trên ván rồi mời cha qua ăn. Cô cũng ngồi lại đặng mà gắp cá chan canh cho cha.

Cha con ăn được một chén mới bắt đầu ăn chén thứ nhì, cô Quyên bỗng nghe ngoài rạch có tiếng người nói chuyện, rồi một lát cô ngó ra trước bến có thấy một chiếc ghe bảng lồng đang ghé lại, người chèo đang lấy chèo mà cặp nên khua lộp cộp. Trong xóm không có ai có chiếc ghe như vầy, cô Quyên lấy làm lạ, không biết ghe ở đâu lại đây, mà ghé đến bến mình làm chi, bởi vậy cô chống đũa ngó trân trân.

Nước lớn đầy nên ghe đậu sát mé sân. Một người đàn ông tay vịn cây sào, chưn bước lên sân, bộ ốm yếu nên chậm chạp. Đứng vững rồi mới day lại vói đỡ một đứa nhỏ chừng vài tuổi đem lên để đứng một bên.

Một thiếu phụ bước lên bờ nữa. Bước gọn gàng tay xách một gói lớn. Hai bên nói tiếng người còn ở dưới ghe, rồi cùng nhau đi ngay vô cửa. Người đàn ông đi trước, chân đi nhút nhát nên không mau, lại tay dắt đứa nhỏ bặm trợn. Người thiếu phụ xách gói đi sau dơ dác ngó vô nhà, ngó hai bên, bợ ngợ với cảnh lạ.

Cô Quyên chăm chú ngó rồi buông đũa mà nói lớn:

- Ý! Anh Hào về cha à!

Ông Thuận để chén cơm xuống ván mà hỏi.

- Về ở đâu?

Cô Quyên vừa bước xuống đất vừa đáp:

- Ảnh về ghe. Ảnh vô tới giữa sân kìa kìa.

Cô hân hoan bước ra cửa đứng đón.

Ông Thuận hỏi tiếp:

- Thằng Hào nó về thiệt hay sao con? Hay là con nằm chiêm bao?

- Không. Thiệt anh Hào mà. Ảnh vô gần tới đây nè.

- Đâu. Biểu nó đi riết vô coi.

Cô Quyên nhìn không sai. Thiệt quả Lê Hữu Hào về, có dắt theo một thiếu phụ với một đứa nhỏ, cô không biết là ai. Nên nói phứt cho rồi. Đó là vợ con của Hào, vợ là Thị Chức, còn đứa con trai tên Hùng sanh mơi được 13 tháng.

Hào vô gần tới cửa, nghe cha biểu đi riết vô thì chàng buông tay thằng Hùng mà rán đi lẹ hơn vừa đi vừa nói: "Thiệt con về đây cha, chớ không phải hồn ma đâu".

Hào bước vô nhà thấy cha đương ngồi bên mâm cơm thì nói:

- Con được về tới nhà, lại thấy cha còn mạnh con mừng quá.

Hào thấy cha huơi tay mà hỏi:

- Đâu? Hào đâu? Lại đây cho cha hỏi đâu nào.

Hào vừa đi lại vừa hỏi:

- Mắt cha hết thấy hay sao cha?

- Đui mà thấy gì được. Còn sống đây là may.

- Trời đất ơi! Khổ cho thân cha như vậy hay sa ông Thuận?

Ông Thuận huơi tay đụng Hào, ông nắm cánh tay đứng lại một bên, rồi ông khóc mà nói: "Mấy năm nay cha chắc con đã tử trận lúc thất bại đồn. Cha có dè đâu con còn sống về đây".

Hào cũng ôm cha mà khóc.

Cô Quyên chưa biết Thị Chức là ai, thấy cô nọ xớ rớ dựa cửa, một tay xách gói một tay xách em nhỏ, thì cô mời vô ngồi tại bộ ván nhỏ dựa vách xông. Thị Chức để cái gói một bên và đở con lên ngồi một bên.

Cô Quyên bước lại mời ông Thuận ăn thêm cho no rồi sẽ nói chuyện. Ông Thuận nói: "Thôi, ăn no rồi, mừng quá ăn giống gì nữa được. Con dẹp đi rồi lo làm cá nấu cơm cho Hào ăn".

Cô Quyên bưng hết mâm cơm đi vô trong, Hào ngó theo rồi hỏi cha:

- Cô Quyên vô đây ở với cha hay sao?

- Chớ sao? Nhờ có nó nên cha mới còn sống đây.

- Anh Tư Cầu ra ruộng hay đi đâu mà nãy giờ không thấy anh?

- Chết rồi. Chết gần ba năm nay. Nó theo đoàn phục kích tại Truông Cóc. Tuy nghĩa binh xóm Tre mình đại thắng song bị tử trận hết 2 người là thằng Cầu và con Hai Chỉ.

- Rủi quá! Cha mù quáng mà anh Tư Cầu lại chết, rồi cha làm sao mà sống?

- Cha nói có con Quyên. Con đi rồi thì đôi ba bữa nó vô thăm cha một lần. Hễ nó vô thì nó dọn dẹp quét tước, vá áo giặt đồ cho cha. Nó chăm nom miếng ăn, chỗ ngủ. Đến Chừng đại đồn thất thủ. Gò Công bị Tây chiếm, cha buồn rầu cha mang bịnh. Con Quyên vô ở đêm ngày mà nuôi cha. Nó lo cơm cháo, thuốc men vì thằng Cầu bị bận việc ngoài đồng nó có lo gì được. Cha đau trót mấy tháng trời mới mạnh mà rồi lại trở qua đau con mắt. Cũng con Quyên lo nuôi cha nữa. Xức đủ thuốc mà không hết rồi mây kéo bít con ngươi, hết thấy đường đi.

"Chừng ông lớn Định qui tụ nghĩa binh đánh lấy Gò Công lại, binh Tây thua chạy qua Truông Cóc bị xóm mình phục kích thắng một trận vẻ vang quá. Nhưng bên mình mất thằng Cầu với thằng Giác. Anh Bá hộ thấy cha mù quáng lại ở trơ trọi một mình, anh mới cho con Quyên vô ở luôn trong nầy mà nuôi cha. Anh lại cậy chú Hợi ở với cha thế cho thằng Cầu mà cày cấy và kiếm tôm cá. Nhờ có vậy cha mới sống được đây. Nếu không có nó thì chắc, cha phải chết năm mất Gò Công kìa chớ."

Hào thở dài mà nói:

- Ân nghĩa nặng nề quá! Biết nói làm sao bây giờ!

Ông Thuận nói:

- Cha chắc con chết quá. Trong xóm tuy họ không nói ra, song ai cũng nghĩ như cha vậy. Duy có một mình con Quyên cứ cãi, nó nói con không chết. Nó chí quyết chờ con hoài, dầu thiệt con chết nó cũng thủ tiết. Bây giờ con về thì làm đám cưới, chớ có gì đâu mà khó.

Hào bước vô trong kêu Quyên mà nói:

- Em khoan nấu cơm đã em. Hồi sớm mơi có ăn cơm dưới ghe rồi, chưa đói đâu. Em ra ngoài cho qua nói chuyện một chút.

Cô Quyên rửa chén vừa rồi, chưa lấy gạo nấu cơm, kế nghe Hào kêu thì cô lật đật lau tay rồi múc một tô nước mưa bưng ra cho ông Thuận, vừa cười vừa nói: "Cha uống nước đây cha. Nãy giờ cha mắc nói chuyện. Mà lộn xộn rồi con quên lửng".

Ông Thuận cũng cười mà nói: "Cha mừng rồi cha cũng quên uống nước". Ông bưng uống hết nửa tô rồi trả tô Quyên đem để trên bàn.

Hào biểu cô Quyên ngồi, rồi chàng lại đứng trước mặt cô mà nói:

- Nãy giờ qua nghe cha thuật chuyện ở nhà em thay thế cho anh mà săn sóc, lo lắng tiếp dưỡng cha rất chu đáo. Qua rất cảm tình cảm nghĩa của em, tình nghĩa ấy dầu ngàn năm qua cũng không quên được. Qua nghĩ lại phận qua thì qua có ăn học nhiều, mà qua ăn ở không bằng em, qua lấy làm hổ thẹn. Qua xin em ngồi để cho qua tỏ thiệt việc của qua cho em với cha nghe. Em được biết rồi dầu em bắt tội qua cách nào, qua cũng phải chịu hết.

Hào day lại nói với ông Thuận:

- Thưa cha, cha đã thuật việc ở nhà cho con nghe rồi. Bây giờ con xin cha để con nói cho cha hiểu tại sao năm sáu năm nay con không về, mà cũng không cho cha biết tin tức chi hết. Số là năm đó con với mấy bạn học của con lên tới Chí Hòa vào trình diện. Viên quan coi sổ tướng sĩ mới chia tụi con ra mỗi người theo một đại đội, đóng riêng một chỗ. Con lo viết giấy tờ vậy thôi. Tiếc có một điều là mấy anh em con phân cách nhau nên có việc gì buồn không biết ai mà than thở.

Ông Thuận chặn mà nói:

- Chú Phó Tha có vô Sơn Qui kiếm cậu Minh đặng hỏi thăm con. Cậu cũng nói y như con vậy.

- Anh Minh còn mà về hay sao?

- Còn sống, song cậu nói bị cắt mỗi người ở một nơi cậu không gặp con nữa, nên không biết con tử trận hay còn sống.

- Anh em bạn học của con ai còn ai mất đến bây giờ con cũng không biết được. Riêng về phần con thì con nhập theo đội binh đóng tại Phú Thọ. Tướng sĩ trong đội binh này chủ yếu có gốc gác ở Long Hồ. Cả thảy đề cường trắng, lại có tinh thần chiến đấu mạnh lắm. Con ở đó cả năm không hiểu sao mà quan ta không ra lịnh tấn công đặng đoạt thành Gia Định lại. Nghe nói số binh của mình đã hơn một muôn đóng vòng cung bao quanh từ phía Gò Vấp vô tới Rạch Cát mà cứ lo xây thành đắp lũy, đào hố đào hầm lập thế thủ chớ không lập thế tiến công. Án binh bất động lâu ngày quá tướng sĩ chán nản, mất hăng hái hết. Bên địch lâu lâu cho một toán quân ra nhử thử coi bên mình chỗ nào mạnh, chỗ nào yếu, sao mình không chịu lập vài đoàn cảm tử quân mà cho len lỏi qua mặt Thị Nghè, Xóm Chiếu, rồi ra lịnh tổng tấn công toàn diện. Mấy đội cảm tử xung phong hảm thành. Mình đông chúng ít, chúng làm sao giữ thành cho nổi. Cư lo đắp lũy đào hầm hoài, đợi năm sau giặc thêm binh tiếp viện, có súng lớn súng nhỏ nhiều, chúng tấn công đại đồn, đại bác bắn nát thành lũy của mình hết. Binh mình không có chỗ núp nên phải tổn thất rất nhiều.

"Đội binh Phú Thọ của con bực tức về sự không đánh được mà lại phải chết với trái pháo, nên đồng lòng xung phong hảm trận. Con cũng bỏ bút nghiên mà cầm binh khí mà xông vào trận với tướng sĩ đồng đội. Binh ta thắng, giặc chết rất nhiều rượt vô tới vùng mã Ngụy hồi trước. Nhưng phần con rủi, nên con bị đạn nát ống chân mặt đây.

Hào kéo ống quần muốn trình cho cha xem, song chàng nhớ lại cha mù quáng làm sao mà thấy được, mới day lại trình với cô Quyên mà nói tiếp:

- Con bị đạn nên té quị nằm dài trên dám cỏ. Chớ chi mấy đội khác đều tấn mạnh được như đội Phú Thọ này thì giặc phải thua. Té ra chỗ tấn không nổi, có chỗ lại thối lui, rồi sau lại nghe đại binh ở Chí Hòa đã đổ, thành thử đội Phú Thọ phải thối ra cho khỏi bị giặc vây. Binh đi ngang có chỗ con nằm có người thấy con bên kề lưng cõng con chạy. May quá, vừa khỏi chiến trường thì gặp một chiếc xe bò chở đàn bà con nít đi trốn giặc cho khỏi lằn đạn. Binh lính mới gởi con cho xe bò đó chở giùm con đi. Trời đã sụp tối, giặc không rượt theo. Nội canh hai xe bò lên đến xóm Tham Lương, thấy có một cái nhà lớn họ mới ngừng xe vô xin trú ngụ. Họ dìu dắt con vô nhà. Chủ nhà kiếm đồ đâm và bó chân con lại mà cầm máu. Nhờ vậy nên máu hết chảy nữa. Vì đuối sức con nằm thở thoi thóp, con chắc chết không thể chịu nổi. Người ta nấu cháo ép con nằm mà ăn và mằn chân con rồi nói đạn xuyên qua bắp chuối chớ xương ống quyển không gãy.

