Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

ngua mom

Lời tác giả: Trước khi cầm bút viết về Bác Hồ, tôi xin nói đôi chút về mình và vì sao mà tôi viết: Sinh ra trong một gia đình có nghiệp nho gia nhưng bố tôi mất sớm. Năm ấy mẹ mới 24 tuổi, tôi lên 4. Mẹ ở vậy nuôi tôi và em trai (ra đời sau cha mất 16 ngày). Hôm nay tôi đã là người “cổ lai hy” và mẹ tôi tròn 90 tuổi…

Chi họ nhà tôi có thể coi là chi có truyền thống học hành. Định cư ở Thanh Khê (Thanh Chương, Nghệ An) từ nửa cuối thời Hậu Lê, đến triều Nguyễn mới chỉ có vài chục gia đình nhưng đã có 5 ông cử nhân, khá nhiều tú tài… Trước đó, có cụ không qua thi cử vẫn được vua mời ra làm quan đến hàng tứ phẩm hoặc được phong tước Hầu…

Ngày bé tôi ốm yếu, chỉ thích luẩn quẩn nghe mọi người nói chuyện đông tây, kim cổ. Đặc biệt là nghe chú Hồ Sĩ Thanh và bác Hồ Sĩ Huề ngồi dịch gia phả của cụ Hồ Sĩ Tạo soạn bằng chữ Hán ra Quốc ngữ, trò chuyện với nhau. Đầu óc non nớt của tôi không hiểu nhưng tôi nhớ như in. Sau này tôi mới nghiệm ra, nói: “Thủy đáo từ đường, Hồ gia vi vương” hay “Bò đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” là nói chuyện gì. Chuyện cha con ông Phó bảng qua thăm cụ Phủ là nói về những ai… Biết tôi hay hóng chuyện, mẹ dặn: “Nghe là nghe vậy thôi. Biết đâu để đấy kẻo vạ vào thân con nhé!” (Mẹ tôi người họ Phan, một dòng họ khoa bảng ở xã Võ Liệt). Lời mẹ dặn tôi nhớ không quên.

Đến nay, ở cái tuổi “xưa nay hiếm” tôi thấy khó mà giữ được như lời mẹ. Tôi muốn thổ lộ những gì nghe được, biết được, thấy được, đọc được… với mọi người để cùng suy ngẫm về sự đúng sai. Vậy là tôi cầm bút.

*

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm 1891 ở làng Chùa, tên chữ là Hoàng Trù. Đó là một làng quê thuần phác Việt Nam. Nhà thờ họ Hoàng ở Hoàng Trù còn lưu đôi câu đối:

Hoàng Vân chính khí truyền thiên cổ

Chung Tự hùng thanh chấn ức niên

Có nghĩa là: Chính khí của Hoàng Trù và Vân Hội truyền từ ngàn xưa. Tiếng vang của Chung Sơn và Tự Thủy động đến ức năm (Hoàng Trù và Vân Hội là 2 làng có đông con cháu họ Hoàng sinh sống. Chung Sơn là ngọn núi có 3 đỉnh, Tự Thủy là đầm nước cạnh làng). Nói về Chung Sơn, danh sĩ Nguyễn Thiếp có câu:

Chung Sơn tam đỉnh hình vương tự

Kế thế anh hùng vượng tử tôn

Vậy có thể nói rằng Hoàng Trù là đất thiêng, là “địa linh” ắt sẽ sinh “nhân kiệt”.

Ông Hoàng Đường là một tú tài, song gia đình vẫn gắn chặt với ruộng đồng. Làng Hoàng Trù xưa êm đềm và tĩnh lặng. Sau lũy tre, lũ trẻ theo đòi nghiệp bút nghiên cất giọng ê a. Đường làng quanh co với những bờ tre rì rào gió thổi, những lối nhỏ hai bên mềm mượt cỏ xanh, ngoằn ngoèo bò ra cánh đồng… Những thửa ruộng sâu đầy ắp nước, lúa tốt bời bời, rền rĩ tiếng ếch nhái. Từng đàn cá rô, cá diếc lượn lờ, thỉnh thoảng lại bắt gặp một đầu cá quả nhô lên, đen trĩu, lặng lẽ giương mắt nhìn. Ngày ấy cậu bé Công lăn lê, bò toài bên vệ cỏ, rình chộp những chú cào cào để anh trai và các bạn câu cá rô ron. Tiếng cười reo như pháo ran khi cánh diều ai đó vút bay hay một chú cá được giật lên. Có một lần chú cá tuột xuống, lưỡi câu nhọn sắc của anh Phương móc vào tai bé Công. Lưỡi câu có ngạnh, cả tốp mầy mò mãi mới gỡ được, máu chảy tóe loe khiến bọn nhỏ sợ xanh mang. Anh Khơm vò nát nắm lá phân xanh đắp vào tai cho cầm máu và dỗ em nín lặng kẻo bố mẹ mắng…

Chẳng ai ngờ vết sẹo ở tai lại thành một kỷ niệm tuổi thơ theo Bác đi khắp thế gian. Năm 1945, nghe tin Chủ tịch Hồ Chí Minh là cậu Công ngày nào, bà Thanh nhìn ảnh nửa tin nửa ngờ. Năm 1946 bà ra Hà Nội thăm cho rõ thực hư. Bà sờ tai cụ Chủ tịch rồi cười: “Đúng thật rồi! Vết sẹo ngày bé còn đây lạc vào đâu được!”

