Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

viii

[herbal]

Tôi phải xúc phân và dọn tuyết ngay sau giờ ăn trong ba tuần lễ. Tẻ ngắt phủ chụp lên tôi cùng cái chuồng nặng mùi phân ngựa, bên tai trận tuyết rít gào thứ thanh âm chán nẫu dưới chân và tiếng ngựa khua vó dạo quanh chuồng. Sáp bên tôi, cả tá những con ngựa giống với bộ lông bóng mượt, trên lưng là chiếc chăn dệt bằng thứ vải quý nhuộm sặc sỡ, ngày nối ngày dần thấm đẫm vào tôi những dải màu rực rỡ giữa cái guồng quay nhạt nhoẽ này. Thở dài thườn thượt, chán chường khoả lấp cõi lòng tôi bởi cái lí do ngớ ngẩn khiến mình mắc kẹt tại đây; chỉ vì tôi chọn chiến đấu và bảo vệ mình như bao kẻ khác để rồi sau rốt vẫn trở thành đứa duy nhất bị quở trách. Nhưng nếu vì thế mà đổ lỗi cho đám ngựa tồ tệch đang hí dài ngao ngán thì lại hẹp hòi quá, nghĩ vậy tôi găm cái xẻng sắt xuống đất và mường tưởng đó là gương mặt trơ tráo của lão sĩ quan cho thoả cơn bứt rứt.

Rồi tay chân tôi lại cặm cụi làm việc, mặc cho tâm trí thả trôi mình về miền viễn xứ nào đó, có lẽ là Dales, quê hương tôi. Đã vào độ tháng tư, Dales đương vần mình cuối xuân, khi mà những cơn gió heo may chẳng từ mà biệt và từng rạng mây đen đúa ứ đọng cơn giông đang ùa về cùng quãng hạ. Bất chợt tôi khựng lại, nhận ra đã quá nửa năm kể từ ngày người ta thảy tôi lên xe ngựa chất đầy nô dịch, và trong suốt thời gian sống như kẻ khờ ấy tôi đã đánh rơi tuổi mười bốn ở lại mà chẳng hề hay biết. Suy nghĩ đó gợn trong tôi về những ngày xưa cũ; về mùa hạ cháy nồng của Dales, chẳng có tiếng xúc sắt cà xuống nền đất hay bức màn tuyết trắng ởn bọc chặt những hàng thông. Tôi nhớ hoa cỏ mọc dại um tùm mà đi đâu cũng có, nhớ mùa hè nóng rẫy được rải chân dọc bờ ke bên con nước xanh hiền ngả thẫm.

Và hơn thế nữa. Tôi nhớ Dales khôn tả.

Nỗi nhớ ấy gặm nhấm tôi như loài mọt gỗ, khiến tận khi đôi chân tê đi vì rét tôi mới nhận ra mình đã để phần yếu mềm nép sâu trong lồng ngực đánh gục. Khó chịu đau đáu nằm bên tôi, trực chờ bòn đãi hết linh hồn để biến tôi thành cơ thể rỗng ruột.

Bất chợt có thứ gì dính bết rịt lấy lưng tôi cái cảm giác nhớp nháp lạ lùng khiến tôi và mạch nguồn nỗi nhớ bỗng tẽ làm đôi. Thoạt đầu tôi cứ ngỡ bởi làn tuyết dày hạt đáp xuống thấm ướt áo, nhưng rồi cơn xót đau ngay sau đó đã đánh gục tất cả ý nghĩ ấy. Vết thương vừa chớm kết vẩy sau lưng tôi lại toác miệng. Xúi quẩy làm sao, cái vết rách tưởng chừng sẽ mau lành ấy nhờ vào nắm thảo dược có tác dụng hệt mớ cỏ đun, và hổ đốn là việc ắp đầy thân chẳng lấy đâu ra thì giờ mà nghỉ mệt khiến tới nay nó vẫn chưa liền da hẳn.

"Ối chà cậu lính trẻ! Sao giờ này hẵng còn ở đây thế?"

