Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

ngay

1. Năm 1971 – Quảng Trị
Trong một buổi tối ngưng chiến ngắn ngủi. Đêm tĩnh lặng đến rợn tóc gáy. Tôi cùng những đồng chi ngồi trong một ngôi nhà trống, dựa lưng vào tường và hướng người về phía cửa ra vào để có thể kịp thời ứng biến trước các đòn tập kích của kẻ thù. Lúc ấy đến lượt tôi gác. Bóng tối bên ngoài phủ kín chỉ có thể thấy vài ánh lửa yếu ớt, thứ lửa chiến trận vẫn lâm la tìm những gì sót lại của cuộc chiến mà đốt. Khắp nơi bốc lên một mùi hôi thối, trong kí ức của nửa đời người, tôi đã luôn bị bao bọc bởi thứ mùi như thế
Mùi của "chiến tranh". Nó có mùi hương rất đặc trưng. Đó là mùi hôi của vũ khí, của những nòng súng nghi ngút khói và mùi tử thi bốc lên hoặc mùi từ những vết thương lở loét của dồng đội nằm rên than trong căn nhà hoang đêm đó. Tôi ngước nhìn bốn phía bức tường ủ dột, bỗng nhớ về những gì đã trải qua.
Năm 17 tuổi tôi tình nguyện ra chiến trường gia nhập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, Tôi vốn không phải một người gan dạ nhưng tôi hiểu rõ trọng trách của chính bản thân mình, khi Tổ Quốc cần, tôi chắc chắn sẽ có mặt, khi Tổ Quốc gọi, chắc chắn sẽ đáp lời, không được do dự, không được tiếc mạng, không những đáp lời – mà phải đáp sao cho thật hào hùng. Và cứ như vậy tôi trải qua những năm tháng kháng chiến khốc liệt, nhiều lần vượt qua mưa bom bão đạn, tôi đã đến được ngày hôm nay. Từ những năm 70 dù tình hình căng thẳng, chiến sự liên miên, nhưng tôi lại cảm nhận được một loại linh cảm rằng ngày giải phóng sắp cận kề chỉ là không biết "cận kề" ấy là khi nào.
Miên man trong dòng suy nghĩ, bên cạnh xuất hiện thêm một người lúc nào cũng không hay biết, một giọng nói vang lên:
- Này! Đoàn Vệ Quốc! Cậu nghĩ gì mà tôi gọi nãy giờ không nghe vậy? Là Võ Văn Nam, cậu ta nhìn tôi với vẻ mặt mất kiên nhẫn.
- Văn Nam..? – tôi nói.
Trước mặt tôi là một người chiến sĩ cao gầy, khuôn mặt quá đỗi quen thuộc.
- Thật là, nếu quanh đây mà có địch tấn công chắc chết mất xác lúc này cậu cũng chẳng hay quá! Cậu có biết là.. – Bỗng giữa câu la rầy, cậu ta khựng lại. Ánh mắt lướt qua khuôn mặt tôi, chỉ là cái nhìn sơ qua nhưng dường như Văn Nam đã nhận ra vẻ mặt chất chứa đầy tâm sự của tôi, Giọng trách mắng lắng đi, chỉ còn lại một tiếng thở dài mơ hồ trong khoảng trống giữa hai người
Văn Nam ngồi xuống cạnh tôi ân cần hỏi:
- Cậu phiền lòng chuyện gì à?
- Không có – Giọng tôi khàn đi vì lạnh. – Chút suy nghĩ vu vơ thôi mà lỡ mất tập trung mất. Xin lỗi cậu.
- Võ Văn Nam nhìn tôi chằm chằm như suy nghĩ điều gì.
Lát sau, vượt qua ngoài dự liệu của tôi. Cậu ấy nói - Tận tuỵ, dũng cảm, giữ gìn súng đạn, phục vụ đánh thắng. (*)
- Nghe thấy câu nói ấy tôi bật cười sảng khoái, tâm trạng bỗng tốt lên lạ kì cũng trịnh trọng đáp lại – Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng. (*)
Vì tổ quốc mà tận tâm! – chúng tôi cùng đồng thanh, lại cùng bật cười, Văn Nam chủ động khoác tay lên vai tôi, màu áo lính trên ngừời cả hai như hoà làm một, như một cách đồng điệu giữa những người vì nước mà tận trung, cùng nhau vào sinh ra tử.
Văn Nam ngừng cười trước tôi, như bỗng nhớ ra điều gì, lấy hai tay đập vào nhau cái chát.