Ngày 16/6-1957 về thăm quê, bạn già gặp gỡ, Bác sờ tai mình nói với ông Phương: “Cậu giật câu móc vào tai mình, cái sẹo còn đây. Nhớ không?” Và cả hai cùng cười.

Thế đấy! Có những kỷ niệm tuổi thơ mãi mãi đồng hành cùng ta cho đến hết cuộc đời.

Làng Hoàng Trù thơ mộng và thanh bình xưa còn không? Đâu những con đường xóm nhỏ mến yêu? Đâu gốc đa cổ thụ trước cổng nhà rì rào gió thổi và xanh ngời bóng lá? Gốc đa đó ngày xưa Bác từng bám lấy những rễ dài, đu mình vào không gian hoặc chơi trò trốn tìm quanh những hốc mấu xù xì. Ôi! Đời người và tuổi thơ êm đềm đâu phải ai cũng may mắn có được?…

Hoàng Trù xưa đầm ấm và thơ mộng nay đang dần biến mất. Đáng lẽ phải bảo tồn nguyên dáng vẻ xưa (như xây chợ Đồng Xuân hiện đại mà vẫn giữ nguyên vẻ mặt bên ngoài). Ở đây, người ta biến cổng nhà ngoại của Bác thành một cái chợ cùng những công trình bê tông che lấy tất cả.

Bảo tồn đâu chả thấy, chỉ thấy mất đi. Thật đáng buồn!

*

Vậy là Bác Hồ “chôn nhau, cắt rốn” ở làng Chùa chứ không phải ở làng Sen như lâu nay một số người ngộ nhận. Lớn lên cũng vậy! Vẫn gắn bó với làng Chùa.

Biết bao nhiêu lời thơ, câu hát, đoạn văn đã ca ngợi làng Sen, quê hương Bác Hồ? Làm vậy khiến tôi lại nhớ ngày cụ Phó bảng vinh qui, hai làng suýt chém nhau để giành quyền đón rước (ông Phó bảng đâu thiết tha gì với làng Sen?). Bọn chức sắc tổng Lâm Thịnh xử cho làng Sen thắng cuộc và buộc làng phải mua cho quan tân khoa một ngôi nhà, cấp ruộng đất để cột chân ông lại…

Trước đây tôi nói gia đình cụ Phó bảng không ở làng Sen là vậy. Một nho sĩ là gà trống nuôi con, cái gì chả phải nhờ bên ngoại, ở làm sao được?

Năm 1902 ba cha con sống ở nhà thờ họ Lê (bên chân cầu Rộ thuộc Thanh Chương). Năm 1903 chuyển qua chợ Rộ rồi lại chuyển tiếp vào nhà ông Hàn Kháng (họ Phan). Nhà cụ Hàn nay là vị trí nhà bia tưởng niệm liệt sĩ xã Võ Liệt. Qua năm 1904 ít lâu, bà đồ An ốm nặng, ba cha con phải về chăm nuôi. Bà đồ mất… Thì giờ đâu mà ở làng Sen? Và căn nhà lợp rạ sau ba năm cũng đã dột nát. Đầu 1905 cụ Phó bảng vào Kinh, mang hai con trai đi theo.

Hai lần về thăm quê (lần đầu từ 14 đến 16 tháng 6-1957. Lần hai từ 8 đến 10/12-1961) tại làng Sen, Bác cũng chỉ thoáng qua, hệt như ngày bé đã từng qua lại… Và đúng ra, khu Di tích Kim Liên phần chính phải ở làng Chùa. Làng Sen chỉ là một kỷ niệm buồn!

Việc ba cha con cụ Phó bảng ở Thanh Chương mới đây đã được cụ Phan Tố Đức, cán bộ lão thành cách mạng, từng đi tù với cụ Hồ Tùng Mậu, viết gửi nội san họ Hồ Nghệ An. Tôi đâu dám đơn sai.

Ba mươi mấy năm làm rể làng Sen, tôi để ý hỏi kĩ bao điều. Mẹ vợ tôi, bà Nguyễn Thị Thiu (em ruột cụ Nguyễn Sinh Chiểu, lão thành cách mạng, chị ruột cụ Nguyễn Sinh Hiểu, nguyên là giám đốc quốc doanh chiếu bóng Nghệ An. Cả ba cụ đều đã qui tiên) cũng kể cho tôi đôi điều bà biết được. Còn thì gặp ai già cả quanh vùng tôi đều gợi ý, tìm hiểu, thu thập thông tin để biết được càng nhiều càng tốt.

Làng Sen cũng hệt như làng Chùa: Các công trình bê tông đã che lấp gần hết dáng vẻ xưa. Trước đây hình như Bác từng nói: Bác đâu phải địa chủ mà chiếm nhiều đất… vậy mà bây giờ xem ra lại nghiệm!

*

Chủ tịch Hồ Chí Minh là con yêu của giống nòi, là anh hùng dân tộc, là thiên tài, là vĩ nhân…

Có biết bao sách báo đã và đang viết về Bác Hồ và có lẽ rất lâu nữa người ta vẫn còn phải trở trăn tìm hiểu. Không nói tới những bài viết của kẻ xấu, của thù địch với dụng ý bôi nhọ, những người sinh sau đẻ muộn cần tin vào những đâu?

