VỘI VÀNG
I. Mở bài
- Cách 1: Giới thiệu tác giả, tác phẩm SGK
- Cách 2: Có thể nói Thơ mới là dàn đồng ca đa điệu sầu. Nếu như Chế Lan Viên đau đớn xót xa cho một thế giới "Điêu tàn" hay Huy Cận khắc khoải, ảo não trước không gian mênh mông của vũ trụ thì Xuân Diệu lại luôn bị ám ảnh bởi bước đi của thời gian. Nỗi sầu ấy khiến nhiều nhà thơ tìm đến thế giới của mộng mơ hoặc chốn bồng lai tiên cảnh thì Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới vẫn say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời "ngay trên chốn trần gian". Bài thơ "Vội vàng" in trong tập "Thơ thơ" – 1938 là thi phẩm thể hiện khá rõ quan điểm sống và phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu (Vội vàng là tuyên ngôn bằng thơ thể hiện quan niệm nhân sinh và phong cách thơ của Xuân Diệu)
II. Thân bài
1. Khát vọng không tưởng
- Mở đầu bài thơ là một đoạn (khổ thơ) ngũ ngôn thể hiện ước muốn không tưởng (Dẫn 4 câu đầu)
- Trong làng Thơ mới, Chế Lan Viên thấy "tất cả là vô nghĩa", "Tất cả không ngoài nỗi khổ đau". Không thích mùa xuân, người thanh niên này muốn ngăn bước chân của nó bằng những lá vàng, những cánh hoa tàn từ mùa thu trước:
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Với cả hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo xuân sang
(Xuân)
- Xuân Diệu lại yêu thích mùa xuân – mong muốn tắt nắng, buộc gió để giữ lại ánh sáng và hương sắc của mùa xuân, cuộc đời. Thực ra chỉ là cách nói giàu hình ảnh, mang ý nghĩa biểu tượng cho tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc đời. Điệp từ Tôi muốn kết hợp với điệp cấu trúc tạo nên một giọng thơ gấp gáp, sôi nổi, hào hứng, diễn tả một tình yêu bồng bột, vô bờ với thế giới thắm tươi, đượm hương sắc. Cái tôi cá nhân trong Thơ mới cũng bắt đầu từ đây. Khát vọng có thể níu giữ, thay đổi tự nhiên ấy có lẽ chỉ tìm thấy ở thi nhân lãng mạn. Nhưng làm sao có thể lưu giữ được ánh nắng, gió mây của đất trời, tạo hoá? Phải chăng đó còn là biểu tượng cho những cái đẹp không tồn tại vĩnh hằng mà chỉ xuất hiện theo quy luật gắn với sự biến đổi của tự nhiên. Khát khao ấy bắt nguồn từ tình yêu đời yêu cuộc sống mãnh liệt từ cách cảm nhận về thiên nhiên và cuộc đời.
2. Bức tranh mùa xuân
- Mùa xuân vốn đã là đề tài quen thuộc trong thơ ca từ ngàn xưa nhưng với Xuân Diệu, mùa xuân đầy sức sống, sức hấp dẫn:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
...(Dẫn thơ)
Của yến anh này đây khúc tình si
- Bức tranh mùa xuân được phác hoạ thật tươi đẹp với ong bướm dập dìu, chim chóc hát ca, lá của cành tơ phơ phất, hoa của đồng nội... vạn vật đều tươi mới, căng đầy nhựa sống. Đoạn thơ giúp ta hiểu được vì sao biết bao thi nhân lãng mạn muốn thoát li, đi tìm chốn bồng lai tiên cảnh mà Xuân Diệu lại say sưa ngây ngất giữa cuộc đời hiện hữu thiên đường mặt đất đến vậy. Với cách sử dụng từ linh hoạt, dồn dập, các điệp từ, điệp ngữ "của", "Này đây", "Và này đây", Xuân Diệu đã sáng tạo ra những dòng thơ đầy háo hức, mê say. Thi nhân như phát hiện, như muốn say sưa giới thiệu về sự phong phú, bất tận của thiên nhiên đang sẵn sàng trao tặng con người. Điều đặc biệt trong đoạn thơ là sự kết hợp hài hoà giữa những từ ngữ mang tính khẩu ngữ - "Này đây" với những từ ngữ giàu