- Ôi trời não tôi! Quên nói với cậu chuyện này. Cậu ta cười rộ lên cả hàm răng. – Nhỏ An mới gửi thư đấy!
Nói xong cậu ta làm một chuỗi động tác, lấy từ trong chiếc túi sờn cũ một phong thư mới tinh. Nhìn thấy phong thư trong tay Văn Nam mắt tôi bỗng chốc sáng lên, Cái " nhỏ An " trong lời Văn Nam là em gái của tôi – Đoàn Dân An.
Nhà Văn Nam ở ngay cạnh nhà tôi, ba chúng tôi đã chơi với nhau từ hồi nhỏ xíu, An nhỏ hơn chúng tôi 2 tuổi, nhưng tính cách con bé mạnh mẽ hơn cả tôi lẫn Nam gộp lại. Năm 17 tuổi Nam cùng tôi ra chiến trường, rồi không đầy một năm sau tôi nghe Văn Nam mách con bé An cũng ra chiến trận rồi, nhưng con bé được điều đến chiến khu phía Đông Nam Bộ còn tôi với Nam thì vốn được công tác ở mặt trận Quảng Trị, để biết tình hình của nhau chúng tôi chỉ có thể trao đổi qua thư từ.
Nhưng đáng tiếc con đường thư từ trong chiến tranh quá khó khăn. Thường thường cứ 1 hoặc 2 tháng có lẻ chúng tôi sẽ nhận được thư của An.
- Trời! làm tôi lo mãi. – Nam thay lời tôi muốn nói. Tôi khẽ tiếp lời
- 3 tháng con bé bật vô âm tính, tôi cứ sợ con bé bị gì. Tôi thở phào, lấy cùi trỏ húc nhẹ vào người Nam – Nhanh mở ra xem.
[ Sài Gòn, ngày 27 tháng 8 năm 1971
Gửi anh Quốc, anh Nam! Tình hình bây giờ như chạy nước rút vậy! Cả địch và ta đều đang khẩn trương, thế sự cứ phải là rối ren vô cùng, ở Quảng Trị hai anh càng phải cẩn trọng đấy, em mãi mới có thời gian viết thư cho hai người, bên em dạo này bệnh nhân thì mỗi ngày một đông, phần nhiều là những người dân từ các tỉnh đổ về tránh nạn, trong đó không ít người già, trẻ con, và cả những người lính bị thương. Cơ sở vật chất thiếu thốn trăm bề thuốc men hạn hẹp, giường bệnh chật chội, có những ca tụi em chỉ còn biết lấy đôi tay mà cố níu sự sống cho người bệnh. Em thương những đứa trẻ ngồi bệt dưới đất, mắt trong veo mà thân thể gầy nhom, chỉ mong cứu được thêm được đứa nào hay đứa nấy.
Chiến tranh tàn khốc quá đi mất, nhưng em dần quen với nó rồi, giờ em có thể bình thản băng bó vết thương dù trên đầu mấy con chim sắt kêu inh ỏi, chúng thật đáng ghét và phiền phức. Nhưng không sao hết, em cảm thấy không lâu nữa đâu chúng ta sẽ thống nhất! các anh phải bảo trọng, hẹn hội An Nam Quốc sớm ngày tái ngộ!]
Đọc đến cái tên hội An Nam Quốc tôi cùng Văn Nam cùng lúc bật cười, hồi còn bé, cái lúc mà còn mặc áo vá vai, chân trần chạy trên những con đường bụi đỏ, vào một bữa trưa oi bức cả làng chìm vào giấc ngủ trưa tĩnh lặng ba đứa kéo nhau ra sau luỹ tre.
Từ nhỏ An dã rất lanh lợi, con bé bẻ một nhành tre nhỏ làm gậy, rồi cười rộ lên mấy cái răng sữa. Nó bỗng hét lên – Em quyết định rồi! Chúng ta sẽ lập hội đánh giặc!
Nghe An nói hai mắt thằng Nam sáng bừng lên, nó vừa được nghe bác Sơn cựu chiến binh kể về hồi đánh trận, cảm thấy ngầu không tả nổi giờ nghe ý tưởng lập hội học đánh giặc nó có thể dơ hai tay hai chân lên đồng ý.
Tôi cũng háo hức vội nói – Hay đó! Đặt tên cho hội luôn đi!
Thế là ba đứa nhỏ ngồi bệt xuống đất bàn bạc. Mỗi đứa đưa ra một cái tên nhưng đều cười lăn vì không phải tên quá dài thì cũng là nghe quá kì cục. Cuối cùng thằng Nam chấp tay lên trán như thể đưa ra một quyết định trọng đại nhất đời nó.