Tất nhiên là tin vào sự thật. Những bài viết như chắt ra từ máu của những người đạo đức trong sáng, sống mẫu mực, dũng cảm và ngay thẳng thì cái họ viết ra chắc chắn là thật. Ta có thể hoàn toàn tin tưởng họ.

Cụ Hoàng Tùng, cụ Sơn Tùng, cụ Vũ Kỳ… thì nói dối để làm gì? Họ đâu mưu cầu lợi ích riêng hay thăng quan tiến chức như kẻ khác? Những kẻ có cả đống đô la giấu diếm ở ngân hàng nước ngoài hoặc đùn cho con cháu đầu tư vào nhà hàng, khách sạn, sàn nhảy, sân gôn… để hốt bạc cùng những kẻ ăn theo, bản thân họ cũng không tin ở chế độ mình, ta không thể coi họ là thật thà và lời họ nói lại càng phải cân nhắc kĩ. Quan điểm cá nhân tôi là vậy.

*

Những ngày xa xưa trên con đường thiên lý Bắc Nam, cứ khoảng năm dặm có một đoản đình, mười dặm có một trường đình, khách bộ hành lê đôi chân mệt nhoài vào những quán đó nghỉ ngơi, ăn uống rồi tiếp tục đi. Quan lại hay kẻ giàu sang ngồi cáng có phu khiêng. Cái cảnh “cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” của cụ Nguyễn Du miêu tả chắc cũng từ những chuyến đi như thế. Ta không thể quên bài thơ: “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan trên con đường đó:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà mỏi miệng cái da da

Dừng chân đứng lại trời non nước

Một mảnh tình riêng ta với ta

Với đôi chân leo dốc mệt nhoài mà thi sĩ vẫn viết nên bài thơ xứng đáng để đời. Giữa trời, non và nước bao la, cảnh vật đơn sơ, đượm buồn cùng nỗi lòng bồi hồi, cảm khái được nhà thơ ghi lại thật tài tình. Và ta lại nhớ tới vợ chồng cụ Sắc cùng hai con trai lần đầu đi bộ vào Kinh để cụ Nguyễn theo học trường Quốc Tử Giám (1895).

Cũng tại con đèo này, cậu Khiêm ngồi ôm đôi chân phồng rộp cùng đôi dép mo cau đã mòn vẹt qua mấy buổi đi bộ. Cậu Công lên 5, nhong nhong trên lưng cha, bởi còn quá bé, đã xuất thần đọc nên hai bài thơ khẩu khí, một bài ngắm núi, một bài ngắm biển, dấu hiệu của một nhà thơ lớn sau này:

Núi cõng con đường mòn

Cha thì cõng theo con

Núi nằm ì một chỗ

Cha đi cúi lom khom

Đường bám lì lưng núi

Con tập chạy lon ton

Cha siêng hơn hòn núi

Con đường lười hơn con

Và:

Biển là ao lớn

Thuyền là con bò

Bò ăn no gió

Lội trên mặt nước

Em nhìn thấy trước

Anh trông thấy sau

Ta lớn mau mau

Vượt qua ao lớn

(Theo cụ Sơn Tùng, trích trong Tất Đạt tự ngôn)

Lớn lên, Bác đi khắp bốn phương trời, làm báo, viết kịch, viết văn, làm thơ… tự tìm đường cứu nước, hoàn thiện dần văn hóa ứng xử, văn hoá giao tiếp. Tập Ngục trung nhật ký chứng minh Bác là một nhà thơ lớn, cùng với thơ làm trong kháng chiến chống Pháp, thơ Xuân mỗi khi Tết đến Xuân về trong những ngày đánh Mỹ, thành kim chỉ nam cho toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta hăng hái xốc tới… đã thể hiện đầy đủ tầm vóc của một nhà văn hoá lớn.

*

Ngày còn học phổ thông, thầy Đào Tưởng Lục, giáo viên dạy sử nổi tiếng của chúng tôi dạy rằng: Chính sử được viết ra theo ý chí của nhà cầm quyền và phục vụ cho mục đích thống trị của họ. Dã sử mới thể hiện cách nhìn của đa số nhân dân lao động. Nó được viết ra bởi người lao động hoặc những trí thức sống gần dân…

Tôi nhớ mãi lời thầy và càng ngày càng nghiệm thấy đúng. Ngày 3-2-1930 (bà Vera ở Nga nói là ngày 6/1) Bác Hồ triệu tập các nhóm cộng sản ở trong nước bí mật tới Hồng Kông thống nhất lại thành Đảng Cộng sản Việt Nam, cử ông Trịnh Đình Cửu làm Tổng Bí thư và viết chính cương đầu tiên: Đoàn kết các giai tầng xã hội Việt Nam chống đế quốc, sau mới làm cách mạng thế giới…

Tháng 10-1930 ông Trần Phú từ Liên Xô về, gạt Bác Hồ và ông Trịnh Đình Cửu ra, phủ định chính cương 3-2 của Bác, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương với “Luận cương chính trị” do Stalin sai Paven Alếch Xanđrovích Míp vẽ ra, bầu Ban Chấp hành mới không có Bác Hồ tham gia.