Xa xa, tôi nghe tiếng ai vọng lại từ phía giáp cánh rừng, một dáng hình dong dỏng cao khuất sau bóng cây đổ dài trên nền tuyết. Quên cả đau, trong tôi giờ đây chỉ còn sự cảnh giác. Tôi nheo mắt, gắng nhận diện ra kẻ vừa cất tiếng là ai, nhưng điều ấy chỉ càng khiến cái đầu rỗng tuếch của tôi bị lấp đầy bằng những phỏng đoán mà không cái nào khớp với người nọ; Chỉ huy Hugh? Không, lão to sù sụ và có nỗi ám ảnh kì quặc với bộ giáp của mình. Hay gã lính gác đêm nào đó? Có vẻ chẳng đúng lắm, tất cả họ hoặc đang đứng nơi pháo đài kiên cố, hoặc đang gật gù tại cổng thành, kẻ nào rỗi việc mà đi ngang qua cái góc hôi hám này bao giờ. Màn tuyết bị đun hổi bởi nỗi hồi hộp tận tới lúc người đàn ông ấy nằm gọn trong tầm mắt tôi, và tôi nhận ra ông ngay lập tức. Người đàn ông chẳng phải ai khác, mà chính là kẻ vận áo choàng đen đã dùng một nghìn đồng tiền vàng để mua đứt tôi khỏi tay lão quý tộc Richard (*).

"Ngài là..." hoài nghi day nghiến tôi, chẳng cho phép tôi sáp mặt lại gần trước khi nắm chắc ông là kẻ nào.

"Tên ta là Varric, lính giải ngũ của hoàng binh. Nhưng hiện giờ ta chỉ là ông lão già khú đế được xếp cho chân gác đêm ở cái xó xỉnh này thôi! Cậu là cái cậu lính mới tên Theron phải không? Đừng căng thẳng vậy, chàng trai!" ông dợm bước về phía tôi với nụ cười hiền từ vô hại.

Tôi cũng vì vậy mà thôi không còn gồng sức, lúc bấy giờ cơn đau lại cắn lấy sống lưng từng đợt trí mệnh khiến tôi rùng mình theo bản năng. Có lẽ ông đã bắt được khoảnh khắc đôi mày tôi xô chặt lấy nhau, và điều gì thôi thúc ông khiến Varric vội đỡ vai tôi: "Mặt cậu tái quá! Thôi hẵng chuyện trò, cậu về chỗ ta trước đi."

Cơn đau nhồi đầy họng tôi, chẳng để tôi hỏi han ông cho thoả những băn khoăn đang xào xáo trong đầu. Sao ông lại chọn tôi vào buổi đấu giá ấy? Và lí do gì ông vẫn giúp tôi mặc cho ánh mắt vừa rồi tôi cày xới lên ông đầy cảnh giác? Thế nhưng ông chẳng đợi tôi kịp ú ớ đôi câu, Varric đã đưa tôi về nơi mà ông luôn miệng gọi là hầm trú ẩn. Thực chất, nó là một căn nhà nhỏ được xây lên với mục đích ban đầu là kho chất củi, dẫu vậy Varric đã sửa sang nó thành nơi lèn đầy thảo dược phơi khô cùng hàng đống chai lọ không nhãn đủ màu. Giữa phòng là cái vạc còn toả mờ hương thuốc đắng nghẹt - thứ mùi đặc trưng như tan vào da thịt mỗi vị thầy lang, cũng là mùi vờn quanh chóp mũi tôi khi mình sáp cạnh ông trên chặng đường khi nãy.

Ngồi trên chiếc ghế đẩu lọc cọc, tôi đợi Varric lục tìm trong ngồn ngộn là thảo dược của mình thứ có thể giúp tôi khá hơn. Từ lúc đặt chân vào căn nhà gỗ, tôi vẫn chưa thôi choáng ngợp về nó. Tôi cũng có tích cho mình ít kinh nghiệm về thảo mộc, vì đã từng theo chân Grustav lần tìm những loại thuốc quý với vọng tưởng sẽ chữa khỏi bệnh lao phổi cho Margaret, và trên chặng đường trắc trở tới Nivis tôi cũng đã nhai ngấu không ít loại để mau chóng khoẻ lại. Chính bởi vậy, tôi biết rằng Varric chẳng phải một lão già rảnh rang với mớ cây cỏ vô dụng, mà ngược lại ông là gã điên cùng sự hiểu biết sâu rộng về thảo dược.