- Lấy tên An Nam Quốc đi! Tên tụi mình ghép lại đó! Đất nước phía nam an yên! Hay quá trời luôn! Càng nói tay chân nó càng quơ loạn cả lên cả khuôn mặt non sữa đỏ bừng vì phấn khích.
An vỗ tay cái đét.
- Ờ ha hay quá! Tên đẹp dữ thần! Tôi cũng gật đầu lia lịa tán thành.
Và thế là hội An Nam Quốc ra đời, trong một buổi trưa đầy nắng, bên luỹ tre đầu làng. Chúng tôi lấy cành tre làm súng, lấy đất nặn thành lựu đạn giả, xếp đá thành quân, cho chúng "hành quân", " đánh chiếm" những lô đất, giải phóng những "góc mít".
Chúng tôi bẻ tre làm gậy, chụm ba đầu tre thành một, tay ngắn ngủn cố hết sức đưa tre cao qua đầu, cả ba cúi đầu trước cây gậy. An nghiêm trang lạ lùng
- Đại diện hội An Nam Quốc, tôi An xin thề sẽ vì đất nước đánh giặc, giành lại đất nước!"
Nam rướn thẳng người, tay cầm chắc gậy, mắt sáng long lanh.
- Cùng nhau đánh cho bọn Tây "té đít"!!
Sau đó cả hai đồng lòng quay qua nhìn tôi, ánh mắt kiên quyết như đợi lời thề hạ màn, tôi gật đầu cái một, ánh mắt trẻ con tràn đầy quyết tâm, hét lớn.
- Sẽ luôn bên nhau trừ gian diệt ác, vui buồn có nhau sẽ mãi mãi không bỏ rơi nhau!
Gió trưa thổi qua luỹ tre, mang theo lời thề non nớt ấy bay xa, bay xa mãi như gieo vào trời đất một hạt giống chân thành mà mạnh mẽ hơn bất cứ điều gì, hứa hẹn cho một tương lai ươm mầm chọc trời, tràn ngập hương ngát.
Tôi bất giác ngước lên nhìn Nam, khuôn mặt ấy không còn vẻ trẻ con như trong kí ức mà thay vào đó là dáng vẻ chín chắn của người thanh niên xung phong tiền tuyến. Văn Nam cũng ngước lên nhìn tôi, không hẹn chúng tôi cùng bật cười.
- Trẻ con thật đấy- Tôi khẽ cười.
- Nhưng thật sự rất vui - Nam cười rộ, trong ánh mắt hiện rõ nét hoài niệm. – Tôi ấy nhé còn giữ "tín vật" đấy nhé.
Tôi cười khúc khích, "tín vật" trong lời nói của Văn Nam là cọng lóng tre ngắn, mà cả ba lấy từ khúc tre đã chụm đầu ước thề, ba đứa gọt sạch vỏ cho nhẵn, dù đã hết sức cẩn thận để khắc tên từng đứa nhưng nó vẫn nghệch ngoạc đến khó nhận ra chữ trên đó, cũng đành chịu thôi, biết viết được cái tên là đã giỏi lắm rồi. Sau đó tôi lấy chỉ buộc một sợi vòng quanh lóng tre nối cả ba lại thành một vòng tròn "hẹn ước" mỗi đứa một tay treo dưới bụi tre đầu làng, An đề nghị làm riêng ba cái để mang bên mình, như một lời nhắc nhở về lời thề, chiếc vòng ấy vẫn được tôi giữ bên cạnh đến bây giờ.
- Cậu còn nhớ lý do chúng ta cố gắng đến vậy chứ? Tôi mỉm cười, trong đầu hiện lên một mảnh ký ức
Sau ngày thề nguyện hôm ấy, ba đứa trẻ không chỉ giữ trong lòng ước mơ về một ngày đất nước không còn chiến tranh. Chúng biết, con đường giành lại bình yên sẽ không dễ dàng, nhưng trong lòng ba đứa đã có một niềm tin kiên định.
An cầm cây gậy tre nhỏ, ánh mắt nhìn về phía xa, nói với Nam và Quốc
-Sau này, khi chúng ta chiến thắng giặc, sẽ quay về quê hương, dựng lại trường học cho trẻ em, không để chúng phải khổ như tụi mình.
- Tụi mình sẽ dạy trẻ em trong làng đọc sách. Nam khẽ gật đầu mím môi nói. – dạy chúng học những điều tốt đẹp, không để chúng phải sống trong bóng tối của chiến tranh.