Ông Thuận nói:

- Bị thương nặng như vậy cũng đủ chết được, cần gì đợi gãy ống quyển.

Hào nói:

- Đêm có binh của mình chạy ngang qua Tham Lương không ngớt. Mấy người đó sợ sáng mai giặc rượt theo thì nguy, nên qua canh tư họ đem con mà chở đi nữa, đi tới sáng qua khỏi Bà Điểm rồi nghe có tiếng súng nổ bên Thuận Kiều. Họ đi luôn không dám ngừng lại. Trưa qua khỏi Trầm Lạc, ghé xóm xin cơm ăn với nhau rồi đi nữa, đi tới chiều tối mới tới xóm đông kêu là xóm Củ Chi, chủ xe bò có người bà con ở xóm đó mới hỏi thăm nhà rồi ghé xin cho tá túc ít ngày đặng lánh nạn. Trong xóm người ta hay có người chạy giặc mới đến họ áp lại hỏi thăm lăng xăng. Có một bà hay con là chiến sĩ bị thương nặng, mới nói bà có người con trai lớn ở trong xóm biết thuốc xức ghẻ cùng vết thương bị dao mác chém, vậy để bà nhắn con bà ra làm thuốc cứu con. Bữa sau thiệt có Hai Lân là con bà đó, nghe người ta kêu là bà Năm, đến hỏi thăm bịnh con, rồi mượn người võng con lại nhà bà Năm nói rằng nhà bà rộng rãi, lại bà ở với một người con gái mà thôi, nên đem con để ở đó mà xức thuốc cho tiện và sẵn có người lo cơm cháo cho con. Con đau đớn nhức nhối quá, con chắc con sắp chết nên ai làm sao thì làm. Hai Lân hái lá cây nấu nước mà rửa vết thương cho con, coi rồi nói đứt vài cái gân, chớ không gãy xương nên có thể cho thuốc lành mạnh được. Anh làm thuốc và ở đó xức cho con vài ngày rồi anh về, dặn người em gái là Chức, người đưa con về đây, săn sóc con.

Hào nói tới đây thì đưa tay chỉ cô Chức đương ngồi với con bên vách xông, không nói chi hết. Cô Quyên day qua ngó cô Chức, còn ông Thuận không thấy được nên ông hỏi:

- Có ai đưa con về hay sao?

- Thưa có. Cô Chức đưa con qua bên Thủ Dầu một đặng mướn ghe đưa về, may có ghe chở đường xuống miệt Gò Công mà bán, nên cô hỏi rồi quá giang mới về được đây.

- Vậy mà nãy giờ cha có hay đâu. Có thầy có thuốc cứu con khỏi chét, mà con ở làm chi trên Củ Chi đến năm nay con mới về?

- Thưa, có phải xức thuốc mà hết liền đâu. Con phải chịu nhức nhối đau đớn gần một năm, ăn ngủ không được, nằm liệt một chỗ, thân thể ốm như tàu lá. Nhờ mỗi ngày cô nấu lá cây, lấy nước mà rửa máu mủ rồi xức thuốc, phải đút cho con từng muỗng cháo, phải thay quần áo mà giặt, phải bưng đổ đồ dơ cho con nữa. Con phải chịu khổ như vậy trót cả năm vết thương mới bắt đầu kéo da non nên hết nhức nữa. Con ngồi dậy được, nhưng cũng chưa đi đứng được. Con thấy mới khỏi chết. Con nóng nảy ở nhà cha mạnh giỏi thế nào, bà con xóm mình có chịu cuộc tang thương hay không, con tỏ ý muốn mướn ghe đưa con về. Mẹ con cô Chức nói Củ Chi có sông rạch gì đâu mà có ghe, lại theo an ủi con, nói vết thương của con chưa lành, thân thể con còn ốm yếu quá làm sao mà đi xa cho được.

"Con phải nương náu ở đó cho tới năm nay, vết thương mới lành, sức khỏe mới phục. Bà Năm thấy con đi còn nhút nhắt song đi được mới mướn xe bò rồi biểu cô Chức đem con qua chợ Thủ Dầu một đặng liếm ghe đưa con về Gò Công. May có ghe sửa soạn chở đường chở thuốc đem xuống đây bán nên con với cô Chức mới xin quá giang mà về được."

- Cô Chức có công với con, cũng như cô Quyên ở nhà có công với cha vậy. Cô Chức săn sóc nuôi dưỡng con, đã cứu con khỏi chết mà còn chịu khó đưa con về tới nhà nữa. Công ơn thiệt lớn quá. Mà rồi đây biết làm sao mà đưa cô về Củ Chi nè?

Hào châu mày day lại ngó Cô Chức. Cô Quyên cũng ngó theo.

Hào du dự một chút rồi cương quyết nói:

- Thưa cha, cô Chức sẽ ở luôn dưới này.

- Ủa! Sao vậy?

- Con xin lỗi cha, mà anh cũng xin lỗi luôn với em Quyên nữa. Thưa cha, để con tỏ thiệt tâm sự của con cho cha với em Quyên hiểu. Con nói phứt ra cho rồi, không lẽ giấu hoài. Trong lúc bịnh nặng con thấy chết trước mắt, con chẳng khác nào người chơi vơi lặn hụp giữa dòng sông, gặp vật chi cũng quơ níu để duy trì sự sống. Cô Chức có lẽ là người có từ tâm, cô thấy thân con như vậy cô động lòng nên cô đưa tay cho con níu, rồi cô vớt con khỏi chết. Gần một năm thấy cái chết đã qua rồi, cô mừng công cực khổ của cô không phải vô ích, mà con cũng cảm ân đức của cô rất nặng dày. Một người vui làm ơn, một người cảm chịu ơn, hai người lại gái thơ trai trẻ, gần gũi nhau lâu ngày tự nhiên gây cảm tình với nhau. Tình ấy càng bữa càng thêm khắng khít, không thể ngăn cản lòng dục nổi nên mới sanh ra đứa con trai là thằng Hùng, đã được 18 tháng, biết đi biết nói đủ hết, con cũng có dắt nó về với con nữa.

- Mầy có dắt đủ vợ con mầy về đây hay sao? Mầy quá quắt lắm?... hết chỗ nói rồi!

Ông Thuận vừa nói vừa bước chân xuống đất mà đi qua giường của ông mà nằm.

Cô Quyên cũng đứng dậy bỏ đi vô trong.

Bây giờ Hào day lại ngó Cô Chức, thấy cô buồn hiu, đương nắm tay dắt con đi ra ngoài cửa. Chàng thắt ruột, lạnh lòng, thủng thẳng đứng lại gần bên cha mà nói:

- Thưa cha, con nhìn nhận con có lỗi với cha nhiều. Cha đã cầm trầu, cầm cau mà nói vợ cho con rồi. Lại trong mấy năm con vắng mặt cô Quyên ở nhà săn sóc cấp dưỡng cho cha châu đáo. mặc dầu chưa có lễ cưới, cô Quyên cũng phục dịch cha trọn đạo dâu con. Trong lúc ấy con lại quên cô mà giao duyên với người khác. Con đã lỗi với cha, mà con cũng lỗi với cô Quyên nhiều lắm. Lỗi của con thì con chịu không dám cãi chối. Con chỉ lạy mà xin cha xét giùm tình cảnh của con mà châm chế cho con nhờ vậy thôi. Cha dạy cách nào con cũng phải chịu, con không dám cãi. Con cũng xin cha thương luôn phận cô Chức là người có ơn cứu con khỏi chết, mới được về đây mà thấy mặt cha. Con lỡ ăn ở với người ta có một mặt con. Cô lại theo con xuống tới đây. Bây giờ cha đuổi mẹ con cô về nghĩ cũng tội nghiệp cho cô lắm.

Ông Thuận giận nói lớn:

- Mầy làm sao mầy làm. Tao không biết. Tao chỉ biết con Quyên là dâu của tao mà thôi. Tao không biết ai nữa hết.

Hào thấy lời năn nỉ không có hiệu quả, nên đứng buồn hiu một hồi lâu rồi bước ra ngoài. Chàng gặp cô Chức ngồi khóc dựa vách, có bé Hùng ngồi một bên. Chàng bước lại ngồi chum nhum một khóm rồi hai người xầm xì bàn bạc với nhau.

Trong nhà im lìm buồn bực. Hào bặt tin tới năm sáu năm, ai cũng tưởng chết. Té ra chàng còn sống lại được trở về nhà. Mà mừng chưa rồi mà lại gây buồn, cha bối rối phận cha, con bối rối phận con, cha khó xử với cô Quyên, con khó xử với cô Chức. Vì vậy mà cha nằm trên giường bịnh cha ưu phiển, con ngồi ngoài vách con rơi lệ.

Cô Quyên vô trong nảy giờ, cô cặm cụi làm cá nấu cơm dọn cho Hào với Chức ăn. Bưng mâm cơm ra để trên ván rồi cô bước ra ngoài kiếm Hào. Thấy Hào đương ngồi nói rù rì với Chức, cô mời hết hai người vô ăn cơm.

Hào muốn giả lả cho cô Quyên hết phiền mình, nên đứng dậy ép Chức dắt con vô ăn cho Quyên vừa lòng.

Hào với Chức mới ăn được vài miếng cơm thì thấy cô Quyên ở trong buồng bước ra, tay xách gói áo quần.

Hào hỏi:

- E tính đi đâu?

- Em về. Hồi năm trước, lúc ra đi, anh cậy em trong khi anh vắng mặt, em chăm nom giùm cha. Nay có anh về rồi thì phận sự của em chấm dứt, nên em xin từ mà về.

Ông Thuận nằm trên giường nghe cô Quyên nói như vậy thì ông tiếp mà nói:

- Ừ, thôi con về mà nghỉ. Cha cám ơn con lắm. Mấy năm nay cha nhờ có con cha mới còn sống đây. Dầu thế nào cha cũng kể con là con dâu của cha, chớ cha không biết ai hết.

Cô Quyên bước lại từ biệt ông Thuận nói chào Hào và Chức xách gói đi về.

Vợ chồng ông Bá hộ Cầm đương ngồi trong nhà nói chuyện với nhau, bỗng thấy cô Quyên lơn tơn đi vô sân, tay xách gói áo quần.

Ông bà đều lấy làm lạ, nên có ý chờ cô vô đặng hỏi coi về có việc gì hay không. Chừng Quyên bước vô nhà ông Bá hộ liền hỏi:

- Con về thăm nhà, sao lại đem áo quần về nữa?

- Có anh Hào về rồi, nên con đem áo quần về.

- Ủa! Hào về bao giờ? Sao không thấy nó đi ngang qua đây?

- Ảnh về hồi nửa buổi, đi ghe nên ghé bến ở trỏng.

- Té ra nó còn sống. May quá! Vậy mà anh sui cứ nói nó chết hoài. Nó có nói mấy năm nay nó làm giống gì ở đâu hay không? Tại sao nó không về, để cho người ta trông nó dữ vậy?

- Ảnh về có dắt vợ con ảnh về nữa.

- Trời đất ơi! Làm cái gì kỳ vậy? Vợ con ở đâu mà nó kiếm đó? Còn nó về có kè có cánh như vậy, ông già nó có nói làm sao hay không?

- Để rồi con thuật hết cho cha mẹ nghe.

Cô Quyên để cái gói lên ván, sau lưng mẹ.

Bà Bá hộ ngó con bà nói lẩm bẩm:

- Mấy năm nay con nhỏ cực khổ với ông già chồng nó hết sức. Té ra làm mọi mà không ơn. Ví như thằng Hào chết, dầu con mình phải nuôi cha chồng nó mãn đời mình cũng không phiền, chớ con mình chịu cực nuôi cha nó đặng nó cưới vợ khác, ăn ở ngược đời như vậy ai chịu nổi.

Ông Bá hộ can gián:

- Bà nó đừng nóng giận. Để thủng thẳng nghe cho rõ rồi sẽ liệu. Chắc cũng có duyên cớ sao đó nên mới sanh trặc trẹo như vậy. Chớ Hào học giỏi lại có tánh cẩn thận, có lẽ nào nó vong ân bội nghĩa đâu mà giận. Hào về nói làm sao đâu con Quyên thuật lại cho cha mẹ nghe thử coi con.