Qua độ nửa giờ, áng chừng bằng việc tôi gần như đã thuộc làu vị trí của mớ thảo mộc và chai lọ ông sắp trên các kệ gỗ. Lúc bấy giờ Varric mới giã xong mớ vỏ cây trắng vôi bằng chày đá, hoà chung với nước rồi thảy bát thuốc còn phả loà cái mùi khó ngửi vào tay tôi. Ông bảo: "Vỏ liễu trắng đấy! Giúp cậu kiềm máu và nhanh kết vảy hơn. Bọn dịch tễ làm ăn ẩu tả lắm, nó cho cậu chút lá mã đề còn phải dè sẻn thì lấy đâu ra mà khỏi cho được!" 

Tôi đón lấy và khẽ lời cảm ơn ông, những điều Varric nói bằng cách nào đó làm tôi yên tâm khôn tả, dù trước nay cảnh giác luôn là thứ thường trực trong bản tính. Cuộc sống của tôi độc một vị đắng và con tim tôi chai sạn dần sau những ngày trượt dài trong nỗi bất an. Ấy vậy, vị đắng đó chợt hiền lành hơn khi tôi thấy gương mặt mình in bóng trên bát thuốc đỏ sẫm còn ấm nóng.

Chẳng nghĩ ngợi nhiều, tôi đẩy thứ thuốc ngai ngái ấy trôi tuột xuống họng. Vị đắng khiến da đầu tôi rân rân và chân răng thì ê tới rợn óc, ấy vậy tôi vẫn bướng bỉnh tin rằng thứ Varric đưa tôi không phải thuốc độc. Và đúng là vậy, không có màn co giật hay sùi bọt mép đầy kịch tính nào như mình mường tưởng, cơn đắng dịu đi và bắt tôi phải đối mặt với sự xấu hổ thầm kín trong mình.

Để mặc cho ông giúp mình băng lại vết thương đã nứt toạc, tôi mạnh dạn hỏi: "Xin lỗi nếu làm ngài phật lòng, nhưng tôi muốn hỏi ngài một câu. Nếu ngài là một chân gác đêm, vậy sao ngài lại có thể chuộc tôi trong buổi đấu giá chứ?"

Dưới ánh nến ấp lấy chúng tôi trong thứ màu vàng ấm cúng, tôi thấy cái bóng Varric ngả lên vách tường đang rung rinh vì điệu ông cười khe khẽ: "Câu hỏi thông minh đấy nhóc! Đáng ra đó là việc của lão Chỉ huy Hugh, nhưng ta lại mắc nợ lão khi còn trong quân ngũ, và lão thì quá bận rộn để làm công việc vặt vãnh như tìm phục dịch ấy. Vì thế ta đã làm thay hắn trước khi giải ngũ, ân tình là thứ nặng nề thế đấy."

Những nghi ngờ tôi tự mãn đặt lên Varric lúc bấy giờ đổ ập lại về phía tôi khiến mình thấy hổ thẹn khi đối diện trước ông. Tôi cụp mắt, bối rối vò đôi tay vào nhau. Có lẽ sự mặc cảm ấy quá đỗi rõ ràng và điều đó khiến ông chẳng thể làm ngơ đi được, Varric vỗ vai tôi ủi an: "Nếu ta là cậu, ta cũng sẽ hỏi như vậy. Vả lại ta cũng không nhỏ nhen tới nỗi để bụng chuyện ấy đâu!" Thế rồi ông lảng đi chuyện khác, tôi biết ông làm vậy chỉ để tôi bớt áy náy: "Ta thấy mắt cậu sáng bừng lên khi nhìn mớ thảo dược. Hiếm lắm mới thấy cậu lính nào thích thú mấy thứ này, tụi đó toàn mê mẩn đống đòn võ với đấu kiếm giương nỏ thôi!"

"Ngài đã từng làm trong lán quân y của doanh trại ư? Tôi thấy nơi này chất đầy những dược liệu quý, còn có những loại vốn không mọc nơi xứ lạnh nữa." tôi nương theo câu chuyện của ông, dần thả lỏng.

"Không, chỉ là sở thích mà thôi, chứ ta vẫn là một gã lính quèn như bao kẻ khác, mấy món nghề phòng thân vẫn nằm nguyên trong đầu ta đây. Nhưng có lẽ từng ấy kiến thức cũng đủ để thoả mãn cậu. Cùng lúc ta đang rỗi việc, cậu có muốn học một chút tay nghề của ta không, Theron?"