Tôi ngồi xuống, tay mân mê những cọng cỏ mọc quanh chân, ánh mắt nhìn vào khoảng không vô định
- Tụi mình sẽ làm cho đất nước này không còn đau thương nữa. Làng mình sẽ lại có trường học, có sách vở, và mỗi đứa trẻ sẽ được yêu thương, không phải lo sợ nữa.
Rồi cả ba đứa, cùng một lời thề, sẽ không dừng lại cho đến khi đất nước này hoàn toàn yên bình, không còn tiếng súng, chỉ còn những ngày mùa màng bội thu, những buổi học đầy ắp tiếng cười. Chúng quyết tâm ra trận, dù biết con đường ấy sẽ đầy gian nan, nhưng chúng tin, nếu có thể giành lại được hòa bình, thì mỗi người dân trong làng sẽ có quyền được học, được yêu thương, và sống trong những ngày không còn sợ hãi nữa.
Kỷ niệm về lời thề năm xưa vẫn đọng lại trong lòng. Tôi ngồi lặng im, đôi tay gân guốc, cầm chiếc lóng tre xưa, khắc tên ba đứa giờ đã mờ dần, như thời gian đã bào mòn tất cả.
Khi cuộc chiến kéo dài quá lâu, những kí ức từng nghĩ sẽ khắc sâu trong lòng cũng dần bị hiện thực thời chiến xói mòn, bị cái gọi là thời gian làm phai mờ. Thứ đáng sợ nhất không phải cái chết mà là sự lãng quên. Tôi sợ s-
- Đoàn Vệ Quốc.
Một giọng nói cách ngang mạch suy nghĩ, khuôn mặt nghiêm túc của Văn Nam xuất hiện ngay tầm mắt, nhìn sâu vào đôi mắt đen láy của người đối diện tôi bỗng không thở nổi, ánh mắt ấy chứa quá đỗi nhiều thứ, niềm tin và cả khát vọng, cảm nhận được sự vững vàng mà Nam đem lại từ sâu trong mắt Nam, như một ngọn lửa nhỏ giữa đêm tối, đốt cháy hết thảy những bất an trong lòng tôi. "Mình đang sợ điều gì vậy chứ? Chẳng phải An Nam vẫn sẽ ở bên cạnh Quốc sao?" Trong cái khắc nghiệt đến nghẹt thở của chiến tranh, lần đầu tiên trong suốt bao lâu, tôi cảm thấy bình yên đến lạ.
- Văn Nam, cậu dường như quá hiểu mình. Tôi mím môi, từ nãy hay bây giờ, chỉ bằng cái nhìn thoáng qua Nam cũng hiểu được tôi buồn phiền điều gì.
Văn Nam không vội trả lời, cậu ấy nhìn tôi, bỗng ngồi xích lại. Cậu ngả đầu lên vai tôi. – Vệ Quốc tôi vẫn luôn dõi theo cậu. Cậu thì thào " từ trước tới giờ vẫn luôn là như vậy".
Sống trong chiến tranh đồng nghĩa với chuỗi ngày bước trên lằn ranh hai giới sống chết. Tôi và cậu, dắt tay nhau qua làn mưa bom.
Hồi mới tham gia tiền tuyến tiếng bom nổ xuất hiện như cơm bữa, vì Mỹ ném bom đều đặn còn hơn số lần xuất hiện trong hai cuộc Thế chiến. Nhưng rồi tôi đã thôi sợ tiếng bom rơi, bớt hãi hùng cảnh mìn nổ, suốt quá trình đó vẫn luôn có một Văn Nam ở bên cạnh tôi. Lòng tôi ấm áp như một ngọn lửa vô hình len lói từ tận đáy lòng rồi bừng sáng nơi đầu tim, bập bùng xua tan đi lạnh lẽo. Người bên cạnh tình thâm vượt cả máu mủ, là tri kỉ.
Tôi nở nụ cười từ tận đáy lòng. – Đợi dến lúc hoà bình, tôi, cậu và nhỏ An sẽ phải ăn mừng thật lớn đấy nhé!
Văn Nam cũng bật cười. – Tất nhiên rồi, tôi còn muốn xem pháo hoa nữa. Khi hoà bình, tụi mình phải đốt thật nhiều pháo thắp sáng biển trời hoà bình.
Chúng tôi nhận ra lời hứa hoà bình không phải một mộng tưởng xa vời tôi biết rằng, ngày chiến thắng đang cận kề.