Cô Quyên bình tĩnh như thường, không giận mà cũng không buồn. Cô ngồi dựa bên mẹ chậm rãi lập lại cho cha mẹ nghe những lời Hào nói với ông Thuận lúc nãy. Cô thuật chuyện Hào ra trận xung phong bị đạn trúng chân nên té quị trên đám cỏ. May có người cõng đem ra gởi cho xe bò chở đi lánh nạn. Đi một đêm một ngày lên tới Củ Chi. Có bà Năm nghe chiến sĩ bị đạn bà động lòng thương nên chứa trong nhà mà nuôi bịnh. Người con trai của bà thì lo thuốc mà cứu, còn người con gái nhỏ thì lo săn sóc đêm ngày. Hào đau đớn nhức nhối, thấy cái chết trước mặt trót cả năm thân thể ốm yếu không ngồi dậy được. Nhờ có cô Chức tận tụy nuôi bịnh, xức thuốc đút cơm, chịu cực khổ chịu dơ dáy cô cũng không nệ, nên hmới khỏi tay tử thần mà phục sức lần lần lại được. Gần hai năm Hào mới đi đứng chút đỉnh trong nhà được, Hào muốn về ngặt vì ở Củ Chi không có sông rạch và ghe xuồng mà mướn đưa, còn đi bộ thì sức ốm yếu, lại chân có tật nên đi nhút nhắt làm sao mà đi xa cho nổi, trong lúc Hào ngoắc ngoải, hết sợ chết nữa, chàng mới cảm tình cô Chức. Cô nọ săn sóc lâu ngày rồi cô cũng cảm tình với chàng. Hai đàng gần gũi riết rồi giao tình với nhau mới sanh được một đứa con trai, bây giờ đã biết đi biết nói. Năm nay Hào thiệt mạnh rồi, còn ốm mà đi nhút nhắt mà thôi. Chàng nhớ xứ sở nên mới mướn xe bò đưa qua chợ Thủ Dầu Một kiếm ghe mà về. Cô Chức dắt con đưa đi. Qua Thủ Dầu Một may gặp ghe đường sửa soạn chở thuốc chở đường xuống Gò Công mà bán, nên Hào với Chức xin quá giang mà về đây.

Ông Bá hộ nhớ lại hồi nãy có người gánh đường với thuốc đem bán trong xóm. Nhà ông có mua. Bây giờ ông mới hay Hào về ghe đó.

Ông kêu bà mà nói:

- Hồi nãy tôi đoán trúng, bà nó thấy chưa? Phải có duyên cớ sao đó Hào mới làm như vậy, chớ đâu phải nó tính bỏ con mình nên cưới vợ khác. Nó nhờ cô Chức cứu nó khỏi chết, nên nó cảm tình cảm nghĩa mà gây cuộc tình duyên. Nếu thiệt nó có ý bỏ con Quyên thì nó về đây làm chi.

Bà Bá hộ nói:

- Chuyện nầy phải xử làm sao đây? Tôi coi khó lắm.

Ông Bá hộ hỏi cô Quyên:

- Hào về có dắt vợ con đùm như vậy rồi, ông Thuận có nói làm sao hay không?

Cô Quyên cười mà đáp:

- Ông già chồng con tối mắt nên hồi mới về ông vui mừng lắm, bởi vì ông có thấy mẹ con cô Chức đâu. Chừng anh Hào thuật chuyện, ảnh nói tới vợ con, thì ông nổi giận. Ông bỏ đi lại giường mà nằm, cứ nói: "Tao biết một mình con Quyên là con dâu của tao mà tôi. Tao không biết ai nữa hết. Vợ mầy thì mầy làm sao mầy làm". Hồi nãy con nói mà về, ông cũng còn nói như vậy. Ông kể một mình con là dâu thôi.

Ông Bá hộ cười mà nói:

- Anh đó khó lắm. Anh nói như rựa chém xuống đất vậy, không dễ gì mà cãi với ảnh. Chuyện nầy khó xử thiệt. Con Quyên thì nó bỏ trầu cau đủ lễ. Nó lại có công nuôi ông già chồng đến năm sáu năm. Cô Chức thì tình cờ ngẫu hiệp, không phải vợ của cha mẹ định, cũng không có cưới hỏi, nhưng mà có công nuôi dưỡng săn sóc Hào hơn ba năm Hào mới khỏi chết, cô lại ăn ở với Hào có một đứa con rồi, hai đàng đều có ơn nghĩa hết, bây giờ bắt đàng nào bỏ đàng nào cũng không khỏi bị phiền trách.

Cô Quyên xách gói quần áo đem vô buồng.

Vợ chồng ông Bá hộ ngồi bàn luận tiếp chuyện đó. Bà Bá hộ cho ông Thuận định phải, ý bà không chịu nhận cô Chức. Ông Bá hộ cãi với bà Bá hộ, ông nói mấy năm nay cô Chức đã ăn ở với Hào, cha mẹ cô bằng lòng, vợ chồng đã có con, chòm xóm đều hay hết, nếu ông Thuận làm gắt đuổi cô về xứ, thì cô mang tiếng xấu với thiên hạ, cô còn mặt mũi nào mà trở về với cha mẹ. Nếu ông Thuận đuổi cô Chức thì tội nghiệp cho thân phận của cô lắm. Còn nếu Hào phải vâng lời cha mà đuổi cô Chức về xứ đặng cưới con Quyên, vì thì đạo làm con Hào, không dám cãi, nhưng vì tình nghĩa Hào phải đau khổ trong lòng hoài, cưới Quyên về, ra vô thấy mặt, như nhắc chuyện cô Chức, thì làm sao Hào yêu Quyên cho được, mà sợ còn oán nữa là khác.

Trong lúc cô Quyên về thuật chuyện của Hào cho cha mẹ nghe đây thì trong nhà ông Thuận, cậu Hào bối rối hết sức. Ăn cơm rồi Hào nói nhỏ biểu cô Chức dọn dẹp, cứ làm công việc trong nhà như thường. Cậu dặn cô ở nhà với cha, để cậu đi thăm ông Bá hộ, là cha cô Quyên, coi ý vợ chồng ông Bá hộ như thế nào.

Hào ra thưa cho cha hay đặng đi thăm ông Bá hộ. Ông Thuận không cản, nhưng ông nói gay gắt.

- Đi thăm rồi nói giống gì? Còn tình nghĩa gì đâu mà thăm viếng?

Hào nói:

- Phải đi thăm mới khỏi thất lễ.

Hào nói rồi đi liền. Ra sân, Hào mới thấy ông chủ ghe đương đứng tại bến. Hào đi ngay lại mà hỏi ông tính ở đây bán mấy bữa rồi đi. Ông nói nội ngày nay chắc bán giáp xóm Tre hết. Người ta nói tại Vàm Rạch Băng bây giờ có nhóm chợ đông đảo có nhà cửa nhiều. Vậy ông tính chiều nay ông dời ghe ra đó đậu bán vài ba bữa, cho bạn gánh vô bán mấy xóm chung quanh. Như thuốc, đường còn nhiều thì ông mới liều mạng vô chợ Gò Công chớ vô đó có Tây u khó lòng quá. Hào nói cô Chức muốn quá giang ghe ông mà trở về Thủ. Vậy nếu ông dời ghe ra chợ Vàm mà không có cô Chức ra đó xin đi liền, thì chừng bán hết đồ rồi ghe về ngang đây xin ông ghé cho cô quá giang.

Ông chủ ghe chịu. Ông nói chắc ông sẽ ghé đặng mua ít chục giạ lúa chở về Thủ vì lúa ở đây giá rẻ quá.

Hào từ biệt ông rồi nhút nhắc đi ra nhà ông Bá hộ. Cậu đi ngang cửa ông Phó Tha, ông Tha ngó thấy, ông chạy ra mà mừng lăng xăng rồi để cho cậu đi. Ông hứa chừng cậu về ông sẽ lại nhà thăm đặng hỏi coi mấy năm nay cậu xiêu lạc xứ nào mà không có tin tức chi hết.

Hào ra tới nhà ông Bá hộ vừa bước vô sân thì gặp Hai Kỳ. Anh em mừng nhau, Kỳ nói Hào ốm quá, lại đau chân, Hào vén ống quần đưa thẹo cho Kỳ coi, rồi anh em dắt nhau vô nhà.

Vợ chồng ông Bá hộ chắc thế nào Hào cũng ra thăm, bởi vậy thấy Hào thì vợ chồng ông không lạ gì, nhưng cũng lại cửa đón mà mừng rể.

Bà Bá hộ thấy Hào ốm hơn xưa nhiều, mà chàng lại bước không gọn gàng ngay thẳng, bà hỏi bị đạn đến mang tật hay sao. Hào phải kéo ống quần trình thẹo ở bắp chân cho cha mẹ vợ xem nữa. Bà thấy thẹo lớn quá nên bà thấy động lòng mà chắc lưỡi. Bà quên giận bỏ hờn, hối Kỳ nhắc ghế cho Hào ngồi, vợ chồng bà với Kỳ ngồi chung quanh hỏi thăm chuyện của Hào lại cho rõ, vì sợ Quyên phiền rồi thêu dệt nhiều điều không đúng với sự thật.

Hào mới thuật hết đầu đuôi cho cha mẹ và anh vợ nghe, cũng như đã nói với ông cha ruột rồi hồi sớm mơi. Chàng kể chuyện kiến trúc đại đồn, cách sắp đặt phòng thủ. Trót cả năm bên địch được binh tiếp viện mới mở cuộc tấn công. Hào quăng bút cầm dao mà theo đội xung phong nên bị thương nặng tại bắp chân, may nhờ có người cõng giùm ra khỏi chiến trường rồi thì đại đồn thất thủ, binh ta tan vỡ. Hào được xe bò chở giùm đi lánh nạn, đi cả đêm ngày mới lên tới Củ Chi. Vết thương ra máu nhiều quá, Hào chắc sắp chết, không còn mong gì nữa. Có bà Năm là một góa phụ hảo tâm ở Củ Chi, bà rước về nhà cho con trai bà lo kiếm thuốc men và để cho đứa con gái là cô Chức, chăm nom đêm ngày thoa thuốc, đút cơm giặc áo quần, chịu dơ dáy. Hào nói phải chịu đau nhức cả năm mới thấy khỏi chết. Chàng tỉ mỉ kể cách tận tụy và cực nhọc của cô Chức đặng cứu chàng khỏi tay tử thần. Vì cảm ân nghĩa nặng nề, lại trai gái gần nhau lâu ngày mới gây cuộc tình duyên rồi sanh con. Chàng nói muốn về xứ sở lâu rồi, ngặt chàng còn ốm yếu quá, vết thương cũng chưa thiệt lành, lại Củ Chi cũng không có ghe xuồng, nên chàng phải nấn ná ở đó cho tới năm nay thiệt mạnh rồi cô Chức mướn xe bò đưa chàng qua Thủ Dầu Một kiếm ghe đi bán đường bán thuốc mà xin quá giang đặng đưa chàng đi luôn về đây.

Ông Bá hộ ngồi chăm chỉ nghe, nhứt là nghe cái đoạn thất đại đồn với cái đoạn cô Chức tận tụy chịu cực chịu khổ mà săn sóc cứu Hào cho khỏi chết.

Hào nói dứt rồi ông Bá hộ hỏi:

- Trước khi con phối hiệp với cô Chức con có nói cho cô biết con đã có hứa hôn với con Quyên rồi hay không?

- Thưa có. Con nằm dưỡng bịnh, cô xẩn bẩn một bên mà săn sóc. Lúc buồn cô hỏi thăm gốc gác và gia đạo của con. Con có tỏ thiệt hết cho cô nghe.

- Cô biết con đã có hứa hôn với người ta rồi, mà cô còn bằng lòng ăn ở với con, cô làm như vậy thì quấy lắm. Cô đoạt hôn của người ta.

- Thưa cha, gần nhau lâu ngày rồi trời khiến cô đem lòng thương con. Con có nhắc sự con có hứa hôn với cô Quyên, bỏ trầu cau rồi, nhưng vì có giặc nên chưa cưới. Cô nói cô thương con, cô không nề chi hết. Cô đã cứu con thoát khỏi tay tử thần, bây giờ cô phải lo tiếp dưỡng cho con thiệt mạnh, đặng con trở về xứ sở. Cô làm cợ con trong một năm cũng đủ cho cô vui lòng, vui vì cứu được mạng của một chiến sĩ. Chừng con mạnh con về thì cô ở lại nuôi mẹ già, thương nhau thì tưởng nhớ nhau cũng đủ. Năm nay con về. Ở với nhau có một đứa con. Cô không nỡ giành con vì nó là con trai, cô phải để nó theo cha đặng dạy dỗ. Sở dĩ cô đưa con xuống tới đây là vì thấy con còn yếu, không đành để cho con đi một mình. Lại cô cũng tríu con, nên muốn đưa nó đi tới nơi chốn đặng sau có nhớ thì biết chỗ mà đi thăm chớ không có ý chi khác.

- Nếu vậy thì cô Chức này biết đều quá. Bây giờ con dắt mẹ con cô về nhà, sớm mơi nầy anh sui tính lẽ nào?