Tôi không được học và cũng không được đọc hai bản “Luận cương”, nhưng theo cụ Sơn Tùng: Chính cương 3-2-1930 của Bác Hồ đến nay vẫn nguyên giá trị. Ngày ấy Quốc tế Cộng sản đòi phải thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Bác Hồ cho rằng: sự phát triển của ba nước không đồng đều, Việt Nam đông dân, có giai cấp công nhân, có thể thành lập đảng để lãnh đạo nhân dân đánh Pháp. Đó là điều kiện lịch sử của Việt Nam. Lào, Miên chưa có điều kiện thành lập đảng, lấy tên Đảng Cộng sản Đông Dương là lấy nước lớn áp đặt lên nước nhỏ, vậy là không đúng…

Bản “Luận cương” của ông Trần Phú gọi cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn An Ninh là “bọn” này “bọn” nọ lôi kéo thanh niên… Viết như vậy không chỉ xúc phạm đến các cụ, những nhà yêu nước chân chính mà còn xúc phạm đến cả đồng bào ta.

Bác của chúng ta đã sớm bộc lộ một tài năng chính trị sáng suốt vậy đấy!

*

Bác Hồ thật sự là nhân cách của người cầm quyền kiểu mới, suốt 24 năm làm nguyên thủ quốc gia mà không tha hóa. Khi chết đi, ngoài ngôi nhà sàn, Bác không có gì khác cho riêng mình. Tình cảm của Bác đối với mọi tầng lớp đồng bào là vô cùng sâu nặng, đặc biệt là đối với cụ già và trẻ em.

Chắc rằng những ngày cuối cùng của thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đã để lại trong lòng Bác một vết thương đau chẳng thể mờ phai: Bố đi coi thi ở Thanh Hóa, anh trai đi theo, xong tạt về quê bốc mộ họ suốt ba tháng trời. Ở Huế, mẹ sinh em, đau ốm, chết không để lại một bát gạo hay một cắc bạc nào. Bác Hồ bấy giờ mới 10 tuổi, bế em đi xin sữa và em cũng héo khô trên tay mình. Hai cái tang đổ xuống đầu một đứa bé 10 tuổi. Đời người có nỗi đau nào hơn thế? Vậy nên Bác dành nhiều tình thương yêu cho cụ già và em nhỏ cũng chẳng có gì là lạ?

*

Quan hệ của Bác với ông Trần Phú như đã trình bày ở trên, còn quan hệ với Tổng Bí thư thứ hai là Hà Huy Tập cũng không tốt đẹp hơn. Năm 1935 Hà Huy Tập làm văn bản báo cáo với Đệ tam Quốc tế rằng chính Nguyễn Ái Quốc đã gây ra sự mơ hồ về giai cấp cho các chiến sĩ cách mạng Đông Dương. Bởi vì hồi đó “Chính cương” của Bác đề ra: Đảng phải tranh thủ cả tiểu, trung và đại địa chủ cùng thanh niên trí thức, tư sản yêu nước để chống đế quốc… Ban Chấp hành Trung ương kết tội Bác là mơ hồ, cải lương…

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản chỉ có một mình Nguyễn Văn Tạo là người Việt Nam nhưng là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp là đại biểu chính thức tham dự. Trước đó, tại Đại hội V, Bác được Manuisky đề xuất đặc cách làm đại biểu chính thức. Ban Bí thư Chấp nhận nhưng Bác từ chối vì mình không phải là đại biểu được Đảng Cộng sản Pháp bầu. Bác chỉ đến để đóng góp vào báo cáo về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Đại hội mà thôi…

Tiếng bom Phạm Hồng Thái nổ ở Sa Diện, Quảng Châu làm chấn động cả nước Pháp, Bác Hồ đề đạt với Ban Bí thư Quốc tế cộng sản và Bộ Phương Đông xin được về Quảng Châu hoạt động. Cả hai nói đồng ý nhưng Bác vẫn phải chờ đợi trong im lặng. Đảng Cộng sản Pháp cũng chẳng hồi âm nên Bác đành phải loanh quanh ở Moskva… Về sau Nguyễn Ái Quốc được bổ sung vào Bộ Phương Đông và về Trung Quốc hoạt động, mọi chi phí do Bộ Phương Đông chu cấp. Tháng 9-1924 Bác đi Quảng Châu và cho đến 1927 cũng không được đồng tiền nào của Bộ Phương Đông chu cấp! Sau đó bác sang Thái Lan…

Sau Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, quan điểm dân tộc và thuộc địa của Bác Hồ bị phê phán dữ dội. Stalin tỏ vẻ khó chịu nhất là vấn đề này. Ông ta cũng coi Bác là một người dân tộc chủ nghĩa cải lương. Việc Bác bị bắt ở Hương Cảng rồi nhờ ông Loseby mà được xử trắng án, được thả ra cũng khiến Liên Xô nghi ngờ là Bác hoạt động hai mang! Stalin không hiểu được là tại sao lại có những người như Loseby?

Bác ở lại Liên Xô, công tác ở Ban Thuộc địa của Quốc tế Cộng sản nhưng không được giao nhiệm vụ cụ thể nào mà chỉ được nghiên cứu làm luận án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Công việc nghiên cứu xong đâu vào đấy cả Bác xin được bảo vệ thì lại không được trả lời. Năm 1938 Bác xin về nước.

Đại hội Quốc tế Cộng sản lần VII, Bác không có tên trong danh sách đoàn đại biểu Đảng ta mà chỉ là dự thính. Ông Lê Hồng Phong và bà Nguyễn Thị Minh Khai là đại biểu chính thức.