tính hình tượng, biểu cảm, mỗi hình ảnh thơ đều để lại ấn tượng sâu đậm về sự tươi mới, non tơ của vạn vật. Khắp đồng nội bao phủ một màu "xanh rì" – màu xanh đậm, sắc xanh của sự sống. Những câu thơ của Xuân Diệu đem đến những cảm xúc mơ hồ, mong manh trước hình ảnh "Lá của cành tơ phơ phất. Từ láy "phơ phất" diễn tả một sự lay động khẽ khàng của một chồi non. Nhưng điều mới mẻ nhất mà Xuân Diệu đem đến cho người đọc là cách cảm nhận về mùa xuân, về thiên nhiên, mang đậm chất xuân tình, ảnh hưởng của ngôn ngữ, lối diễn đạt phương Tây. Cảnh sắc được nhìn qua con mắt, tâm hồn của con người dào dạt tình yêu. Mùa xuân hiện lên như một khu vườn tình ái, như một người tình đầy khêu gợi. Vạn vật đều ngây ngất trong "tuần tháng mật" – theo quan niệm châu Âu. Mỗi âm thanh – tiếng hót của yến anh qua tâm hồn trẻ trung, lãng mạn của Xuân Diệu đã trở thành một khúc tình si. Tình cảm đạt đến độ si mê, đắm đuối, mỗi buổi sáng thi nhân thức dậy lại được chiêm ngưỡng cảnh tượng diễm lệ - ánh bình minh rực rỡ chiếu sáng nhân gian. Nguồn sáng ấy như phát ra từ đôi mắt người thiếu nữ mỗi lần nàng chớp hàng mi. Trong một bài thơ khác, Xuân Diệu cũng đã nhắc đến hình ảnh gợi cảm này: "Tà áo mới cũng say màu gió nước/ Rặng mi dài xao động ánh dương vui" (Xuân đầu). Thơ xưa lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cái đẹp: "Khuôn trăng đầy đặn", "Mây thua nước tóc/ Tuyết nhường màu da" (Truyện Kiều) thì Xuân Diệu lấy người thiếu nữ ở độ tuổi xuân sắc làm chuẩn mực cái đẹp "Lá liễu dài như một nét mi/ Hơi gió thở như ngực người yêu mến". Trong cảm nhận Xuân Diệu, mùa xuân như một cô gái tình tứ, kiều diễm, đáng yêu. Từ chuẩn mực cái đẹp là thiên nhiên đến chuẩn mực cắi đẹp là con người có sự cách biệt nhiều thế kỉ của những giới quan khác nhau. Xuân Diệu đã nhìn cuộc đời và vạn vật có nhiều khác biệt so với các nhà thơ khác. Ông phát hiện ở thiên nhiên, con người biết bao điều mới mẻ, đáng yêu. Trước Xuân Diệu, trong thơ Việt Nam, chưa có một thi nhân nào so sánh "Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần" – Một hình ảnh so sánh táo bạo, là sự đối nghịch gay gắt với quan niệm "Thi dĩ ngôn chí". Nhà thơ lấy hình ảnh hữu hình gợi cảm dễ diễn tả thời gian vốn vô hình trừu tượng. Thi nhân cảm thấy tháng giêng mơn mởn đầy sức sống thanh tân sao mà quyến rũ, mê say, cuộc sống tràn đầy niềm vui. Cảm xúc ấy được diễn tả qua hình tượng mới mẻ
Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa
- Dấu ấn của văn hoá phương Tây thấm đẫm qua cách dùng từ "thần Vui" – thần thánh hoá cảm xúc của con người. Như vậy mùa xuân trong thơ Xuân DIệu ẩn chứa tình yêu đời, yêu cuộc sống nồng nàn, tha thiết. Chính vì vậy Hoài Thanh cho rằng "Với Vội vàng, Xuân Diệu đã đốt chốn bồng lai tiên cảnh, xua ai nấy về hạ giới".
3. Nỗi băn khoăn trước bước đi của thời gian và đời người
- Cuộc đời trần thế đẹp đẽ và tuyệt vời biết bao trong con mắt của Xuân Diệu nhưng thời gian không chờ, không đợi, không ai có thể sống mãi để hưởng thụ lạc thú. Năm tháng trôi chảy, mùa xuân đến rồi mùa xuân sẽ qua – "Xuân đương tới". Do vậy, thi nhân: "Không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Tâm trạng của con người đầy mâu thuẫn, biến đổi đột ngột.
Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
- Trong cảm giác sung sướng, ngất ngây trước vẻ đẹp mùa xuân, dường như thấp thoáng, phấp phỏng nỗi âu lo, vội vàng. Dấu chấm giữa dòng thơ có ý nghĩa khép mở những tâm trạng khác nhau đồng thời đem đến giọng điệu thơ mới mẻ, run rẩy cảm xúc. Thực ra, thơ xưa không ít bài đã thở than về sự hữu hạn của kiếp người trước sự vĩnh hằng của vũ trụ. Cổ nhân đã từng ví: "Đời người như bóng câu vút qua cửa sổ". Người xưa vẫn điềm tĩnh bởi cảm nhận thời gian theo sự tuần hoàn, xuân qua rồi xuân trở lại. Hồ Xuân Hương cũng từng ngao ngán: "Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại". Phải đến Xuân Diệu thì thi nhân Việt Nam mới thấm thía sâu sắc "Phép biện chứng của thời gian". THời gian tuyệt diệu nhất là vào mùa xuân. Con người đẹp nhất là tuổi trẻ cho nên Xuân Diệu nồng nhiệt phủ định
Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi
- Thước đo thời gian của thi nhân là tuổi trẻ, mà tuổi trẻ một đi không trở lại. Là người sinh ra để mà sống, bước đi thời gian khiến chàng cao ngạo: "Ta là một, là riêng là thứ nhất/ Không có chi bạn bè nổi cùng ta" bỗng trở nên yếu đuối đầy tiếc nuối. Ở đoạn thơ trên, Xuân Diệu nghiêng về cách sử dụng từ ngữ mang tính chất luận lí, giải thích. ĐIệp từ "Nghĩa là" được lặp đi lặp lại. Phải chăng thi nhân muốn giải thích, cắt nghĩa sự thay đổi, cảm xúc, điều đó tạo nên sức hấp dẫn trong thơ Xuân Diệu. Cảm nhận về thời gian thay đổi nên không gian nghệ thuật cũng có sự biến chuyển. Xuân Diệu cảm thấy xót xa khi "lượng trời cứ chật/ Không cho dài thời trẻ của nhân gian". Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người ngắn ngủi làm sao. Những câu thơ như tiếng thở dài ngậm ngùi tiếc nuối: "Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi/ Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời". Cái tươi vui rạo rực ở đoạn trên dường như đã tan biến nhường chỗ cho nỗi u hoài. Nỗi buồn ở đây chẳng qua là cách biểu hiện khác của lòng ham sống, yêu đời tha thiết. Tình cảm ấy được diễn đạt một cách tài hoa bằng chính những sức màu, hình ảnh của mùa xuân mà ít nhiều ta đã gặp ở phần đầu bài thơ:
Mùi tháng năm còn rớm vị chia phôi
Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt
- Xuân Diệu đã đem đến cho thi ca cách cảm nhận mới lạ về thời gian và không gian. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác – "mùi tháng năm", thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương sắc, chẳng thế mà thi nhân muốn: "buộc gió lại" – "Cho hương đừng bay đi". Một chữ "rớm" cho thấy khứu giác đã chuyển thành thị giác, gợi liên tưởng đến hình ảnh giọt lệ. Chữ : "vị chia phôi". Thời gian mang hình vị, hình thể của chia ly,"thi sĩ cảm thấy hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang lìa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ, là một cuộc ra đi vĩnh viễn. Mỗi thời khắc đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian với con người, với không gian và với cả chính thời gian" (Chu Sơn). Khắp sông núi đâu đâu cũng âm vang lời than thở biệt li – không gian đang tiễn thời gian. Nhà thơ lí giải những hiện tượng tự nhiên một cách độc đáo bằng những cảm nhận của riêng mình:
Con gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi
Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa
- Từ cảm xúc tiếc nuối dường như thi nhân đã chuyển sang cảm giác tuyệt vọng – "Chẳng bao giờ ôi! Chẳng bao giờ nữa". Lời than được láy lại như một điệp khúc ngân ngam đau xót. Nỗi buồn của thi nhân dường như được gửi gắm trong những hình ảnh, cảm xúc của thiên nhiên
- Và có lẽ chính vì ý thức rất rõ không có gì ngăn cản được bước đi âm thầm nhưng mãnh liệt của mùa xuân, đời người nên trong tâm tưởng của thi nhân, mùa xuân càng lộng lẫy, cuộc đời càng đáng yêu, đáng sống. Điều này giải thích ý tưởng kì lạ muốn "tắt nắng", "buộc gió" ở phần đầu bài thơ. Và đương nhiên khát vọng này không thể trở thành hiện thực. Nhà thơ ham sống cũng trở thành bất lực, cũng phải tuân theo quy luật nghiệt ngã của thời gian. Do đó chỉ còn cách sống cuống quýt, vội vàng, sống có ý nghĩa từng giây từng phút tuổi thanh xuân. Lời thơ như giục giã, hối thúc: "Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm". Khát vọng và đam mê mãnh liệt lại trào dâng:
Ta muốn ôm cả sự sống