- Con xin thưa thiệt với cha mẹ, khi ra đi cô Chức theo đưa con, mà con không cản, là vì con thầm tính về đây con tỏ hết sự tình cho cha mẹ hai bên biết, rồi con chịu lỗi với cha mẹ hai bên và chịu lỗi với cô Quyên nữa. Nếu cô Quyên nghĩ ân nghĩa nặng dày của cô Chức đối với con, rồi rộng dung để cho cô Chức lại đây để cô khỏi phân ly đứa nhỏ của cô thì tốt, cô khỏi buồn rầu khi xa con, còn con thì con được vuông tròn ân nghĩa. Chẳng dè về tới hồi sớm mơi, cha con nghe con có vợ con, thì cha con giận hờn, nói biết một mình cô Quyên là dâu mà thôi, chớ không nhìn nhận người nào khác. Mà con dòm thấy ý cô Quyên cũng không vui lòng, nên cô bỏ đi về. Thấy tình thế như vậy hồi nãy con có dò ý cô Chức coi cô tính lẽ nào. Cô nói cô tưởng thuận hòa thì cô xin cho cô ở lại đây, trước cô được sum hiệp với đứa con nhỏ dại, sau cô giúp đỡ nuôi dưỡng con yếu đuối. Bây giờ cô thấy cô vui thì nhiều người buồn. Vậy thì cô chịu buồn một mình đặng để cho nhiều người vui. Cô tính cô sẽ kiếm ghe đặng trở về nuôi mẹ, trời khiến cô chỉ được gần con ít năm mà thôi, thì cô phải vâng mạng trời chẳng phiền trách ai hết. Hồi mới gặp nhau cô khẩn vái cứu con khỏi chết đặng chung sống cùng nhau trong ít năm. Lời ước nguyện ấy đã thực hiện y như vậy. Cô không dám mong mỏi hơn nữa.

Ông Bá hộ với Hai Kỳ nghe như vậy thảy đều cảm động, cảm thấy cô Chức là gái phi thường, ham lo cho người hơn à lo cho mình, dám hy sinh để tạo hạnh phúc cho người hưởng.

Ông Bá hộ hổ thầm về cái ý ông tưởng cô Chức quyết đoạt hôn nhân của cô Quyên mà ông biểu lộ hồi nãy. Bởi vậy ông hồi tâm mà hỏi Hào:

- Mà bây giờ con đã có vợ có con, nhứt là có người vợ đã có công cứu con thoát chết, vậy con có tính cưới con Quyên hay là tính hồi hôn? Cha đã hiểu sự tình của con rồi, dầu con hồi hôn cha cũng không trách được.

- Thưa, duyên của con đối với cô Quyên là duyên cha mẹ định. Dầu thế nào con cũng phải cưới chớ đâu dám thay dạ đổi lòng.

Ông Bá hộ châu mày mà ngó vợ và nói:

- Hồi nãy bà nói chuyện nầy khó xử. Thiệt khó lắm chớ không phải dễ. Kỳ vô kêu con Quyên ra đây cho cha hỏi một chút.

Hai Kỳ vô trong kêu cô Quyên ra.

Ông Bá hộ nói:

- Quyên, nãy giờ Hào đã thuật hết công chuyện cho cha mẹ nghe rồi. Nó nói cũng y như lời con nói vậy. Nó lại nói cô Chức đưa cha con nó về đây là có ý muốn biết chỗ ở đặng sau có nhớ con thì lên xuống mà thăm. Chớ chi gia đạo của Hào xui thuận ấm êm bắt cô ở đây luôn đặng cô giúp chồng và nuôi con thì cô không nệ gì. Té ra cô thấy tại cô mà sanh ra xào xáo trong gia đình nên cô tính cô trở về nuôi mẹ. Còn Hào thì bắt con nó ở lại và cũng dâng lễ vật cưới con là duyên của cha mẹ định, cha muốn biết ý con thế nào.

Quyên lại đứng sau lưng mẹ mà nói:

- Thưa, cha mẹ định sao thì con phải nghe vậy. Con không dám cãi. Nhưng con nghĩ anh Hào đã có vợ có con rồi thì thôi. Anh còn cưới con nữa làm chi?

Ông Bá hộ nói:

- Cha chả, con nói gai gắt làm chi vậy con. Công chuyện đã rối lắm rồi, con còn khuấy cho rối thêm làm chi nữa.

- Thưa, con muốn gở rối chớ có tính khuấy rối đâu. Cô Chức ra công cứu anh Hào khỏi chết rồi ăn ở với anh đã được một mặt con. Nếu không có cô Chức thì anh Hào đâu còn mà trở về đặng xin cưới con. Ví như con kể mâm trầu cau mà giành anh Hào thì con hèn quá. Vì vậy nên con phải lui bước nhường anh Hào cho cô Chức là phải hơn. Anh Hào phải ăn ở luôn với cô Chức đặng tròn ơn tròn nghĩa. Con lấy thiệt tình mà nói, chớ không phải nói gay gắt. Con xin làm em của anh Hào, con ở độc thân, trọn đời mà phục dịch cha mẹ.

Ông Bá hộ ngồi suy nghĩ một chút rồi ông nói với Hào.

- Con biểu cô Chức khoan về. Để thủng thẳng cha tính coi, ví như cô chịu ở luôn dưới nầy rồi con cưới con Quyên hay không?

Hào vội vã đáp:

- Việc con cưới cô Quyên là việc cha mẹ hai bên quyết định. Dầu cô Chức ở hay về con cũng phải cưới. Con không được phép thối thác.

- Nếu cô Chức ở lại mà con cưới con Quyên nữa, té ra con hai vợ, rồi ai làm lớn ai làm bé? Cái đó càng khó xử nữa. Con ăn ở với cô Chức trước, lại có sanh con, nếu để cô làm lớn thì sợ con Quyên không vui.

- Thưa không, cô Quyên là vợ của cha mẹ định, lại định trước rồi nữa, tức thị cô ở ngôi chánh thất. Ai giành với cô được. Huống chi cô Chức có muốn tranh làm lớn làm bé chi đâu. Cô thường nói miễn cô được ở đặng phục dịch con và gần thằng nhỏ thì cô vui lòng, dầu cô ở địa vị nào cô cũng không kể.

- Nếu vậy thì dễ một chút. Bây giờ còn khó có anh sui ở trỏng mà thôi. Cha phải bàn lại với ảnh mới xong.

Cô Quyên nói:

- Thưa cha, vợ lớn vợ bé khó lòng, làm sao khỏi xích mích cho được. Con muốn anh Hào ở luôn với cô Chức, anh không cần cưới con nữa làm chi.

Ông Bá hộ trợn mắt mà nạt:

- É!con đừng có cãi. Trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng. Vợ lớn vợ bé sao lại khó lòng. Bực vua có tới cả trăm vợ. Còn quan thì có vợ rồi có thiếp, lại thêm có hầu nữa. Có xích mích gì đâu, nước mình có "chế độ đa thê" đàn ông có mấy vợ cũng được, bởi vậy mới có tục ngữ "Ba bà giúp một" đó chớ.

Cô Quyên không dám cãi nữa.

Ông Bá hộ nói với Hào:

- Thôi, con về mà nghỉ. Để xế mát cha vô, cha nói chuyện với anh sui rồi sẽ hay.

Hào đứng dậy từ cha mẹ vợ với Hai Kỳ và Quyên mà về.

Bà Bá hộ ngó theo mà nói với ông:

- Hồi con Quyên về nói Hào có dắt vợ con về nữa, tôi nghe tôi phát giận. Bây giờ tôi nghe Hào nói chuyện cô Chức tôi động lòng quá. Mình làm gắt tội nghiệp phận cô chớ. Ông nó tính để cô ở lại làm bé thì phải lắm.

Ông Bá hộ nói:

- Tôi nghỉ đuổi cô thì bất nhân bất nghĩa quá, nên tôi mới tính như vậy cho đâu đó vuông tròn. Ngặt lão Thuận gắt gao lắm. Không biết nói lão chịu hay không chớ.

Cô Quyên nói:

- Bộ giận lắm. Con sợ cha giải hòa không được đâu.

Cô nói rồi bỏ đi vô trong.

Bà Bá hộ chỉ theo mà nói với ông:

- Nó dựa hơi ông Thuận nên bộ nó không chịu bắt cô Chức ở lại làm bé thấy hôn.

Ông Bá hộ nói:

- Nó làm con, tôi biểu sao nó phải nghe vậy. Con nít mới lớn lên, nó có biết phải quấy gì đâu. Ở đời mình phải biết thương người. Mình muốn cho phần mình, ai chết mặc ai, ăn ở như vậy thì cất đầu lên sao nổi.

Hai vợ

VIII

Mặt trời đã xế bóng.

Hào ở ngoài nhà ông Bá hộ nhút nhắc đi về. Vô gần tới cửa chàng thấy mẹ con cô Chức ngồi chồm hổm tại ngạch cửa, mắt buồn hiu. Trong nhà thì ông Thuận nằm im lìm trên giường như nằm ngủ.

Quang cảnh buồn bực hết sức. Chết đi sống lại mà về tới nhà cha con sum hiệp vui mừng, nào dè không thấy vui mừng mà lại thấy phiền não. Tuy Hào không nỡ tiếc sao năm trước chàng không chết phứt tại chiến trường, hay là tiếc sao hăng hái trở về quê cũ làm chi, song đứng trước hoàn cảnh thê thảm như vầy chàng chẳng khỏi héo ruột gan, ứa nước mắt.

Chàng ngoắc cô Chức ra ngoài sân mà hỏi nhỏ:

- Qua đi nãy giờ ở nhà cha có nói tiếng chi với em không?

- Không. Hồi nãy em thấy cha dậy cha bước xuống đất, em lật đật bước vô hỏi cha muốn đi đâu để em dắt cha đi. Cha khoát tay mà nói không cần, vì cha biết đường rồi, cha mò đi ra đằng sau tiểu tiện. Chừng trở vô cha cũng mò mà đi. Em đi vô coi chừng vậy thôi, chớ em không dám nói chi hết. Anh đi thăm ông Bá hộ, chắc anh còn nghe thêm nhiều lời cay đắng nữa phải hôn?

- Không có. Qua thuật rõ sự tình của qua cho hai ông bà nghe. Qua thấy ông bà cảm động nên không nỡ trách qua. Ông nói chiều mát ông sẽ vô đây mà bàn tính công chuyện của mình với cha.

- Em thấy chỉ có cách em phải từ biệt mà về Củ Chi mau mau thì anh mới gây thuận hòa đầm ấm lại được. Em rất tiếc hồi sớm mơi em theo anh lên nhà làm chi mà sanh sự cha hờn cha giận, vợ trách phiền. Em đưa anh với Hùng tới nhà thì đủ rồi. Em ở luôn dưới ghe rồi theo ghe trở về thì xong quá.

- Ông Bá hộ dặn em khoan tính về. Đợi ông vô nói chuyện với cha rồi sẽ hay.

- Ghe còn đậu mà bán đường bán thuốc kia. Hồi nãy em có ra hỏi ông chủ ghe thì ông nói chiều tối ông sẽ lui ra đậu ngoài chợ Rạch Băng mà bán vài bữa. Vậy chừng ghe lui em theo ghe mà đi cho rồi.

- Không, gấp gì, qua có dặn ông chủ ghe chừng về ghé đây coi như em về thì ông rước em. Ông hứa ông sẽ ghé đặng mua lúa chở về Thủ. Đợi chiều coi ông Bá hộ với cha bàn tính thế nào sẽ liệu.

Hào với Chức dắt con đi vô nhà.

Hào đi ngay lại chỗ cha nằm mà nói:

- Hồi sớm mơi cha ăn cơm nửa chừng kế con về nên cha thôi ăn. Con chắc cha đói bụng. Để con biểu nó nấu cơm sớm cho cha ăn nghe hôn cha?

Ông Thuận nói:

- Thôi, thôi, tao không muốn ăn uống gì nữa hết. Đừng có nấu thất công.

Chú Hợi đi trong ruộng về, chú thấy Hào với Chức chú không biết khách lạ ở đâu đến, ngoài bến lại có ghe đậu, nên chú ngó trân trân mà đi thẳng vô nhà mà thay áo quần vì cắt cỏ trong lúa nên ướt hết.

Hào đợi chú thay đồ rồi mới vô nói cho chú biết. Chú mừng và hỏi cô Quyên đi đâu. Hào nói cô Quyên đã về ngoài nhà cô và khuyên chú Hợi nấu cơm giùm đặng cho cha ăn, vì sợ cha đói, thầm tính chú Hợi nấu cơm rồi mời cha ăn chắc cha chịu ăn. Hào nói nhỏ với cô Chức biểu phụ nấu cơm bới chú Hợi.

Ông Bá hộ nói với Hào xế mát ông sẽ vô. Mà Hào về rồi, ông bứt rứt ngồi nhà không yên, cách một lát ông lấy dù che mà đi. Muốn có người tiếp sức mà khuyên giải ông Thuận, nên ông ghé nhà Phó Tha cho hay Hào còn sống và đã về, rồi thuật luôn chuyện Hào về dắt vợ con làm cho ông Thuận bất bình, giận con đuổi dâu, mất hết hân hoan hòa nhả. Ông mời Phó Tha đi với ông đi vô khuyên giải ông Thuận trên dưới an vui trong ngoài đầm ấm. Phó Tha chịu đi liền. Đi đặng mừng cho Hào may mà trở về chung sống cùng bà con chòm xóm.