Thành Quảng Trị năm 1973
Lòng tôi và Nam dạo này như lửa đốt.
Sài Gòn thất thủ, tin tức bi thương liên tục ập đến khiến cả triệu người đau đáu và phẫn uất. Bức thư cuối chúng tôi nhận được từ An đã là từ tháng 8 năm 1972 và giờ đã vào tháng 3 năm 1973, lá thư chúng tôi gửi đi mãi chẳng có lời hồi đáp. Cảm giác bất an thiêu rụi lý trí, tôi sợ những khả năng mà tôi nghĩ đến, con người ta ra chiến trường luôn phải sẵn sàng tinh thần cho cái chết bất chợt, nhưng tôi vẫn hy vọng, có lẽ sẽ không sao đâu.
Đến tháng 4 năm 1973, lá thư của An về đến tay chúng tôi.
Thấy phong thư trên tay Nam. Tôi mừng đến nghẹt thở. Đó là nỗi mừng của người sắp chết chìm bỗng hai chân chạm được nền đất cứng.
Còn thư tức là còn hi vọng!
Lá thư được viết vào tháng 11 năm 1972, thời gian giao thư là quá lâu nhưng có lẽ vì đang chìm trong niềm vui khi nhận được thư nên chúng tôi hoàn toàn không nhận ra điểm bất thường.
Lúc đó tôi vẫn chẳng hay biết rằng lá thư ấy chính là di ngôn cuối cùng của Đoàn Dân An. Có chết đi sống lại tôi cũng không dám nghĩ thư cầm trên tay mà xác người em gái nhỏ đã lạnh. Tựa như cho mật ngọt rồi thẳng tay đẩy con người ta xuống tận cùng địa ngục.
Không hay biết chuyện, tôi và Nam vẫn miệt mài trong những chuyến hành quân, chân mải miết qua những cánh rừng cằn cỗi. Trong tâm trí tôi ở bên kia mặt trận An vẫn đang bận rộn như chúng tôi, tất bật cứu chữa cho thương binh như những gì cô đã thề nguyện.
Cho nên khi cầm trên tay lá thư có dấu mộc bên trên chồng chéo rồi ghi tin khẩn. Tôi bỗng thấy khó thở, một cỗ bất an, lo sợ trào dâng từ đáy lòng.
Nam nhìn tôi đứng im như trời trồng khẽ bước lên hỏi
- Sao vậy? Bóc thư ra đi.
Tôi cật lực đè nén nỗi sợ không tên này xuống, run rẩy xé mở đầu bức thư được niêm phong. Dòng chữ giấy báo tử đỏ đến cay mắt hiện ra.
Chẳng phải nét chữ nghệch ngoạc quen thuộc, là những nét chữ được in ấn thẳng hàng nhưng lại khiến lòng tôi lạnh đến thấu xương.
[ GIẤY BÁO TỬ
Đồng chí Đoàn Dân An, y sĩ, công tác tại mặt trận Sài Gòn.
Chúng tôi rất thương tiếc báo tin, đồng chí đã hi sinh anh dũng trong nhiệm vụ cứu chữa thương binh.]
Bàn tay gầy chai sạn siết chặt tờ giấy đến run rẩy không ngừng, cái tên Đoàn Dân An khiến tôi chết đứng. Đầu óc là một mảng trắng xoá.
- N-này Nam.. c-cậu.. đọc giúp tôi, chắc tôi bị hoa mắt rồi. – tôi nghe thấy giọng mình run rẩy.
Nam đứng bên cạnh, bàn tay vô thức nắm chặt vai tôi, cậu ấy không nói gì. Không khí im lặng đến nghẹt thở, giữa chiến trường khốc liệt, một phần thế giới của họ sụp đổ mà không cần tiếng súng nào.
Tiếng gió rít qua những tán cây trụi lá, thổi tung lớp bụi đất khô cằn, mang theo cả mùi thuốc súng hăng nồng và vị tro tàn quẩn quanh. Tôi cúi đầu, đôi mắt đờ đẫn, như thể cả thế giới xung quanh đã chìm xuống một vực sâu tối om. Tờ giấy mềm nhũn, ướt nhòe những giọt mồ hôi và nước mắt không kịp rơi ra ngoài.

Nam vẫn siết chặt lấy vai tôi, như thể chỉ cần buông ra chúng tôi sẽ gục ngã.  Không ai bật khóc, cũng không ai thốt nổi một lời. Cái đau, cái mất mát ngấm vào tận tim gan, thầm lặng mà quặn thắt. Họ chỉ đứng đó, như hai cái bóng bị rút cạn sinh khí, nhìn về phương trời đỏ rực ánh hoàng hôn — nơi An từng ngẩng cao đầu mỉm cười mà nói rằng: "Thống nhất rồi chúng ta sẽ gặp lại."