... (Dẫn thơ)
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
- Đoạn thơ cuối cùng là một kết tinh nghệ thuật của toàn bài thể hiện tập trung một số nét nổi bật trong phong cách thơ Xuân Diệu. Điệp từ "Ta muốn" được lặp đi lặp lại kết hợp với những động từ mạnh "ôm", "riết", "say", "thâu", "cắn" cùng lối vắt thơ táo bạo tạo nên một nhịp thơ sôi trào, hăm hở. Nếu như mở đầu bài thơ là khát vọng của cái tôi cá nhân thì khép lại bài thơ là tuyên ngôn của siết bao người trẻ tuổi. Nhà thơ muốn giao hoà trọn vẹn, tuyệt đối với cái tinh khiết non tơ mơn mởn của đất trời bằng những hành động, cảm giác. Thiên nhiên non nước, cây cối, hoa cỏ đem đến cho con người cảm giác đắm say, "chếnh choáng". Con người được cảm nhận trong sự viên mãn. Mùa xuân trong thơ Xuân Diệu như một trái cây tràn căng đầy nhựa sống. Nhà thơ muốn tận hưởng cho đã đầy, cho no nê. Thanh sắc của đấtt trời, của mùa xuân, của cuộc đời. Đoạn thơ là niềm ham sống cuồng nhiệt, say mê của Xuân Diệu. Ông muốn thành một cây kim để hút vào mình thiên hạ (Thế Lữ). Đó cũng là quan niệm sống Xuân Diệu muốn gửi gắm đến người đọc
Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm
(Giục giã)
III. Kết bài
''Vội vàng'' là lời tự bạch, là tuyên ngôn về lẽ sống của nhà thơ lớn khát khao giao cảm với cuộc đời. Có thể có những cảm nhận khác nhau nhưng bài thơ đã nồng nhiệt phủ nhận cuộc sống tẻ nhạt, tù túng trong "ao đời phẳng lặng" – không hoài bão, không lý tưởng, không muốn đổi thay, muốn truyền cho người đọc ngọn lửa yêu đời, yêu cuộc sống, biết tận hưởng niềmvui trần thế và quý trọng tuổi thanh niên để sống có ý nghĩa, cho khỏi xót xa, ân hận. "Vội vàng" cũng là thi phẩm thuộc loại tiêu biểu nhất cho chất lửa nổng trong giọng điệu thơ Xuân Diệu (Nguyễn Đăng Biểu). Với giọng thơ vừa tuôn trào cảm xúc, vừa thấm đẫm chất luận lí, say mê, sôi nổi với những sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ và hình ảnh thơ.
Đề 2: Phân tích đoạn thơ cuối bài Vội vàng để làm rõ chất "lửa nồng" trong giọng điệu Xuân Diệu (Nguyễn Đăng Điểu)
I. Mở bài
... Đoạn thơ cuối là sự kế tinh nghệ thuật đặc sắc chất lửa nồng trong thơ Xuân Diệu.
II. Thân bài
- Tình yêu đời yêu cuộc sống thôi thúc nhà thơ giục giã:
Mau đi thôi...
- Đó là lời thúc giục chính bản thân và dành cho tất cả những người trẻ tuổi, trẻ lòng. Lời giục giã ấy đã chứa tất cả tiếc nuối, bất lực vì không thể tắt nắng, buộc gió lại để níu giữ những hương sắc của mùa xuân, của cuộc đời. Sự hối thúc bắt nguồn từ cảm nhận về mùa xuân, cuộc đời thật tươi đẹp nhưng thời gian thì lại không chờ đợi con người. Hãy yêu cuộc đời khi "mùa chưa ngả chiều hôm" – mùa xuân vẫn còn vẹn nguyên sức sống – "hoa của đồng nội xanh rì", "lá của cành tơ phơ phất" với "ong bướm tuần tháng mật" với "yến anh khúc tình si". Nếu không vội vàng, gấp gáp, ta sẽ không còn cơ hội bởi "Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già". Cho dù mùa xuân vẫn tuần hoàn nhưng "tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại". Không thể níu giữ thời gian, thi nhân chỉ còn cách sống gấp gáp, sôi nổi, tận hưởng từng giây từng phút của cuộc đời
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
- Điệp từ "Ta muốn"được lặp đi lặp lại diễn tả khát vọng mãnh liệt. Có điều đặc biệt, mở đầu bài thơ là khát vọng của cái tôi cá nhân riêng tư "Tôi muốn". Cái tôi Thơ mới lại lặng lẽ nhường chỗ cho cái "ta" có vẻ quen thuộc trong thơ cũ. Thực ra vẫn là khát vọng cháy bỏng của thi nhân nhưng đồng thời nó là lời tuyên ngôn, nói hộ cho biết bao chàng trai, cô gái. Chính vì thế mà tiếng lòng của thi nhân đồng điệu với muôn đời thế hệ trẻ. Thi nhân muốn thả mình trọn vẹn trong cái tinh khiết, non tơ, mơn mởn của đất trời, của cuộc sống. Những ám ảnhvề thời gian với sự tàn phai, sự chia lìa buồn bã và những âm điệu buồn thương ở đoạn thơ trước đã lùi xa. Nhịp thơ gấp gáp, sôi nổi, giọng thơ tràn căng sự ham muốn, hối hả. Sự sống vốn trừu tượng được cảm nhận thật cụ thể qua thơ Xuân Diệu. Chữ "mới", "bắt đầu" kết hợp với từ láy "mơn mởn" đem đến cảm giác sâu đậm về sự tươi mới, non tơ. Chữ "bắt đầu" dường như còn ân chứa những bất ngờ thú vị đang chờ đón phía trước. Điệp ngữ "Ta muốn"đi liền với những động từ, tính từ mạnh tạo nên sự cộng hưởng diễn tả sự sôi trào, đam mê đến tột độ
Ta muốn riết...