Hào thấy ông Bá hộ với Phó Tha đi vô lật đật ra sân mà mừng. Phó Tha cũng mừng hỏi nói lăng xăng rồi Hào mời vô nhà.

Ông Thuận nghe tiếng hai ông bạn già thì ông ngồi dậy mò đi ra ván. Hào thấy cô Chức lấp ló ở trong thì ngoắc ra chào hai ông khách.

Ông Bá hộ nhìn thấy cô Chức thấy cô trạc Quyên, gương mặt cũng hiền lành, nhưng bộ Chức mạnh khỏe hơn nhiều.

Phó Tha nói:

- Ở đời hễ làm phải thì có thánh thần phò hộ. Mấy năm nay ai cũng kể chắc cháu Hào không còn. Té ra nhờ thánh thần che chở nên ra trận bị thương nặng mà rồi cũng lành mạnh mà về được. Vậy đó người ta gọi là có phước đức. Anh hai đây có phước là còn người con một, còn xóm Tre mình có phước khỏi mất nhà nho.

Ông Bá hộ nói tiếp:

- Hào làm trai hiến thân giúp nước, đã làm tròn nhiệm vụ thiệt vinh quang quá. May khỏi chết, được trở về xứ sở, lại dắt về một đứa con, mà con trai nữa, cái đó mới quí chớ.

Ông Thuận nói:

- Quí giống gì? Nó làm cho tôi mang xấu chớ quí.

- Sao mà mang xấu.

- Tôi đã cầm trầu cau nói vợ cho nó rồi. Tôi đã kết tình sui gia với anh. Năm sáu năm nay con Quyên lo nuôi dưỡng tôi. Tôi ốm đau mù quáng nhờ có nó tôi mới sống được. Hào ra đi giúp nước, cái đó ai cũng khen. Đã đành như vậy, mà giúp nước thì giúp chớ sao lại bội ước bỏ con Quyên mà ăn ở với người khác mấy năm nay, không thèm thưa trước cho tôi hay, có con rồi dắt nhau về đây mà trêu bẹo. Nó làm như vậy không phải là làm cho tôi mang xấu, làm cho tôi hổ thẹn với anh sui, với con Quyên hay sao?

- Nó ra trận bị đạn gần gãy chân, thập phần tử nhứt phần sanh mà nhờ có cô Chức chịu cực khổ chăm nom nuôi dưỡng mấy năm nó mới khỏi chết. Nó cảm tình cảm nghĩa gần gũi nhau rồi thương nhau. Nó nằm một chỗ làm sao đi về được mà thưa trước với anh. Anh bắt lỗi cái đó gắt quá.

- Nó thuật chuyện như vầy rồi anh tin hay sao? Nó bỏ con Quyên mà lấy người khác, rồi đặt chuyện nói nghe cho thiết yếu đặng chữa lỗi hơi nào mà tin.

- Coi! Nó bị đạn nát bắp chuối, thẹo lớn bằng bàn tay. Nó đi không ngay, đứng không vững, bằng cớ rõ ràng, không tin sao được. Tại anh mù quáng nên anh không thấy nên anh tưởng nó đặt chuyện, chớ tôi biết thiệt mà tôi không tin sao được. Hào, con giở thẹo cho chú Phó coi phải vậy hôn.

Hào bước lại vén ống quần mà trình thẹo cho khách xem.

Phó Tha xem rồi nói:

- Trời ơi! Thiệt thẹo thấy phát sợ. Thịt bắp chuối tiêu hết, hèn chi đi đứng không vững. Bị đạn như vầy làm sao sống cho được. Nằm một chỗ mà điều trị đôi ba năm là phải lắm chớ. Nghi nỗi gì.

Ông Bá hộ mới nói với ông Thuận:

- Theo ý tôi thì Hào đã có công giúp nước, lại bị thương nặng còn sống được đây là may, nó có lầm lỗi chút đỉnh mình nên dung chế cho nó. Tôi xin anh tha lỗi cho Hào đặng cha con hiệp hòa, trong nhà vui vẻ, chớ Hào được sống mà về, lại bị cha giận hờn quở trách nó mất vui mừng, tội nghiệp cho nó.

- Anh muốn tha thì anh tha, chớ tôi là cha ruột nó tôi không thể tha nó được. Hơn năm năm nay tôi nhờ con Quyên nên mới còn sống đây. Nó bỏ con Quyên mà lấy vợ khác tôi tha sao được. Tôi chỉ biết con Quyên là dâu tôi thôi, tôi không biết ai hết nữa.

- Anh nhờ con Quyên nên anh sống. Thằng Hào nhờ có cô Chức nên nó sống. Bây giờ anh nhìn nhận một người. Anh làm như vậy thì mất công bình. Quyên với Chức đều có công ơn như nhau, sao anh lai yêu Quyên mà ghét Chức? Anh phải suy nghĩ lại phải xử cho công bình sắp nhỏ mới phục.

Phó Tha tiếp nói:

- Hai cháu đều có công ơn cả hai. Vậy phải thương hết hai cháu mới công bình.

Ông Thuận nói:

- Đâu được. Con Quyên là tôi có cầm trầu cau đi hỏi cưới. Còn con Chức, tôi có biết nó ở xứ nào, tôi không hay nó đụng thằng Hào bao giờ, tôi phải nhìn nó là dâu như con Quyên, tôi phải thương nó như con Quyên, cái đó không thể được. vậy thì hiếp con Quyên chớ công bình nỗi gì. Nếu thiệt con Chức có công cứu thằng Hào khỏi chết, và nếu nó là gái biết điều, thì nuôi Hào lành mạnh rồi nó đưa thằng nọ xuống đây mà giao cho con Quyên rồi nó trở về xứ nó. Nó làm như vậy tôi mới cảm ơn, tôi mới thương nó được.

Ông Bá hộ cãi:

- Anh thương như vậy thì thương cũng như ghét, ai màng anh thương. Để tôi nói cho anh nghe. Chức nuôi Hào trong nhà mấy năm nay ăn ở với nhau đã có con biết đi biết nói. Mẹ Chức bằng lòng nên mới đầm ấm, xóm làng biết hết nên không có tiếng gì. Nay mẹ con nó xuống đây anh làm giận làm hờn anh đuổi nó về. Nghe nói nó tính để con theo cha cho cha dạy dỗ. Nếu anh đuổi chức về tự nhiên nó sẽ dắt con nó về. Anh mất đứa cháu nội trai anh thấy hại hay chưa?

Ông Thuận giận nên nói:

- Bắt con sao được.

- Ủa! Con nó thì nó bắt. Anh có quyền gì mà cản được. mà ví như Chức vị tình Hào, nó để con nó lại cho Hào dưỡng nuôi dạy dỗ thì xa con nó nhớ buồn rầu, tội nghiệp cho phận nó. Còn cái này nữa, bị đuổi trở về chắc nó bị chòm xóm chê cười, còn bị cha mẹ anh em hất hủi. Anh phải xét chỗ đó mà thương phận nó.

Ông Thuận nín khe, suy nghĩ.

Ông Bá hộ thấy bộ ông sui dường như ăn năn nên đứng dậy mà nói rút:

- Anh phải suy nghĩ lại, phải biết thương người không nên ở ác.

Không dè ông Thuận lại còn nói.

- Tôi biết một mình con Quyên là dâu thôi. Tôi không muốn biết ai nữa hết.

Ông Bá hộ giận nên nói lớn:

- Thôi, đi về anh Phó. Chuyện nhà của ảnh, ảnh tính sao ảnh tính. Mình nói hết sức mà ảnh không thèm nghe.

Hai người khách ra tới cửa, ông Bá hộ đứng lại và day vô nói lớn:

- Nầy anh sui tôi nói trước cho anh biết, nếu anh nhẫn tâm đuổi con Chức về, thì tôi nhứt định không gả con Quyên cho thằng Hào. Anh kiện tới đâu anh kiện tôi không sợ.

Ông vói lấy cái dù móc trên cửa rồi kéo Phó Tha đi về.

Ông Thuận mò trở vô giường mà nằm.

Hào đứng ngó trân trân.

Cô Chức ở trong ló đầu ra mà dòm. Hào day lại ngó Chức lắc đầu, buồn hiu. Nãy giờ chú Hợi tiếp với cô Chức lo bữa cơm chiều cơm cũng chín rồi, chú nghe khách về thì sửa soạn dọn cơm ông Thuận ăn. Hào bước vô thấy chú Hợi đương dọn cơm thì nói:

- Chú dọn rồi chú bưng ra mời giùm cha tôi nghe hôn. Cha tôi còn giận tôi, nên tôi mời sợ cha tôi không chịu ăn. Hồi trưa tôi có thử rồi... mà cha tôi tối mắt, ăn một mình làm sao thấy tôm cá đặng gắp mà ăn?

Chú Hợi cười mà nói:

- Mấy năm nay có cô Quyên ăn với ông, cô gắp đồ cho ông ăn, chớ ông có thấy đâu.

Hào nói:

- Chú dọn rồi chú mời giùm. Hễ cha tôi qua thì tôi ăn với cha tôi đặng gắp đồ ăn.

Thiệt quả chú Hợi dọn rồi thì chú mời thì ông Thuận mò qua ngồi liền. Hào ngồi lại xúc cơm và gắp cá rồi đưa đũa đưa chén mời cha. Ông Thụân chịu bưng mà ăn, nhưng ông cứ lặng thinh, không thèm nói chi hết. Hào ngồi ăn với cha đặng coi gắp đồ cho cha ăn. Hào vẫn sợ cha giận rồi thôi ăn, nên Hào cũng không dám gạy nói chuyện gì hết.

Cô Chức đã múc sẵn một tô nước để dựa bên Hào. Ông Thuận ăn, còn nửa tô ông mò cái chén rồi xối mà rửa miệng.

Ăn uống xông rồi ông Thuận bước chân xuống đất, Hào tưởng ông qua giường nằm. Té ra ông mò đi lại cửa rồi lần lần đi ra hè tiểu tiện. Mặt trời gần lặn, không khí mát mẻ, ông lần trở lại cửa mà chơi. Chừng ông muốn vô nhà, thì ông lạc hướng, nên đi ngay vô vách. Hào lật đật lại nắm tay cha đi vô cửa. Ông rờ cánh cửa, biết được hướng rồi, thì biểu Hào buông tay để ông mò lại giường ngồi chơi.

Cô Chức bưng mâm cơm vô trong rồi mẹ con ngồi ăn với chú Hợi.

Ông chủ ghe đường lên nhà kiếm Hào đặng từ giã mà lui ghe. Hào đưa ông ra bến, cô Chức hay nên ăn cơm rồi cô dắt con ra bến mà đưa ông chủ ghe.

Cô Chức tỏ ý muốn theo mà đi liền.

Hào cản, nói ghe còn đi bán cho hết đường hết thuốc rồi mới trở về.

Ông chủ ghe nói:

- Tôi có hứa với cậu thế nào chừng tôi về cũng ghé xóm này mua lúa. Bây giờ tôi ra đậu tại Vàm Rạch Băng mà bán. Chợ ở gần đây. Vậy chiều mốt cô sẽ đi bộ ra đó cũng được, chẳng cần phải đi bây giờ. Còn nếu cô muốn ở đây chơi thêm một ít bữa thì bận về tôi sẽ ghé mà rước cô. Tôi hứa thì chắc, tôi không bỏ cô ở đây đâu mà sợ.

Ông chủ xuống ghe, biểu trao phụ nhổ sào mà lui. Hào với cô Chức đứng ngó theo, mặt mày buồn hiu.

Hào thấy trên sân, dựa mé rạch có mấy gốc bần lớn nằm nghiêng ngang, có lẽ mấy gốc của chú Hợi chở về bỏ đó mà phơi cho khô đặng bửa làm củi. Chàng biểu Chức dắt con lại đó ngồi nói chuyện chơi.

Ngày đó nhằm ngày rằm. Mặt trời chen lặn. Dưới rạch nước lớn đầy mà tiếng chim bìm bịp kêu vang trong đám lá dừa ở phía ngoài Vàm, báo tin nước sắp ròng, cũng như đã cho hay hồi nước mới lớn.

Chức hỏi Hào:

- Hồi trưa anh ra thăm ông Bá hộ, anh coi ý ông thế nào, mà hồi chiều ông cãi lẽ với cha, ông binh vực em dữ vậy?