*

Tôi không được rõ mối quan hệ giữa Bác với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ. Chỉ thấy nói năm 1938 Bác từ Liên Xô về qua Trung Quốc. Cuối 1938, Bác công tác tại phòng “Cứu nguy Dân tộc” thuộc văn phòng đại diện Bát lộ Quân ở Quế Lâm (Trung Quốc) với tên là Hồ Quang, hàm thiếu tá. Năm 1939 Bác về Côn Minh để tìm cách nối lại liên lạc với các đồng chí trong nước.

Quan hệ giữa Bác và ông Trường Chinh có vẻ “êm đềm” hơn, mặc dù ông Trường Chinh không tán thành việc Bác tuyên bố “giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương”. Đây là việc làm trên danh nghĩa để tránh mũi nhọn của bọn Lư Hán, Tiêu Văn sang ta là để tiêu diệt Đảng Cộng sản. Nếu không làm được thì bọn họ sẽ bị Tưởng Giới Thạch tiêu diệt!

Năm 1952, Mao và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Bác chủ trương hãy làm giảm tô, giảm tức trước. Cải cách uộng đất để sau. Bác nói: mình đã nói để kháng chiến xong đã mới tiến hành cải cách ruộng đất. Họ cứ ép mãi. Mà nếu có làm cũng làm theo cách của ta, chứ không theo họ…

Đoàn cố vấn Trung Quốc trong cải cách ruộng đất do Kiều Hiểu Quang làm trưởng đoàn, họ muốn qua cải cách để “sửa” lại Đảng ta. Ông Trường Chinh đồng ý làm cải cách ruộng đất. Làm thí điểm, trước hết họ chỉ đạo đánh vào bà Nguyễn Thị Năm (tức Cát Thành Long). Gia đình bà Năm có con trai làm trung đoàn trưởng dưới trướng tướng Văn Tiến Dũng. Trong tuần lễ vàng kháng chiến, bà đã hiến cho cách mạng 100 lạng vàng. Bà từng nuôi các ông Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt… trong những năm tháng bí mật. Bản thân bà Năm công tác trong Hội Liên hiệp Phụ nữ từ 1945 cho tới 1953. Bác nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy cũng giúp đỡ cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cánh hoa”. Người ta phớt lờ ý kiến Bác và cứ thế họ làm…

Ai phải chịu trách nhiệm trước những sai lầm này? Rồi còn chiến dịch đánh Nhân văn Giai phẩm nữa… Lịch sử sau này chắc cũng còn nhiều việc phải xem xét. Rất may là Đảng đã phát hiện sớm những sai lầm này và cho cuộc cải cách ruộng đất sớm dừng lại. Nếu không, đất nước ta chắc đã tan hoang như bãi chiến trường và dân tộc ta phải gánh chịu một nỗi đau không đáng có!

*

Thời kỳ ông Lê Duẩn làm Tổng Bí thư là thời kỳ đất nước ta phải vượt qua nhiều biến cố to lớn nhất. Trước hết là công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp và nông thôn. Vấn đề thành lập các hợp tác xã nông nghiệp. Bác nói: “Việc xây dựng hợp tác xã phải hết sức tự nguyện, không ép người ta”. Đằng này họ lùa dân vào các hợp tác xã tất, ai không vào sẽ bị phân biệt đối xử, con cái học hành khó khăn, không cho lý lịch để thoát ly… Dân vào hợp tác xã gần như vào trại lính, đi làm theo hiệu kẻng, không biết sáng tạo là gì. Các vị chủ nhiệm thuộc bần cố nông, chả biết gì là khoa học kỹ thuật, lo cho họ chưa xong thì lo được cho ai? Kết quả nền nông nghiệp nước nhà tụt hậu hàng chục năm vậy mà đi đâu cũng hô hào làm ăn lớn, làm chủ tập thể!

Ông Hoàng Tùng xếp nỗi đau thứ 7 của Bác Hồ chính là vào thời kỳ này. Ông Lê Duẩn muốn qua mặt Bác nhưng Bác không quan tâm. Người trọn đời vì dân vì nước ai thèm kèn cựa địa vị mà làm gì?

Tết Mậu Thân (1968) tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam, Bác và tướng Giáp không tán thành nhưng bị thiểu số. Bác và tướng Giáp chủ trương tập kích rồi rút nhanh để bảo tồn lực lượng. Ông Duẩn và đa số quyết tâm tổng tấn công. Để tránh tổn thất cho lực lượng ta, Bác hỏi tướng Giáp xem phải làm thế nào? Tướng Giáp nói: Chỉ còn cách đánh mạnh ở giới tuyến để kéo bớt địch ra. Chuẩn bị vào trận, họ cho tướng Giáp đi chữa bệnh ở Hungari, Bác Hồ đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Kết quả địch phải mang ra giới tuyến 4 sư đoàn. Johnson tuyên bố phải tử thủ Khe Sanh. Ông Lê Duẩn đã đề nghị Bác cho đánh trận này, nếu không thắng ông ta sẽ từ chức, nếu thắng Bác phải cách chức tướng Giáp. Kết quả cả ba đợt tổng tiến công và nổi dậy đều không đạt được mục tiêu đề ra… Nhưng ông Duẩn im lặng.

Tấn công đợt 1 không bắt được Martin và Thiệu ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng! Đợt 2 cũng không kết quả, đợt 3 đã bị kẻ địch phản công cho tơi tả. Bộ đội tinh nhuệ của ta hy sinh biết bao nhiêu? Những hố chôn tập thể đã khui lên ở Quảng Ngãi, ở Bình Định cùng nhiều nơi nữa nói lên điều đó. Và còn bao nhiêu xác chiến sĩ ta bị kẻ địch vùi lấp chưa tìm thấy?