Chiến tranh đã lấy đi của tôi quá nhiều thứ.
Tim tôi.
Đau.
Đau đến nghẹt thở, cổ họng nghẹn ứ, hai vai khẽ run lên, tôi siết chặt tờ giấy báo tử trong tay, mười đầu ngón tay lạnh ngắt, Từng giọt nước ấm nóng rơi xuống tờ giấy nhàu nhĩ, từng giọt, từng giọt, lặng lẽ không một tiếng nấc.
Tên em, nét chữ dập mộc, tất cả đều rõ ràng nhưng tôi ước gì mọi thứ chỉ là giấc mơ.
Phải rồi, đây chỉ là một cơn ác mộng thôi.
Khi tỉnh dậy, đứa em gái nhỏ được ủ trong khăn mềm sẽ lại nhìn tôi với đôi mắt to tròn và khi tôi đưa tay ra, bàn tay bé xíu ấy sẽ bắt lấy ngón tay tôi mà cười.
Em là cô bé mạnh mẽ, thông minh lại kiên gan. Một cô gái nhỏ luôn hướng về phía trước, toả sáng đến rực rỡ.
Em theo tiếng gọi miền Nam ruột thịt, em xung phong vào Nam chiến đấu sau tôi một năm.

Một cô gái tốt đẹp đến thế đã chôn thân mãi mãi ở mùa xuân năm 1973.
Khi em chưa tròn 24 tuổi.
Đã trôi qua 3 tháng từ cái ngày nhận giấy bảo tử từ An.
Tôi không ổn nhưng tôi chẳng thể làm gì hơn. Tôi còn Tổ Quốc chưa hoà bình, tôi không thể ngã xuống được.
Dù hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam đã được kí kết vào đầu năm, Mỹ rút quân khỏi Việt nam, nhưng các cuộc tấn công quân sự giữa quân đội miền Bắc và miền Nam vẫn diễn ra, trong khi quân miền Nam nhận sự hỗ trợ của Mỹ.
Giây phút quyết định sắp đến gần rồi, không được phép thả lòng.
Tôi đã từng nghe những lời đồn thổi về trực giác của những người lính, rằng đôi khi, chiến tranh không chỉ là những trận đánh, mà còn là những linh cảm vô hình, báo trước điều gì đó sắp xảy ra.
- Nam. Tôi cuối cùng cũng lên tiếng, giọng khàn đặc vì lo sợ. - Tôi có cảm giác.. điều gì đó sắp xảy ra. Tôi không biết nữa, nhưng cảm giác này cứ bám lấy tôi, giống như.. như là tôi sắp mất đi một điều gì đó quan trọng lắm.

Nam quay lại, ánh mắt sáng lên trong màn đêm. Cậu ta mỉm cười nhẹ nhàng, như thể không có gì phải lo lắng.
- Quốc, đừng lo. Cậu biết mà, chúng ta đã hứa với nhau rồi, phải không? Hứa sẽ quay lại, sẽ trở về.
Nam đặt tay lên vai tôi, ánh mắt lấp lánh sự quyết tâm, - Mọi chuyện sẽ ổn thôi. Chỉ cần cậu còn tin vào chúng ta, tin vào Tổ Quốc thì chẳng có gì phải sợ cả."

Tôi nhìn Nam, cảm nhận sự an tâm từ những lời nói ấy, nhưng trong lòng tôi, nỗi bất an vẫn không thể dập tắt.
- Vậy hứa với tôi. Tôi nói với vẻ kiên định. – Cậu phải sống và trở về với tôi.
- Được. Nam bật cười, âm thầm bước đến bên cạnh tôi, cả hai sánh vai nhau, như một lời thề về sự vững chắc.
Và rồi
Chưa đầy một tháng sau, Võ Văn Nam tử trận.
Cảnh tượng hôm đó đã gây ra một vết bỏng rất sâu trong trí nhớ của tôi.
Xung quanh tôi tiếng nổ ran ran. Chốc chốc lại bùng lên một tiếng nổ rất lớn  làm mặt đất chuyển rung như tiếng pháo đùng giữa tràng pháo cối, tiếng nổ của bom, mìn ba càng, đại bạc.
Chúng tôi bị máy bay địch truy quét, hàng loạt đạn pháo ầm ầm đổ tới , tiếng rít gầm lên như xé toạc cả bầu trời.