- Hai ông bà nhờ có Quyên về nói trước nên đã có hay qua về mà lại có em với Hùng. Tuy vậy mà thấy qua ra, ông bà cũng mừng chớ không giận. Chừng nghe qua thuật rõ công chuyện gặp gỡ của mình rồi thì động lòng, không trách qua, mà cũng không ghét em. Ông kêu Quyên ra mà nói rằng em có ơn cứu qua khỏi chết, lại ăn ở với nhau đã có con, cha quá binh Quyên mà đuổi em về, thì tội nghiệp phận em, mà qua cũng buồn vì thấy em làm ơn lại mắc oán. Ý ông Bá hộ muốn em ở luôn dưới nầy, trước qua được tròn ơn nghĩa, sau em khỏi hổ thẹn với bà con chòm xóm trên Củ Chi, mà em cũng khỏi buồn rầu nhớ thương em nhỏ. Qua cưới Quyên nữa thì qua hai vợ, việc đó là việc thông thường trong xóm, thiếu gì người đôi ba vợ. Qua hiểu ý Quyên muốn một mình một chồng, song cô không dám nói ra, sợ cha rầy. Cô nói trớ rằng em có công cứu qua khỏi chết, lại có con rồi, nên cô nhường qua cho em đặng qua khỏi mang tiếng vong ân. Phận cô thì cô ở nhà nuôi cha mẹ. Ông Bá hộ không chịu, nếu làm như vậy thì Quyên mang tiếng ghen tuông nên từ hôn.

- Em cũng không chịu, vì làm như vậy em cũng mang tiếng đoạt hôn của chị Quyên.

- Ông Bá hộ có ý muốn em ở luôn với qua. Qua cưới Quyên cho khỏi thất ước, lại khỏi cha mẹ giận. Quyên có cha mẹ cưới hỏi thì làm lớn, em ngẩu hiệp thì làm nhỏ. Lớn nhỏ hòa hiệp với nhau mà giúp chồng và nuôi cha chồng. Ông biểu qua về, để chiều ông sẽ vô mà bàn tính với cha. Tại vậy nên hồi chiều mới có cuộc cãi lẫy, rồi cha cứ khư khư không khứng nhìn nhận em là dâu, thành ra sui gia xích mích.

- Em xét lại tại em mà sanh ra kẻ buồn người giận, xào xáo gia đạo, xích mích sui gia. Chớ chi hồi sớm mơi em đưa anh về tới đây em ở luôn với ghe rồi trở về xứ sở em, em không chường mặt lên nhà, anh cũng giấu biệt đừng nói chuyện tình duyên của mình làm chi, thì xong xuôi quá. Ai cũng vui mừng niềm nở, khỏi giận hờn xích mích chi hết.

- Qua bỏ xứ mà đi ra trót năm sáu năm, nhằm lúc giặc giã lung tung. Qua không hiểu xứ qua loạn lạc thế nào, ai còn ai mất. Qua không dè xóm làng của qua còn yên ổn như thế nầy. Bữa nay qua nói thiệt với em, qua thưa với bà già và nài nỉ với em mà đem em về dưới này đặng vợ chồng sum hiệp, mẹ con khỏi rời nhau, là vì qua tưởng trước quốc nạn thê thảm, nước mất, nhà tan, người chết, trẻ già đều phải kết, phải thương yêu nhau, nhứt là với phận qua đã chết may mà được sống lại thì ai cũng xét giùm hoàn cảnh đó mà hỉ xả cho qua về một lỗi nhỏ mọn, tại thời cuộc mà qua phải phạm. Qua chẳng dè lòng dạ của người vẫn còn hẹp quá. Phải qua dè như vầy thì qua nghe lời em qua có đem em theo làm chi cho qua phải tủi phận phải buồn lòng.

- Em xin anh đừng trách ai hết. Nếu anh phiền trách thì càng lỗi thêm. Hồi chiều em ở trong, ông Bá hộ với cha nói chuyện em nghe rõ hết. Ông Bá hộ biết thương phận em, thiệt em đội ơn ông hết sức, mà cha có nói lời nầy, em nghe em kính phục cha hết sức. Chớ chi em là gái biết điều, em cứu anh khỏi chết, em nuôi cho anh lành mạnh em đưa anh xuống đây mà trả cho cha, cho chị Quyên, rồi em trở về xứ em, nếu em biết làm như vậy thì cha mới cám ơn em, cha mới thương yêu em.

Em nghĩ lời cha nói đó đúng lắm. Em xuống đây đặng giựt chồng của chị Quyên chớ ơn nghĩa gì mà thương em. Còn chị Quyên, chị nói vì em có công ơn cứu anh khỏi chết, lại lỡ có con rồi, nên chị nhường chồng cho em mà đền ơn đáp nghĩa, ấy là lời phỉnh phờ dối trá, em tin làm sao được. Tại anh đã thấy cái chết trước mắt, nên anh nỡ lòng quảng đại, anh tưởng ai cũng như anh. Mà cũng tại em quê mùa khờ khạo, em tưởng ai cũng biết trọng nghĩa, ai cũng ham làm ơn như em. Đôi ta mù quáng tin tưởng tầm bậy, nên bước lỡ vào đường quấy. Vậy thì phải thối lui cho mau, thối lui cho mình khỏi hổ, khỏi buồn, thối lui cho người an vui, hết phiền hết giận. Em xin anh để cho em trở về xứ, càng đi mau càng thêm hay. Chỉ có cách đó mới giúp cho anh gây lại được cái cảnh cha con thuận hòa, vợ chồng đầm ấm.

- Em lo phận qua còn phận em thì không nghĩ tới? Em trở về Củ Chi, em phải chịu tiếng chê cười, em phải ôm lòng phiền não, em sống làm sao được.

- Em sẽ rán em chịu, xin anh đừng lo cho em. Khi mới biết nhau, em hay anh đã có hứa hôn rồi, nên em thương anh, em tính gần nhau trong một thời gian mà thôi. Nay phải rời nhau, ấy là việc em biết trước, nên em không buồn chi lắm.

Hào lặng thinh ngồi suy nghĩ.

Trời đã sụp tối lần lần. Chú Hợi đã đốt đèn trong nhà, trăng đã lú mọc, nhưng bị mây án, sân vẫn lờ mờ.

Hào suy nghĩ thiệt lâu rồi thở dài mà nói:

- Em tính em trở về Củ Chi. Em về ở với mẹ già. Qua nghĩ làm như vậy ở dưới nầy qua mới hết rắc rối, mà ở trên kia em cũng tròn phận sự. Cuộc đời hiệp rồi tan, tan rồi hiệp. Việc vợ chồng là việc chăm năm chớ không phải một ngày hay một bữa. Nếu trời cho đôi ta mạnh mẻ hoài, thì có ngày cũng sẽ tái hiệp cùng nhau, hễ trong xứ hết loạn ly, thì đường đây lên Củ Chi không xa cho lắm. Qua có thể lên thăm em được. mà nếu em về em đem Hùng về hay là em muốn để nó lại dưới nầy?

- Em đã nhứt định để nó theo anh đặng anh dạy dỗ nó, chớ đem về làm chi?

- Em về một mình sợ em thương nhớ nó rồi em buồn.

- Không sao đâu. Con trai phải để nó gần anh đặng anh dạy dỗ nó.

- Nếu qua sợ em buồn, qua ép em phải đem Hùng theo, có lẽ em nghi qua muốn đoạn tình nghĩa với em. Vậy qua lãnh thằng Hùng qua giáo dục. Thấy nó hằng ngày hàng giờ thì cũng như qua thấy em. Nó là di tích tình duyên của đôi ta. Có nó thì qua không thể quên cuộc tình duyên ấy được. Mà em tính chừng nào em đi?

- Đi sớm chừng nào tốt chừng nấy. Khuya nầy anh chỉ đường cho em ra chợ kiếm chủ ghe Thủ em xin ở theo ghe mà đi luôn.

- Khổ nỗi qua không có bạc tiền mà đưa cho em trả tiền ghe và ăn uống dọc đường. Bây giờ biết mượn tiền của ai. Qua không muốn cậy nhờ ông Bá hộ.

- Việc đó anh khỏi lo. Có hai nén bạc hồi lên Củ Chi anh đưa cho mẹ cất. Hôm mình đi mẹ có đưa lại cho em. Em còn giữ trong gói.

- Hai nén bạc ấy là bạc của ông Bá hộ tặng qua khi qua từ biệt mà đi lính. Nếu còn thì may mắn lắm.

- Để chưng vô nhà thì em đưa lại cho qua một nén. Em xin một nén để đi đường mà thôi.

- Em lấy hết cũng được.

- Một nén đã nhiều lắm rồi. Em chia lại cho anh một nén chớ lấy hết làm chi.

Hùng buồn ngủ, nên dựa trong lòng mẹ nó mà ngủ gục. Hào thấy vậy biểu Chức ẳm em vô nhà cho nó ngủ.

Hào đi thẳng vô trong thấy chú Hợi đã ngủ khò. Chàng trở ra đứng gần đầu giường của cha, thì cha nằm im lìm, chắc cha cũng đã ngủ.

Bây giờ trăng lên cao dọi ngoài sân sáng trưng. Hào tắt đèn rồi bảo Chức ra sân nói chuyện chơi.

Vợ chồng ngồi giữa sân, trăng tỏ rạng, gió lai rai, to nhỏ bàn tính với nhau, rồi hiệp ý khuya quyết định nấu cơm ăn rồi sáng Hào đưa cô ra đường cái chỉ chợ cho cô biết đặng cô đi lại đó kiếm ghe bán đường thuốc mà xin cho đi theo ghe. Vợ chồng rù rì, dan díu, dặn dò, hứa hẹn đủ điều, mà cũng chưa cho là hết, cứ bày tình tỏ ý với nhau đến gà gáy canh ba mới chịu vô nhà mà nghỉ.

Hai vợ

IX

Trời rạng đông. Mặt trăng đã ngã về Rạch Băng dọi cây cỏ sáng lòa giữa quang cảnh im lìm an tịnh.

Chú Hợi thức dậy ngồi gãi đầu một hồi, rồi lấy con cúi thổi ra lửa mà đốt đèn, làm lộp cộp ở trong bếp.

Đêm nay cô Chức nghĩ đến việc sắp lìa chồng lìa con mà về xứ, cô thắt thẻo trong lòng, nên cô nằm mơ hoài, cô ngủ không an giấc. Nghe chú Hợi làm rột rẹt ở phía sau, rồi lại nghe tiếng gà cồ gáy vang trong xóm, cô biết đã gần sáng nên cô ngồi dậy bới đầu. Nhìn con trong bóng tối, thấy con nằm ngủ thảnh thơi, cô cảm xúc đưa tay vuốt ve rồi cúi xuống ôm mặt con mà hun, nước mắt tuôn dầm dề. Cô ngó qua bộ ván ngang đó, cô thấy Hào nằm thim thiếp, cô càng cảm động hơn nữa.

Cô Chức sợ bận bịu với chồng con cô sẽ nãn chí cương quyết, bởi vậy cô lau nước mắt rồi bước chân xuống đất mà đi vô trong.

Chú Hợi thấy cô thì hỏi:

- Mợ dậy làm chi sớm dữ vậy?

- Tôi sửa soạn đặng đi về.

- Vậy à?

- Chú nấu cơm hay là làm gì đó?

- Ừ, nấu ba hột cơm ăn rồi đi vô ruộng cho sớm.

- Chú làm ơn nấu nhiều nhiều một chút đặng cho tôi ăn với.

- Được, được.

Cô Chức đi ra sau múc nước rửa mặt. Cô thấy chú Hợi vút gạo đặt nồi cơm lên bếp rồi bắt cá bống làm đặng kho. Cô trở ra trước, nhờ vách thưa nên ánh trăng gọi sáng trong nhà cô mới mở gói áo quần lấy đồ của cô mà để riêng ra ngoài. Cô lấy hai nén bạc để một bên đó rồi cô gói đồ của chồng con mà để lại.

Hào ngồi dậy thấy trời gần sáng và thấy Chức đang soạn áo quần thì bước lại gần. Chức lấy hai nén bạc chia cho Hào một nén, còn một nén cô bỏ vào túi cô.

Hào đi vô trong thấy chú Hợi đương kho cá thì hỏi:

- Thường bữa cha tôi ăn cơm sớm hay là trễ.

- Sớm mơi ông ăn cơm trễ lắm. Ông nói ăn sớm ông ăn không được, bởi vậy bữa nào khuya tôi cũng nấu đủ tôi ăn đặng tôi đi vô ruộng. Đến nửa buổi cô Quyên ở nhà mới nấu cơm nóng mà dọn cho ông ăn.

- Cám ơn chú. Tôi hỏi cho biết đặng tôi làm đừng trái ý cha tôi.

- Cá lóc kho với tép rang còn nhiều. Tôi mới kho thêm cá bống dừa nữa đây. Ở nhà chừng ông ăn cơm, thì hâm mà dọn cho ông ăn.

Hào đi ra sau mà rửa mặt, chừng vô thì thấy cô Chức đương phụ với chú Hợi dọn cơm ăn. Chú Hợi hỏi Hào ăn cơm hay không. Hào lắc đầu nói để rồi sẽ nấu cơm ăn với cha.