Ông Lê Duẩn phớt lờ lời hứa của mình còn Bác Hồ thấy đất nước đang trong giai đoạn nước sôi lửa bỏng nên cũng để yên…

Ngày ấy, giáp Tết, Bác đang điều trị ở Trung Quốc, Bộ Chính trị mời về để thông qua việc tổng tiến công và nổi dậy 1968. Máy bay về sân bay Gia Lâm được thông báo hạ cánh theo phương vĩ lệch 15o. Nếu xuống ắt sẽ tan xác. Ông Vũ Kỳ đồng ý cho người lái hạ cánh theo trí nhớ và máy bay đáp xuống an toàn. Ông Kỳ thở phào nhẹ nhõm. Mọi người yên vị trong máy bay và Bác vẫn ung dung hút thuốc.

Lát sau mới thấy ông Duẩn, ông Lê Đức Thọ rồi ông Đồng tới đón! Chắc là họ định đón Bác ở một địa điểm khác.

Những tì vết của ông Duẩn và một số ông lớn khác thì còn nhiều. Ông Duẩn “lúc sinh thời là một thanh niên yêu nước. Người ta kính mến, khi ở trong Nam chiến đấu cũng đáng kính. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam, đám thầy dùi tự nhiên lại mạ ngọc mạ vàng lên lịch sử cá nhân ông là không đúng. Họ bịa chuyện sở dĩ có chiến thắng miền Nam là nhờ có nghị quyết 15: Có nghị quyết 15 do anh Ba Duẩn từ trong Nam ra, triệu tập Hội nghị Trung ương chỉ ra đường lối kháng chiến miền Nam lúc đó”.

Bác Hồ đang sống mà họ dám nói thế. Mà chính ông Duẩn cũng muốn thế!

Tạp chí Lịch sử Đảng số 4-1990 ghi rõ: Tác giả Nghị quyết 15 là Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp… Dù cho có người viết sách ca ngợi họ đến đâu rồi cũng có ngày được lịch sử phán xét. Có thế mới giúp những người đang sống hiểu rõ vàng, thau. Giúp những thế hệ mai sau không bị nhầm lẫn… Tôi chỉ ghi ít chuyện giữa ông Duẩn và Bác Hồ mà thôi. Những việc của ông làm sau khi Bác mất thì mọi người đã rõ và những giọt nước mắt ông khóc ngày lễ tang Bác là thật hay giả đây?

*

Suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ luôn cao hơn các vị Tổng Bí thư mấy cái đầu và mặc dù họ cư xử với Bác thế nào Bác vẫn luôn đặt quyền lợi của Đảng của dân tộc lên trên hết… Sự kiện lịch sử càng đứng xa càng thấy rõ: Cái đúng, cái ưu, cái sắc bén luôn luôn thuộc về Bác Hồ.

- Căn cứ vào đâu mà từ 1941, Bác nói năm 1945 cách mạng Việt Nam hoàn thành?

- Căn cứ vào đâu mà giữa lúc khói lửa của cuộc đại chiến đang mù mịt, Bác nói năm 1945 Chiến tranh Thế giới kết thúc? Trong khi Bác chỉ có chiếc radio ọp ẹp bên hông còn Stalin, Churchill, Roosevelt… có đầy đủ mọi nguồn thông tin, các cố vấn đông đảo… họ lại nói năm 1946 Chiến tranh Thế giới mới kết thúc?

- Căn cứ vào đâu mà từ 1950, Bác nói năm 1954 ta chiến thắng giặc Pháp?

- Căn cứ vào đâu mà 24/4-1957 Bác nói tại Nam Định: “Làm kinh tế thì phải khoán, khoán là ích chung lợi riêng, thì mới kích thích được sản xuất”? (Sau đó ông Kim Ngọc, bí thư Vĩnh Phúc làm theo lời Bác thì bị tiêu diệt.)

- Căn cứ vào đâu mà từ 1960, Bác ghi: “15 năm nữa thì sự nghiệp thống nhất nước nhà hoàn thành”?

- Căn cứ vào đâu mà trong Di chúc, Bác viết: Chiến tranh chống Mỹ còn kéo dài mấy năm nữa… còn Bộ Chính trị lại gạch bỏ cụm từ “mấy năm nữa” và cho là còn kéo dài? Vậy mà ông Lê Duẩn còn dám đến ký chứng kiến vào Di chúc, thực tế là giám sát Bác. Những ngày cuối đời Bác còn bị một thứ “thần trùng” bên cạnh khống chế. Họ gạch bỏ mấy vấn đề liền trong Di chúc, sửa lại ngày Bác ra đi…

Ngày nay Liên Hợp Quốc còn coi Bác Hồ là người đầu tiên mở đường đối thoại và tiến hành đối thoại tìm kiếm hòa bình (Đối xử với bọn Tiêu Văn và ký Hiệp định Sơ bộ 6/3-1946 với Pháp).

Khi cách mạng mới thành công, Bác đã kêu gọi diệt giặc đói, diệt giặc dốt thì bây giờ UNESCO mới đặt ra chương trình cứu đói, tổ chức xóa nạn mù chữ.