Mọi thứ diễn tra chỉ trong cái chớp mắt.
Âm thanh rít gào muốn thủng màn nhĩ, từng mảnh sắt nóng đỏ cày nát những gốc cây, làm cỏ cây cháy rụi, mùi hương hỗn tạp bốc lên rõ ràng làm người sống ớn lạnh. Cái tàn ác của chiến tranh được tái hiện rõ đến nát lòng.
Tôi bị tập kích, cả người toàn là máu tươi, xương cốt đau đến rã rời, ý thức quá đỗi mơ hồ nên tôi đã chẳng thể phản ứng kịp khi có tiếng pháo nổ ngay bên sườn.
Trong khoảnh khắc tôi chỉ cảm thấy mệt mỏi.
Tôi nhắm mắt lại. Chợt nghĩ.
Anh sắp đến với em rồi, Đoàn Dân An.
- Đoàn Vệ Quốc!
Ngay sau đó, tôi bị một lực đẩy mạnh ngã nhào xuống đất.
Một tiếng nổ gần, rất gần.
Nhưng chẳng có cơn đau nào cả.
Tôi cố mở mắt ra.
Thời gian như ngừng lại trong chốc lát.
Tôi đã thấy bóng lưng của Nam chắn ngang trước mặt mình.
Tấm lưng đó – rộng lớn, vững chãi, như tấm khiên sống giữa cơn bão lửa. Một tích tắc sau, Tôi nghe thấy tiếng va đập nặng nề, và cảm giác sức nặng đổ ập lên người mình. Khói lửa mù mịt, tiếng gầm rú nuốt chửng mọi thứ. Tôi không biết mình đã hét lên hay im bặt.
Tôi đau đến tê liệt tứ chi. Chỉ biết chạy về phía Nam như bản năng, lấy tay sờ lên cổ, cơ thể còn ấm.
Chỉ là hơi ấm ấy đang dần tiêu tan.
Tôi run rẩy choàng tay lên vai cậu, dồn lực vào chân, cõng lên.
Chân lội qua lớp bùn lầy trộn máu. Mỗi bước đi như có gai nhọn đâm sâu vào tim phổi, vào cả óc, mà tôi vẫn không dám dừng lại.
Thở từng hơi gấp gáp, nặng như kéo theo cả đất trời. Cả người tôi bê bết máu – không rõ là máu của mình, của Nam hay của ai nữa. Màu áo lính đã không còn màu xanh rừng nguyên vẹn, nó loang lổ đỏ nâu, ướt sũng, dính bết vào da thịt. Mỗi lần cử động, từng nếp vải thô ráp lại cọ sát vào những vết rách, vết bỏng do sức nóng của mảnh pháo xé qua.

Vai phải của tôi rát buốt, lưng thì rướm máu, lòng bàn tay phồng rộp vì nắm chặt dây ba lô và đỡ thân người Nam suốt chặng đường dài. Nhưng đau nhất lại là những vết xước dọc hông, nơi áo đã bị cháy sém, để da tiếp xúc trực tiếp với bụi đất và máu khô, bám từng mảng, kéo căng mỗi khi tôi hít thở.
Sau lưng là tiếng pháo nổ rền rĩ, trước mặt là con đường mờ khói. Gần như sức cùng lực kiệt, nhưng mà giọng nói khàn đặc suy yếu bên tai lại lần nữa kéo về một chút tỉnh táo cho tôi.
-  Vệ Quốc, tôi nghĩ mình tiêu đời rồi. Giọng Nam bình thản .
- Cậu im lặng giữ sức đi, đừng có bày đặt nói lời trăn trối với tôi!. Tôi khẽ rống lên nhưng trong giọng nói không giấu dược sự run rẩy. – Võ Văn Nam, tôi nói cho cậu biết, cậu phải sống cho tôi!
- Cậu không được rời xa tôi!
Trong suốt 27 năm cuộc đời, Nam đã luôn ở bên cạnh tôi. Từ lúc còn là những đứa trẻ đến tận khi vào lính, băng rừng vượt suối, từng bước chân tôi đi đều có Nam đi cùng, chưa bao giờ rời xa.
Từ năm bốn mươi bảy đến năm bảy mươi tư, suốt hai mươi bảy năm chúng tôi đã luôn đồng hành và trân trọng nhau như vậy.
Văn Nam muốn trả lời, nhưng mí mắt quá nặng
- khụ..!!. Một hàng máu đỏ sẫm từ trong miệng cậu chảy ra, chói mắt vô cùng. Đồng tử tôi co rụt lại. Khẽ gọi – V-Văn Nam..!?