Trong lúc cô Chức đương ngồi trong nhà bếp ăn cơm với chú Hợi. Hùng thức dậy không thấy cha mẹ thì bệu bạo kêu má. Hào lật đật ra bồng con rửa mặt cho con rồi biểu nó ngồi ăn cơm với mẹ, sợ đợi trưa mới cho nó ăn thì nó đói bụng.

Cô Chức kêu con lại ngồi một bên, cô xúc một chén cơm và gắp cá để sẵn cho con ăn. Cô nghĩ bữa cơm nầy là bữa cơm chót cô ăn với con, bởi vậy cô cứ ngó con trong lòng héo hon buồn thảm. Hào liếc mắt thấy tình cảnh mẹ con dan díu chàng khó chịu nên bỏ đi ra ngoài trước.

Trời đã sáng. Chú Hợi dọn dẹp rồi chú xách cái mác đi vô ruộng.

Cô Chức dắt con đi ra trước, thấy cha chồng vẫn còn yên giấc cô đi thẳng ra sân đứng nói chuyện với chồng, chẳng nói chuyện chi khác hơn là dặn dò nhau đặng có chia rẽ.

Mặt trời mọc. Ông Thuận thức dậy, Hào với Chức không hay. Chừng day vô nhà thấy ông đương mò vách ra ngoài đi tiểu tiện, thì Chức lật đật đi vô múc một tô nước bưng ra. Hào rước lấy đem lại cho cha rửa mặt.

Ông Thuận rửa rồi trả tô cho Hào và lần cửa trở vô ngồi tại bộ ván giữa nhà.

Chức nói nhỏ với Hào để cô vô từ biệt cha mà đi cho sớm. Hào gật đầu, đưa cái tô cho vợ đem vô cất. Chàng nắm tay con đứng ngoài sân mà chờ.

Cô Chức vô để cái tô lên bàn, lấy gói áo của cô mà cầm trong tay rồi bước lại đứng trước mặt ông Thuận mà nói:

- Thưa cha con về. Con cầu chúc cho cha ở dưới này mạnh giỏi.

Ông Thuận ngạc nhiên hỏi.

- Về Đâu?

- Thưa, con về xứ con.

- Hứ, gấp dữ vậy?

- Thưa sẵn có ghe, nên con quá giang đi cho tiện.

Cô Chức thấy cha chồng không nói gì nữa, cô mới chấp tay xá ông rồi đi ra sân. Hào thấy Chức ra, mới cúi xuống bồng con, rồi vợ chồng nối gót nhau mà đi ra đường cái.

Ông Thuận ngồi trơ trơ trên bộ ván, không nói, cũng không cựa quậy, mà mặt mày buồn xo. Trong nhà im lìm, tứ bề vắng vẻ, chỉ nghe bầy vịt lội đi kiếm ăn dưới rạch, lạc nhau nên kêu om.

Ông Thuận biết sớm mơi chú Hợi phải đi vô ruộng nên ông không kêu chú. Ông mới kêu Hào hai ba tiếng. Không nghe Hào ứng đáp. Ông biến sắc, rồi kêu lớn "Hào A! Hào !"

Cũng không nghe Hào trả lời. Ông nói: "Úy! Vợ chồng nó phiền tôi nên dắt tay nhau đi hết rồi chớ gì!".Ông nói mấy tiếng rồi ông nghẹn ngào, rơi lụy, ông không nói được nữa.

Trong lúc ấy Hào vác con đi trước, Chức ôm gói áo đi theo sau. Hào đưa vợ ra đường cái đặng chỉ chợ Vàm Rạch Băng cho vợ biết mà ra đó kiếm ghe bán đường bán mía.

Cô Quyên đứng trước giữa sân vải lúa cho gà ăn, cô thấy Hào với Chức đi ngang ngoài cửa ngõ, người vác con người ôm gói, không biết dắt nhau đi đâu. Cô bỏ quảu lúa xuống sân, rồi lẹ bước đi ra cửa ngõ đứng ngó theo.

Đường cái đi ra chợ dài theo hàng rào của ông Bá hộ nên từ cửa ngõ đi ra đường không bao xa. Quyên thấy Hào với Chức tới đường cái thì đứng lại, rồi Hào đưa tay chỉ phía chợ Vàm Rạch Băng mà nói với chức. Hai người nói với nhau rồi cả hai đều lấy vạt áo mà lau nước mắt. Hào để con đứng xuống đất. Chức ngồi xuống ôm mặt con mà hun rồi lau nước mắt nữa.

Quyên nghĩ ông Thuận đuổi Chức nên Hào phải đưa Chức ra đây chỉ chợ cho Chức biết đặng kiếm ghe mà về xứ. Hôm qua có nghe ông Bá hộ tả nỗi khổ của Chức. Nếu buộc Chức phải lìa chồng lìa con. Nay cô thấy cái cảnh chồng vợ phân ly, mẹ con đau khổ, thì cô động lòng khó chịu.

Quyên thấy Chức hôn con một lần nữa, rồi lượm gói, nói ít tiếng với Hào mà đi. Thằng nhỏ chạy theo khóc kêu má om sòm. Chức đứng lại ngó con rồi lấy vạt áo đặy mặt mà khóc.

Trước tình cảnh thê thảm ấy. Quyên không thể chịu được nữa, cô xung xăng đi riết ra đường cái, vừa đi vừa kêu lớn "Chị Chức! Chị Chức! Đứng lại cho tôi nói chuyện một chút. Anh Hào kêu chị Chức lại".

Chức day lại thấy Quyên với Hào vừa kêu ngoắc, không biết có chuyện chi nên cô phải trở bước.

Quyên ra tới chỗ Hào đứng, thì Chức cũng trở lại tới đó.

Quyên hỏi Chức.

- Chị đi đâu đó?

- Tôi ra chợ kiếm ghe quá giang đặng về Củ Chi.

- Tại sao chị về gấp vậy?

- Tôi xuống đây tô làm xào xáo gia đình của anh Hào quá. Tôi nghĩ tôi phải về liền thì tốt hơn.

- Cha có đuổi chị hay không?

- Không, cha không đuổi, mà cha không vui. Tôi phải xử phận tôi, chớ đợi tới cha đuổi hay sao?

- Không được. Tôi không bằng lòng để cho chị về. Tôi mời chị ghé nhà tôi rồi sẽ nói chuyện cho chị nghe. Anh Hào dắt chị Chức vô đây.

Hào biểu Chức.

- Em vô một chút cho Quyên vui lòng. Vô đặng từ giã ông Bá hộ luôn thể.

Quyên đi trước. Hào vác Hùng và Chức đi theo sau.

Vợ chồng ông Bá hộ nghe Quyên kêu nói om sòm ngoài ngõ, không biết chuyện gì nên ra đứng ngoài hàng ba. Ông bà thấy Quyên dắt Chức với Hào vô sân thì chưng hửng, đứng chờ vô đặng hỏi coi có chuyện gì.

Chừng ba người vô tới thềm, ông Bá hộ mới hỏi.

- Chuyện vì vậy, chắc anh sui ảnh đuổi đi hết chớ gì?

Quyên hớt nói:

- Không có đuổi. Con hỏi rồi. Chị Chức nói xuống đây thấy cha ở trỏng không vui lòng, nên chị về xứ đặng yên gia đạo. Anh Hào đưa chị ra đường cái, chỉ chợ cho chỉ biết đặng chỉ ra đó xuống ghe mà đi. Con thấy thằng nhỏ chạy theo má mà khóc, chỉ đứt ruột đi không đành! Thấy tình cảnh như vậy con chịu không nổi nên con chạy theo kêu trở lại. Xin cha tính lẽ nào cho xuôi, chớ để chị Chức lìa con mà về tội nghiệp chị lắm. Con không muốn vậy.

Ông Bá hộ nói:

- Anh sui kỳ quá hôm qua nói hết sức mà ảnh không chịu nghe. Để Chức đi rồi, cha hồi hôn, cho ảnh sáng cặp mắt ảnh mà. Thôi vô hết trong nhà, vô đặng hỏi lại coi.

Chủ khách đều vô nhà. Quyên mời Chức lại ván mà ngồi. Bà Bá hộ kêu Hào đem con cho bà coi. Bà vuốt ve Hùng, khen nó bặm trợn lại khuôn mặt giống cha như khuôn đúc.

Ông Bá hộ nói:

- Anh sui khỏi tốn một lá trầu khỏi mất một trái cau, tình cờ con trai chết đi rồi sống lại mà về, còn đem về cho ảnh một con dâu và một đứa cháu nội, như vậy mà ảnh còn làm giận làm hờn không chịu nhìn nhận, nghĩ coi có phải lòng dạ ảnh là sắt là đá, không biết thương ai hết, Chức ảnh nói làm sao mà bỏ con bỏ chồng trở về xứ sở, đâu con nói lại cho ông bà nghe.

Chức đứng dậy cung kính nói:

- Thưa ông, cha cháu không có đuổi xô hay nói nặng nhẹ chi hết. Nhưng từ hôm qua chỉ nói có biết một mình chị Quyên là dâu chớ không nhìn nhận ai hết nữa. Nói như vậy tức thị không nhìn nhận mẹ con con. Chiều hôm qua ông nói giùm cho con, thiệt con đội ơn hết sức, ơn ấy con ghi nhớ trong trí hoài, không bao giờ con quên. Ông cắt nghĩa chí lý mà cha con khư khư giận, không chịu tha thứ cho con. Con nghĩ tại con về đây nên gia đạo anh Hào mới xào xáo. Con phải đi về xứ thì gia đạo cha con mới thuận hòa, niềm chồng vợ mới đầm ấm. Vì vậy nên con đi về, chớ thiệt cha con không có xô đuổi con.

- Không chịu nhìn nhận, không nói tới tên, tức thị là đuổi, chớ đợi tới vác cây mà rượt hay sao. Hôm qua ông giải hòa không được, ông giận ảnh lắm. Ông tính để ít bữa nguôi ngoai rồi ông sẽ nói nữa. Có về cũng thủng thẳng mà đi, sao con đi gắp dữ vậy?

- Thưa ông, hồi con với anh Hào mới thương nhau, anh Hào đã nói cho con biết cha mẹ đã nói vợ cho anh rồi, nhưng vì giặc giã chưa cưới kịp. Con thấy anh bị thương nặng, con sợ anh khó sống, nên con chăm nom nuôi dưỡng cả phần xác với phần hồn. Con tính làm sao anh an vui thì thôi. Nay anh lành mạnh được mà về cho cha con gặp nhau, vợ chồng hiệp nhau, thì con vui vẻ tinh thần, vui cứu giúp được một chiến sĩ, bao nhiêu đó cũng đủ, con không có ý mong mỏi làm vợ anh trọn đời. Năm nay anh lành mạnh rồi anh nhớ cha già, nhớ xứ sở, anh muốn về, con không dám cầm anh ở trển nữa nhưng thấy anh còn ốm yếu nên con mới đưa anh đi. Hơn nữa, hai con ăn ở với nhau có một đứa con trai. Nay anh về xứ con phải giao con cho ảnh đặng ảnh dạy dỗ, thêm một cớ để cho con đưa xuống đây vì con muốn biết chỗ ở đặng sau có nhớ con thì biết đường mà đi thăm nó. Nếu xuống đây mà vui thì có lẽ con quyến luyến ở chơi năm ba ngày. Té ra gặp cảnh buồn như vậy, thì con nên về liền, có vui chi đâu mà ở.

- Con biết điều lắm. Có dâu như vậy thì đáng lắm. Tại anh đó tối hai con mắt nên ảnh không biết phân biệt phải quấy. Con phải ở lại cho gần chồng gần con, anh không cho con về. Nếu anh sui ở trỏng không chịu nhận con là dâu thì ở đây với ông bà, ông nhận con là con của ông. Mà ông cũng không thèm gả con Quyên cho Hào, đặng ảnh không có con dâu nào hết cho sáng con mắt ảnh. Thôi, bây giờ trở vô trỏng chờ ông hỏi gắt ông sui đây một lần nữa rồi sẽ quyết định. Con Quyên cũng phải đi nữa, đi cho đủ mặt đặng nói chuyện một lần.

Ông Bá hộ nói dứt lời, ông đứng dậy đi liền. Hào với Chức chào bà Bá hộ người vác con người ôm gói ra đi. Quyên đi một bên Chức, Hai Kỳ đứng nghe nói chuyện nãy giờ chàng cũng đi theo sau đặng coi ông Thuận xử trí cách nào.

Mấy người ở gần hồi nãy nghe Quyên kêu nói om sòm ngoài sân không biết có chuyện gì, nên tựu ngoài cửa đứng nghe đến vài chục người. Họ cũng đi theo đặng nghe coi công chuyện ra làm sao. Đi dọc đường chòm xóm thấy rần rộ nhiều người đi theo thêm nữa.