Lời mời mọc ấy quá hấp dẫn, và tôi nghĩ rằng sẽ tốt hơn nếu biết chút gì đó về thảo dược để chí ít khi tôi ở doanh trại - nơi mà bất cứ ai cũng có thể cướp đi mạng sống của mình - tôi sẽ chẳng lo lắng về việc sẽ bị cái đau đớn ăn mòn tận xương tuỷ, rồi chết đi với cả tá mầm bệnh rúc dưới thân. Còn cả Grimm, đứa mang trong mình vần vũ những đợt sóng trào đầy oán nghiệt, chẳng biết khắc nào sẽ đổ ào lên đầu kẻ khác còn đang nuôi nấng ý nghĩ trả thù tôi trong suốt ba tháng ròng ốm vật. Tôi chẳng thể làm ngơ những mối lo đương rình rập, chính vì lẽ ấy tôi đánh liều gật đầu đồng ý. 

Kể từ sau buổi tối chóng vánh, tôi dần tạo cho mình thói quen mau chóng làm xong công việc tại chuồng ngựa sau đó tới hầm trú ẩn của Varric. Ông bắt tôi phải nằm lòng tất cả những loài thảo mộc cùng hàng tá công thức pha chế dài ngoằng. Ấy vậy tôi lại khắc ghi chúng một cách quá đỗi đơn giản, tất cả hệt như mớ kiến thức vốn đã phủi bụi trong lâu đài kí ức của chính tôi, và giờ đây Varric chỉ giúp tôi tẩy sạch lớp bụi đó. Đến Varric cũng phải ngạc nhiên trước khả năng tuyệt diệu mà ông hằng ao ước ấy từ tôi, vì vậy ông dốc hết những dược liệu quý hiếm vốn luôn nằm sâu dưới đáy tủ ra để chỉ dạy.

Nhưng càng trú náu ở căn hầm này lâu, tôi càng thấy Varric như có điều gì vẫn hoài giấu giếm. Ông luôn lảng tránh mỗi khi tôi muốn hỏi han về công việc gác đêm tại chuồng ngựa, hay liệu chỉ bảo tôi có cản trở việc trông coi ấy của ông hay không? Varric chỉ đáp xuề xoà cho xong chuyện, không đâu bởi công việc ấy vốn nhẹ tênh vậy đấy! Ông đáp thế, rồi chẳng nhắc tới nữa. Và còn những loại thuốc, mấy loại với thành phần lạ lẫm mà tôi nặn óc nghĩ ngợi mãi cũng chẳng hiểu nó có ích gì với đời lính của mình, lại được Varric ưu ái buộc tôi pha chế cả ngàn lần tới nỗi nó hằn sâu trong bộ óc.

Ba tuần lễ trôi đi chóng váng khiến những điều tôi thắc mắc ấy cũng chẳng còn lạ lẫm nữa, bởi giờ đây tôi có một mối lo khác lớn lao hơn cả. Làm cách nào mình có thể lẻn qua chỗ Varric mà không bị tóm gọn? Câu hỏi ấy tắc nghẽn trong đầu tôi cả tuần ròng cho tới khi mình thực sự tìm ra đối sách: Đợi tới khi chòm bắc đẩu quẫy đạp giữa bầu trời rải đầy sao và cả doanh trại đã im lìm trong cơn mê mệt, tôi chỉ cần chuồn thật êm và sẽ chẳng ai hay biết một cậu lính đã lẻn đi ngay khoảnh khắc họ chìm sâu vào giấc mộng.

Varric khi nghe về cách tôi tới hầm trú ẩn mỗi tối, bằng cách nào đó nó đã lay động ý nghĩ gì vẫn hoài canh cánh trong ông, vì vậy ông đưa ra quyết định táo tợn hơn cả những gì tôi suy nghĩ. Varric muốn dạy tôi về kĩ thuật đối kháng. Cứ ngỡ đó chỉ là lời nói bông đùa lúc phấn khởi, nhưng không, ông thực sự nghiêm túc với điều ấy. Giữa trời tuyết giá, khi những cơn gió thốc vào gáy khiến hàm tôi va vào nhau lập cập, Varric cùng sự nhanh nhẹn được tôi luyện nhiều năm lại đang vung những đòn chí mệnh về phía tôi. Từng đòn của ông hướng vào gan, phổi, thậm chí là tim và cần cổ, từng đòn hiểm ác buộc mắt tôi phải khóa chặt lên cơ thể Varric mà không thể lơ là dù chỉ một khắc. Sau mỗi giờ khổ luyện, Varric sẽ bôi lên những vết bầm tím bằng mỡ động vật, có lẽ ông biết rằng mình là một thầy lang giỏi nên Varric chẳng hề nương tay khi ra đòn với tôi.