Được một lúc Văn Nam mới lấy được thanh âm của mình.
- Đoàn Vệ Quốc, tôi vẫn luôn dõi theo cậu. Giọng cậu ấy khe khẽ, tôi tưởng chừng trái tim mình như thắt lại.
Võ Văn Nam đã luôn dõi theo Đoàn Vệ Quốc.
- Tôi từng nghĩ, nếu như tôi chết. Liệu có người nào vì tôi mà rơi một giọt nước mắt hay không? Nhưng bây giờ tôi lại nghĩ. Tôi thà rằng sẽ không ai khóc thương tôi. Còn hơn người đó là cậu. Vệ Quốc, đừng khóc".
Những lời cuối cùng cậu để lại. Không phải di nguyện, không phải dặn dò. Mà chỉ là mong muốn tôi tiếp tục sống tốt. Tâm tư cuối cùng của cậu, để lại hết cho tri kỉ.
- Vệ Quốc! Nếu có thể...kiếp sau, tôi nguyện làm một ngọn đuốc... trong đêm đông dài chờ cậu quay đầu ở ngã rẽ, tôi nguyện cháy suốt một đời, chiếu sáng đường về nhà của cậu.
Cậu ấy cười nhẹ, ánh mắt tràn ngập sự luyến tiếc. –  Rốt cuộc thì chỉ đi được đến đây thôi. Như suy nghĩ chuyện gì cậu nói tiếp
- Thay tôi và nhỏ An, nhìn ngắm thật kĩ cảnh đất nước thống nhất! Phải sống sót! Nhất định độc lập, tự do, hạnh phúc đấy.. Quốc..
- Tôi thương cậu nhiều lắm..
Rồi tiếng nói dừng hẳn.
- Cố lên Nam! Sắp đến viện xá rồi, chết tiệt, Nam ơi cố gắng lên!!
Người trên vai tuột xuống, tôi sững sờ quỳ trên nền đất cứng đỡ lấy cậu.
- V-Võ..Văn N-Nam.. trả lời.. tôi đi.. chết tiệt... Nam ơi.
Cuối cùng vẫn là kết cục thế này.
Tôi lặng người nhìn xuống
Đau đớn nhất là biểu hiện thế nào
Không phải điên cuồng la hét gào khóc.
Không phải rơi nước mắt tới cạn khô.
Chỉ đơn giản là...
Chết lặng rồi.
Nỗi đau mà khóc không thành tiếng mới đáng sợ nhất. Bởi vì có ai biết được, bên trong người đó đang từ từ vỡ nát đâu.
Đau đớn như khảm vào tim gan.
Năm 1974, Đoàn Vệ Quốc như mất cả linh hồn.
3. Năm 1975 – Chiến dịch Hồ Chí Minh Toàn Thắng.
Mọi chuyện vẫn diễn ra như cách lịch sử đã diễn ra.
Tôi đợi được hoà bình rồi, nhưng chẳng còn An, Nam nữa.
Mùa xuân đỏ lửa 1974 đã đi vào kí ức.
10 năm sau chiến tranh.
Tôi về làng xưa.
Hết chiến tranh rồi, tôi không còn mặc đồ quân đội nữa. Chiếc áo lính sờn vai, loang lổ màu đất đỏ đã được gấp lại, cất vào đáy rương như một kỷ vật của những ngày lửa đạn.
Trong từng cử chỉ vẫn có gì đó lặng lẽ, như thể lớp áo mới kia không thể che đi vết hằn của năm tháng chiến trường. Không ai thấy, nhưng tôi biết dù áo có đổi màu, thời cuộc có thay tên, thì một phần trong tôi– người lính năm nào – vẫn còn đó, vẫn sống cùng ký ức, cùng tri kỉ đã ra đi giữa lưng chừng bom đạn.
Hoà bình đẹp lắm.
Nhưng cũng trống rỗng.
Tôi vẫn tiếp tục thực hiện mong muốn của người xưa.
Đem ngôi làng trở nên phát triển.
Những đứa trẻ được đi học, được đọc sách.
Mọi người rồi sẽ hạnh phúc trong cái nôi của hoà bình.
Tổ Quốc sẽ bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của dân tộc.
An, Nam có nhìn thấy không? Vẻ đẹp của hoà bình.
Nếu không thể thấy thì chờ tôi nhé!
Đợi tôi.
Tôi sẽ đến bên hai người.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: #truyenngan