Bác Hồ phát động trồng cây gây rừng từ 1960, ngày nay UNESCO mới đặt ra chương trình cân bằng sinh thái, trồng cây gây rừng.

Với Bác Hồ của chúng ta chỉ có một chữ “thiên tài” mới nói lên được tất cả. Bác của chúng ta thông hiểu học thuyết Mác-Lênin (nhưng học thuyết Mác là từ thực tiễn Châu Âu. Châu Âu chưa phải là cả thế giới, Châu Á và nước ta có đặc điểm riêng). Bên cạnh đó Bác còn là người của Phật học, của Nho học, của Lão học, của học thuyết Tôn Trung Sơn… Kết hợp chặt chẽ với truyền thống dân tộc và văn hoá Việt Nam. Thông hiểu ngần ấy thứ mới tạo nên một tầm vóc Bác Hồ và điều đó đâu phải là đơn giản.

*

Những năm gần đây có nhiều người nói hoặc viết rằng Bác Hồ có con… Đối với cá nhân tôi và có lẽ là của đông đảo người dân Việt Nam ta, đó là điều đáng mừng. Một con người kiệt xuất mà từ giã cõi đời không để lại cho hậu thế tí di duệ nào khiến ai chẳng cảm thấy đau lòng? Chúng ta không nên thần thánh hóa Bác Hồ. Hãy để Bác mãi mãi vĩ đại mà giản dị giữa lòng dân tộc, giữa những tâm hồn Việt Nam, trong sự kính yêu của những người dân Việt Nam. Bác Hồ là lãnh tụ là nhà văn hoá lớn song Bác cũng là một con người với những tình cảm riêng tư bình thường mà giản dị.

Ngày Bác qua đời, Mao “bạo chúa” còn ngự trị trên đất nước Trung Hoa. Cả hơn một tỉ dân Trung Quốc phải cúi đầu phủ phục trước ông ta… vậy mà cụ Quách Mạt Nhược dám gửi đôi câu đối viếng, đặt Bác Hồ lên trên tất cả, trên cả ông Mao. Đó là một hành động dũng cảm (Trước đây khi Lev Landau bị vu là gián điệp Đức, viện sĩ Kapitsa cũng đến trước Stalin đòi phải thả ngay, nếu không ông sẽ bỏ Viện) Các nhà khoa học thường trung thực và dũng cảm vậy đó. Xin phiên âm đôi câu đối của cụ Quách Mạt Nhược: “Chí khí tráng sơn hà, Ái Quốc, anh hùng duy hữu nhất minh tinh quang vũ trụ, Á Âu, hào kiệt thị vô song”. Đây là đôi câu đối ca ngợi Bác Hồ chính xác, đầy đủ và khó có ai có thể viết được hay hơn.

*

Tôi là người sinh sau đẻ muộn lại sống ở nông thôn, giữa vùng đồi núi, mọi nguồn thông tin đều thiếu thốn, muốn tìm tòi nghiên cứu cũng chẳng biết tìm đâu, chỉ đọc và nghiền ngẫm những bài nói, bài viết của lớp người đi trước, tin tưởng hoàn toàn ở họ bởi mục đích của họ là tốt đẹp là trong sáng mà thu thập, gạn chắt lấy đôi chút cho mình…

Tôi viết ngắn gọn vậy thôi, có gì không đạt cũng mong được mọi người tha thứ. Cuối cùng, xin mượn lời cám ơn nhà văn Sơn Tùng của Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục – ngành Giáo dục Đào tạo ngày 11/4-2001 thay cho lời kết:

“Đã đến lúc sự thật phải trả về cho sự thật, lịch sử phải trả về cho lịch sử với giá trị nguyên bản đích thực của nó, dầu biết rằng sự thật nói ra có cực kỳ gai góc, nhưng vẫn có giá trị hơn rất nhiều so với lời nói, nhận định sai lạc, giả dối, giá lạnh, không có hồn… nhưng sự thật đó quang minh chính đại phù hợp với lý tưởng của con người và đặc biệt sự thật đó phù hợp với lương tâm của chúng ta.”

Những ngày đầu xuân Canh Dần

12.10.2010

Hiểu được những gì xảy ra tại Việt Nam hơn 40 năm trước là một vấn đề rất đáng quan tâm khi người Mỹ cân nhắc tương lai việc can thiệp của mình tại Afghanistan. Tháng Mười một năm trước, tờ Newsweek đã đăng trên trang chủ bài viết mang tên "Chúng ta (đã có thể) thắng ra sao tại Việt Nam."

Đối với tôi thì rõ ràng là từ ba chuyến viếng thăm Việt Nam trong hai năm qua -- bao gồm cả một chuyến đi cùng một nhóm người lớn mà tôi làm trưởng đoàn cùng với một chuyến đi với các sinh viên Đại học Millsaps vào tháng Năm -- cho thấy rằng bài học thật sự bắt đầu bằng việc loại bỏ cụm từ "(đã có thể)" từ đầu đề bài báo ấy.

Hoa Kỳ đã thắng tại Việt Nam. Chiến thắng của người Mỹ, đã bị chậm trễ hơn bốn mươi năm vì diễn tiến của cuộc chiến tranh, cuối cùng đã đạt được bất chấp những nỗ lực của Lyndon Johnson và Richard Nixon tìm cách ngăn cản nó.