Trăng tỏ mờ mỗi khuya cất cao trên thành Nivis, và ngày quện lấy ngày qua nhanh như con thoi trên bàn dệt. Thoáng chốc đã bốn tháng trôi đi, tôi giờ đây đã gần như thuần thục quá nửa mớ kiến thức về dược liệu Varric chỉ dạy, còn về đối kháng, có lẽ kém hơn chút ít bởi tôi vẫn chẳng thể hoàn toàn đánh gục được ông. Dẫu sao Varric cũng từng là cậu lính xuất chúng đã lết bò qua cả thảy những cuộc vật lộn khốc liệt, chỉ để có một chân trong hàng ngũ hoàng binh, vì thế mà việc thua trước ông chưa từng khiến tôi cảm thấy nản chí. 

Cùng lúc ấy, nỗi ám ảnh vốn tưởng đã trôi tuột đi mất cùng những vết thương lành sẹo, lúc bấy giờ bất chợt xé toạc lớp da người mà trồi lên hình hài xấu xí. Là trận đối kháng tiếp theo. Nó tựa cơn bão ứa đựng nỗi sợ hãi đang lùa về từ lòng biển, tìm tới chúng tôi mà chẳng có lấy một điềm báo.

Dù cho ghét căm, tôi và tất cả những đứa trẻ khác chẳng thể làm gì ngoài khép hờ đôi mắt, chờ đợi cho một cuộc giằng co của số phận - thứ không khác nào lưỡi đao cùn của gã đồ tể trong tâm trí chúng tôi - đang trực chờ tước đi mọi thứ của kẻ thua cuộc.

Tôi đứng cạnh Zane và Albert trong khi đám lính gác đang cặm cụi dọn ụ tuyết cho buổi đối kháng. Zane dạo đây được Albert bảo bọc quá thể khiến cho gò má cậu lúc nào cũng đỏ gay hệt cánh hoa hồng vò nát, và Albert, anh cùng cậu trai rấm rứt khóc trong sảnh ăn đã chẳng còn ăn khớp nhau nữa, có lẽ bởi tình yêu đã khiến con tim anh bén rễ thêm những chòi non mới của sự sống. Đúng rằng chẳng gì có thể khiến người ta hân hoan hơn việc được tiếp tục quấn quýt bên người tình sau phút giây sinh tử. Tôi cảm thán, cùng lúc anh quay sang định ngồi lê đôi mách chuyện gì, nhưng lão sĩ quan đã kịp chen vào giữa tôi và cuộc chuyện trò đứt mạch của Albert.

"Grimm và Theron. Một trận đấu duyên nợ làm sao!" đầu hàng ngũ, từng câu chữ rơi ra từ cái miệng quạ đen của sĩ quan cứ tông thẳng vào óc tôi mà chẳng cần thông qua màng nhĩ. Ngay lúc ấy, tôi chỉ ước mình được điếc đi một vài giây, đủ để không phải nghe chất giọng nhão nhoẹt của lão.

Albert quên cả việc tiếp tục tán dốc, niềm phấn khích ban nãy trong đáy mắt anh giờ đây tắt ngúm, chỉ còn đong đầy là thù hận hướng thẳng về phía lão sĩ quan nọ. Thế rồi, ngay trước khi tôi kịp trấn an anh, Zane đã dúi vội vào tay tôi một thứ gì bén quá thể. Tôi len lén nhìn, và giật nảy khi nhận ra thứ ấy là một con dao găm.

"Thằng Grimm đã mua chuộc lão, nó muốn lấy mạng cậu. Cầm lấy thứ này, và đừng cho nó cơ hội."

(*) Dành cho ai đã quên, Richard xuất hiện tại chương iii [ashes]

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com