Ông Bá hộ tánh nhậm nhẹ nên ông đi riết không chờ ai hết. Hào yếu chưn nên đi nhút nhắc, lại bị chòm xóm đi theo hỏi thăm nên đi không mau được.

Một mình ông Bá hộ tới trước. Ông thấy ông Thuận ngồi trên bộ ván giữa buồn hiu, thì ông hỏi: "Anh làm gì ngồi đó anh sui? Sắp nhỏ đi đâu hết rồi?"

Ông Thuận biệu bạo nói:

- Thằng Hào nó phiền tôi. Hồi sớm mơi nó biểu vợ con nó trình cho tôi hay đặng trở về xứ sở, rồi Hào lén theo con nọ mà đi mất, không thèm nói cho tôi hay. Mơi giờ tôi ngồi đây mà chịu đói, không có ai lo cơm cháo gì cho tôi hết.

Ông Bá hộ cười và nói:

- Tại anh gắt gao quá, nó chịu không nổi nên nó bỏ xứ mà đi chớ sao. Hôm qua tôi can gián hết sức, anh không thèm nghe lời tôi, bây giờ anh sáng con mắt anh chưa?

Ông Thuận nói:

- Nghe lời làm sao được. con Quyên nó cực khổ nuôi tôi năm sáu năm nay, nếu tôi nhìn con Chức thì con Quyên nó phiền. Tôi nghe con Chức nó chịu cực khổ mới cứu được thằng Hào khỏi chết lại ở với nhau có con, tôi cũng biết ơn và thương Chức vậy chớ.

- Té ra anh hất hủi con Chức là tại anh sợ con Quyên phiền anh chớ không phải tại cớ gì khác?

- Tôi muốn làm cho mát ruột con Quyên, chớ con Chức có công cứu Hào, tôi mang ơn nó lắm, ghét nỗi gì.

- À!, Tại vậy! Tôi hiểu rồi. Tôi cho anh biết con Quyên thương con Chức rồi. Anh nhìn con Chức là dâu, nó không phiền đâu. Nó gặp con Chức ôm gói đi về nó đau lòng chịu không nổi nên nó chạy theo Chức với Hào mà bắt trở lại hết. Kìa kìa nó dắt vô hết, để nó nói cho anh nghe.

- Vậy hay sao?

- Thiệt vậy.

Ông Bá hộ bước ra cửa kêu Quyên, Chức và Hào biểu vô cho mau.

Ba trẻ nối gót nhau đi vô nhà, Quyên đứng trước mà nói với ông Thuận: "Thưa cha, con xin cha rộng lượng, tha thứ cho anh Hào với chị Chức. con thấy chị Chức ra về chị đau đớn nỗi chồng nỗi con, thì con đứt ruột con, chịu không nổi, xin cha nhìn nhận chị Chức là dâu đi đặng chị ở lại đây với con, chớ cha bỏ chị về thì tội nghiệp phận chị lắm".

Ông Thuận hớn hở mà hỏi:

- Con thương Chức, con biểu cha nhận nó là dâu, còn con thì sao?

Quyên nói:

- Con cũng là dâu. Cha có hai con dâu chung lo nuôi cha với anh Hào thì càng thêm tốt chớ có hại chi đâu.

Ông Thuận mừng quá, ông nói lớn:

- Con Chức đâu? Thằng Hào đâu? Kêu nó lại đây cho cha hỏi?

Quyên bước tránh một bên để cho Chức với Hào đứng trước mặt ông Thuận, rồi cô nói: "Hai người đứng trước mặt cha đó, cha muốn nói việc chi thì cha nói đi".

Ông Thuận nói:

- Chức với Hào thấy lòng dạ của Quyên hay không? Có lời Quyên xin nên cha vui lòng nhìn nhận Chức là dâu. Cha cũng thương Chức như thương Quyên vậy. Thôi, Chức ở lại đây, đừng về đặng ở lại giúp với Quyên mà nuôi cha, nuôi chồng.

"Hai đứa phải hòa thuận với nhau, Chức phải nhường Quyên làm chị vì Quyên có gá nghĩa trước. Chức tuy có con song gặp Hào sau, nên phải chịu làm em. Thôi bây giờ hai con dâu đi nấu cơm cho cha ăn, cha đói bụng rồi."

Ông Bá hộ thấy Hai kỳ đứng dựa bên cửa bèn sai về bắt cặp vịt rồi biểu một đứa ở xách xuống đây phụ làm thịt ăn chơi.

Phó Tha lại thấy hiệp hòa nên khen:

- Xét sử như vậy coi phải vui hay không?

Chòm xóm đứng ngoài tiếp nói:

- Ông Hai có một người con trai mà có tới hai con dâu thì có phước biết chừng nào.

Cô Chức đợi hết xao sự rồi cô mới nói với ông Thuận:

- Cha vui lòng hỉ xả cho con, vậy con xin lạy đặng tạ ơn cha cho phép con được phép giúp chồng và gần đứa con nhỏ khờ dại. Con nguyện sẽ hết lòng giúp với chị Quyên mà phụng sự cha cũng như cha đẻ của con vậy.

Chức lạy ông Thuận hai lạy rồi bước lại nói với ông Bá hộ:

- Thưa ông, con mồ coi cha từ lúc 10 tuổi, nên không có cha dạy dỗ. Xuống đây từ hôm qua con nhận thấy ông có lòng thương xót thân phận con, làm cho con cảm đức vô cùng. Con mong nhờ ông dạy dỗ con cũng như dạy chị Quyên vậy và coi con cũng như con trong nhà.

Chức cũng lạy ông Bá hộ hai lạy. Ông cười và để cho cô lạy. Chừng cô đứng dậy rồi ông mới nói: "Con mồ côi cha. Cha sẵn lòng nhận con làm con. Vậy từ nay sắp lên con kêu cha mẹ chớ đừng kêu ông bà nữa, cha sẽ thương con cũng như thương Quyên".

Chức trở lại nói với Quyên.

- Thưa chị, chị mới gặp em mà chị có lòng quãng đại, chị ra tay nâng đỡ em trong lúc khó khăn. Thiệt chị đáng cho em kính phục như chị cả. Em sẽ hết lòng vâng lời chị dạy bảo, em xin lạy chị đặng làm lễ ra mắt.

Chức ngồi xuống khoanh tay. Quyên liền đỡ dậy không cho lạy và nói: "Chị giả ơn cho em. Chị chỉ mong từ rày chị em mình coi nhau như ruột thịt và hiệp lực đồng tâm mà lo giúp cho nhà chồng trên dưới được an vui, tháng ngày được no ấm".

Người nhà của ông Bá hộ xách vô một cặp vịt với một chai rượu. Ông Bá hộ biểu hai cô vô trong làm thịt vịt đặng nấu cơm ăn vì đã trưa rồi.

Ông Thuận kêu Hào biểu đem con lại cho ông rờ coi nó được bao lớn. Hào bồng Hùng để ngồi dựa bên cha cho cha vuốt ve.

Bà con trong xóm đã về, ai cũng mừng cho ông Thuận có phước, tưởng con chết rồi té ra nó còn sống mà trở về giúp cho ông có tới hai con dâu đích đáng, lại còn thêm một đứa cháu nội trai nữa.

Phó Tha muốn về, ông Bá hộ cầm ở lại ăn uống mừng cho Hào đã chết mà sống lại.

Trong lúc chờ cơm, ông Bá hộ thuật cho Hào nghe các việc biến chuyển xảy ra trong cùng Gò Công lúc Hào vắng mặt. Ông thuật chuyện binh Pháp chiếm Gò Công, chuyện ông Trương Công Định khởi nghĩa, nhưt là chuyện nghĩa binh xóm Tre phục kích tại Truông Cóc thắng một trận rất vẻ vang.

Hào thuật lại chuyện thất đại đồn Chí Hòa rồi dọn cơm lên chủ khách ăn nhậu vui cười dến trưa ông Bá hộ với Phó Tha mới về.

Hết mưa rồi nắng.

Hết buồn rồi vui.

Mấy năm nay nhà ông Lễ Hữu Thuận quạnh hiu, buồn bực. Bây giờ cũng nhà đó mà tiếng cười không ngớt, sanh khí tưng bừng.

Hào với Chức dọn dẹp sạch sẽ trong nhà, Hùng tối ngày xẩn bẩn theo ông nội nói chuyện.

Hễ sáng thì Quyên vô phụ với Chức lo cơm nước cho cha, cho chồng, ở tới chiều mới về, chị em vui vẻ thuận hòa, không có một lời xích mích. Chiều mát Hào dắt cha ra ngoài sân mà chơi cho khoảng khoát. Hào với Quyên với Chức ngồi chung quanh cha mà nói chuyện. Hùng chạy giỡn trong sân mệt rồi thì lại đứng một bên ông nội.

Hào cậy người chèo ghe đưa chàng vô Sơn Qui thăm thầy, thăm bạn một bữa. Thầy trò than thở cùng nhau về ách nước nạn dân, nước mất chủ quyền dân làm nô lệ.

Chiếc ghe Thủ bán hết đường hết thuốc rồi trở lại xóm Tre mua lúa và rước cô Chức, vợ chồng Hào chịu thất hứa với ông chủ ghe, nói rằng cha biểu Chức ở lại ít tháng rồi sẽ về nên Chức chưa về được.

Ông Bá hộ Hà Văn Cầm chọn được ngày tháng tốt mới định cho Hào với Quyên làm lễ thân nghinh.

Ông Bá hộ bàn với ông Thuận rồi làm đám cưới rất giản tiện, song thành cuộc vui cho bà con lớn nhỏ trong xóm Tre.

Vì nhà ông Thuận đơn chiếc lại chật hẹp nên sớm mơi làm một con vịt mà cúng ông bà cho đủ lễ vậy thôi. Hào đi với ít người ra nhà ông Bá hộ làm lễ rồi rước dâu. Ông Thuận mù quáng ông ở nhà, hai họ hiệp nhau đưa dâu vô đàng trai, chức hiệp với Quyên bái kiến ông bà một lượt.

Lễ bái xong thì hai họ với dâu rể trở ra nhà ông Bá hộ mà ăn tiệc. Ông Thuận với Chức cũng phải đi dự tiệc cưới. Nhà ông Bá hộ làm thịt một con trâu với một con heo mà đãi khách. Hết thảy bà con trong xóm. Đàn ông cũng như đàn bà đều được mời dự tiệc, không bỏ xót một người nào, vì ý ông Bá hộ muốn cả xóm chung quanh vui đặng mừng cho Hào tái sanh lại được hai vợ.

Từ đây Quyên mới về ở luôn trong nhà chồng. Quyên với Chức bàn với nhau mà chia hai phận sự. Quyên ốm yếu, lại giỏi việc trong nhà thì Quyên chăm nom cơm nước với nuôi vịt nuôi heo. Chức mạnh mẽ lại thạo nghề làm ruộng trồng cây, thì Chức lãnh lo việc ngoài đồng phu với chú Hợi.

Hào thì lo săn sóc cha già và dạy dỗ con trẻ, lại làm cho ông nội với cháu nội kết tình thân yêu khắng khít cùng nhau.

Trong ít tháng thì thấy Quyên nuôi được hai con heo, một bầy gà với một bầy vịt, Chức sốt xắng trồng mía, trồng cải trồng rau chung quanh nhà, thứ nào cũng xanh tốt. Lúa ngoài đồng lên mạnh mẽ, chú Hợi khỏi lo nữa, chú chuyên đi câu kiếm tôm cá để ăn, bởi vậy trong nhà không có bữa nào ăn cực. Bữa nào cũng vậy, hễ chiều mát thì ông Thuận vịn vai Hùng rồi cháu dắt ông ra sân mà chơi.

Bây giờ nhà ông Thuận ấm no hiệp hòa, trong ngoài tươi cười, dưới trên đầm ấm. Ấy là hạnh phúc danh lợi.

Năm sau ông Bá hộ nghĩ người trong xóm không biết chữ, còn Hào rảnh rang, ông mới bàn với ông Thuận rồi ông cất một cái trường học tại xóm đặng Hào dạy trẻ nhỏ trong xóm học. Ai có con cũng cho đến đó mà học tập. Hào dạy chữ mà cũng dạy cho trẻ em biết đạo làm người, làm con biết kính mẹ cha, làm dân biết yêu đất nước.

Ông Bá hộ thấy học trò đông, ông lấy làm đắc chí. Ông biểu Hào viết một cặp liễn mà dán ngoài cửa trường để khoe nhơn dân xóm Tre và nhắc nghĩa sĩ Truông Cóc, Hào nghĩ người trong xóm không biết chữ nho nên chàng viết một đôi liễn nôm như vầy:

Xóm Tre còn vững lòng quân ta

Truông Cóc chưa khờn chí nghĩa binh

Ai nghe đọc cũng chịu hết.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: #cong1