...
... cái hôn nhiều
- Xuân DIệu cảm nhận cuộc sống vốn vô hình qua những hình ảnh cụ thể. Thi hân cảm nhận bằng thị giác, cảm giác. "Mây đưa gió lượn". Những hình ảnh lớn lao kì vì và cả những hình ảnh nhỏ bé mong manh "cánh bướm" bằng hành động của hình thể, những cảm nhận của giác quan với tình yêu nồng nàn si mê. Một loạt liên từ "và" diễn tả khao khát dường như vô cùng, vô tận, sự giao hoà không có giới hạn. Nhà thơ muốn thu mình vào tất cả thiên nhiên vũ trụ trong một cái hôn nhiều
Và non nước....
.... đã đầy ánh sáng?
- Thi nhân đắm mình trong trạng thái say mê, ngây ngất, "chếnh choáng" và tận hưởng "đã đầy", "no nê", "ánh sáng", "hương sắc" của cuộc đời – "thanh sắc của thời tươi". Ánh sáng, hương sắc, mùi thơm làm nên sự sống của thiên nhiên, đất trời, tận hưởng sự sống của thiên nhiên vũ trụ làm nên ý nghĩa của cuộc đời. Tình yêu đời, yêu cuộc sống không phải lần đầu tiên xuất hiện trong văn chương nhưng đến Xuân Diệu lần đầu tiên cảm xúc ấy được diễn tả đầy náo nức mới mẻ qua sự tăng cấp bất ngờ của hệ thống các động từ "ôm", "riết", "thâu", "hôn", "cắn". Tương ứng với trường động từ ấy là trường tính từ diễn tra cảm xúc. Lối vắt câu, vắt dòng rất hiện đại, chịu ảnh hưởng của thơ ca phương Tây đem đến cho người đọc những cảm xúc bất ngờ, diệu kì. Sự phá cách, dòng cảm xúc được đẩy cao tới tận cùng ở câu kết: "Hỡi xuân nồng ta muốn cắn vào ngươi". Sự kết hợp từ cũng rất mới mẻ - Không còn là xuân xanh mà là "xuân hồng" gợi sự tươi trẻ, hồng hào, vẻ đẹp rực rỡ đầy sức sống đang độ chín nồng nàn. Thi nhân như mong muốn được sống trọn vẹn trong tình yêu cuộc đời. Nỗi đam mê, khát khao giao cảm với đời của Xuân Diệu luôn được diễn tả qua những cảm nhận nhuốm màu sắc "nhục cảm"
Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây da quấn quýt cái mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất.
III. Kết bài
Với giọng điệu mê say sôi nổi, những sáng tạo về ngôn ngữ và hình ảnh, nhà thơ muốn truyền đến cho mọi người tình yêu nồng nàn tha thiết với cuộc đời của thi nhân vốn "yêu từ khi chưa có tuổi" và cho đến khi "trong hơi thở trót dâng trời đất/ vẫn cứ si tình đến ngất ngư". Đó cũng là lời tự bạch, tuyên ngôn về lẽ sống của Xuân Diệu, phủ nhận cuộc sống đơn điệu, tẻ nhạt, không hoài bão, không ước mơ để trân trọng cuộc sống có ý nghĩa, trân trọng từng giây từng phút của cuộc đời để khỏi phải xót xa, ân hận.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com