Hoa Kỳ đã thua trong cuộc chiến tranh, nhưng chắc chắn đã thắng về hoà bình. Cuộc đấu tranh, từ câu nói nổi tiếng của Tổng thống Johnson, là vì "trái tim và khối óc" của người dân Việt Nam. Trái tim và khối óc không thể chiến thắng được bằng vũ lực; chúng được thắng qua lực lượng của tư tưởng và văn hoá.

Một khi Việt Nam tiếp tục chiến đấu, họ sẽ không thể thua cuộc trong cuộc chiến quân sự.

Một khi Hoa Kỳ ngừng chiến đấu, họ không thể thua cuộc vì hoà bình.

Và nếu Hoa Kỳ đã không tham gia cuộc chiến ngay từ đầu, họ đã chiến thắng cuộc chiến văn hoá ấy sớm hơn nhiều.

Một bảng hiệu tại "Thành phố Hồ Chí Minh" (Sài Gòn)

Những người Cộng sản đã thắng trận đầu bằng một thứ chiến tranh du kích. Hoa Kỳ đã chiến thắng cuộc đấu tranh rộng lớn hơn để chiếm lấy trái tim và khối óc của người dân qua một thứ chiến tranh du kích về văn hoá.

Tờ thị thực nhập cảnh của chúng tôi đề "Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam." Trên thực tế thì hiện nay đất nước này là "Phi-Cộng hoà Tư bản Chủ nghĩa Việt Nam." Một hệ thống chính trị độc đảng vẫn còn nắm quyền, và có những cố gắng nửa vời, gián đoạn nhằm ngăn cản người dân truy cập thông tin. Đôi khi bạn có thể truy cập được Facebook; đôi khi lại không. Đôi khi truyền hình tiếp dẫn các đài CNN và BBC, đôi khi không.

Một trong những kênh truyền hình trong khách sạn chúng tôi ở tại Hội An trong chuyến đi vào tháng Năm đã chiếu đi chiếu lại cả ngày những chương trình biểu diễn thời trang của hãng đồ lót Victoria Secret. Tôi đoán rằng những chương trình này đã thay thế các kênh CNN và BBC và nhà cầm quyền cho rằng việc chiếu những cô gái đẹp biểu diễn đồ lót nhằm thay thế tin tức chính xác sẽ giúp giảm bớt những than phiền về việc ngăn cản thông tin.

Chúng tôi hỏi một phụ nữ về những dạng cấm đoán và đàn áp dưới chế độ Cộng sản trong thập niên sau khi miền Nam sụp đổ năm 1975, và đã nhận được một câu trả lời tóm tắt tình hình Việt Nam hiện tại: "But now -- it's OK!"

Nếu lấy bất cứ tiền đề nào để thay thế cho "it", thì nhận định trên đều hợp nghĩa. Đây có thể là khẩu hiệu mới của Việt Nam: "But now -- it's OK!"

Còn về phần "xã hội chủ nghĩa" trong danh hiệu chính thức của đất nước thì nó cũng chẳng còn chính xác, chẳng khác nào một số người đang mắng Tổng thống Obama là một "kẻ theo chủ nghĩa xã hội." Chủ nghĩ tư bản đang thống lĩnh trên đỉnh cao bất cứ mọi nơi.

Ngược lại, quốc gia cựu Cộng sản này đã áp dụng chế độ kinh tế tự do quá trớn. Để tôn trọng di sản Mác-xít của mình, người Việt không thích mô tả thực tế hiện tại của mình với cụm từ "chủ nghĩa tư bản" đầy thô bỉ, thay vì thế họ sử dụng cụm từ "nền kinh tế thị trường."

Việt Nam hôm nay còn ít tính chất xã hội chủ nghĩa hơn cả tiểu bang Mississippi quê tôi. Tôi nói thật. Nước Mỹ đang rất cần hệ thống y tế toàn khắp, nhưng chúng ta cũng còn chế độ trợ cấp y tế Medicaid cho người nghèo. Một số trường học công cộng vẫn còn nhiều điều chưa thoả mãn, nhưng ta vẫn được miễn phí giáo dục đến hết cấp trung học. Chúng ta lại có hệ thống An sinh Xã hội. Ở Việt Nam thì không, ở đây người nghèo vẫn phải trả chi phí y tế lẫn chi phí giáo dục cho con em họ từ cấp tiểu học trở lên và chỉ có công chức nhà nước mới được những khoản lương hưu ít ỏi.

Tôi trông đợi cảnh Hồ Chí Minh sẽ phải ngồi dậy trong cái hòm kính của mình khi chúng tôi thăm viếng ông ở Hà Nội, nhưng trông ông có vẻ thanh thản trước hiện trạng cuộc cách mạng của ông đang sụp đổ qua một đổi thay có thể đặt tên là Cuộc Cách mạng Văn hoá Tư sản Vĩ đại.

Tự do là một cơn bệnh truyền nhiễm có thể tự lây lan; nó là một loại vi khuẩn tự sao chép; nhưng nó không thể được trang bị vũ khí và truyền tải bằng chiến tranh.

Hiện tình tại Afghanistan thì phức tạp và khó khăn hơn nhiều, và những bài học của Việt Nam có thể không áp dụng được. Nhưng ít nhất chúng ta cũng nên thấy rõ những bài học này là gì.

Vì thế, hãy bỏ đi cụm từ "(đã có thể)". "Chúng ta đã thắng Việt Nam" bằng cách chấm dứt cuộc chiến.

Chiến tranh nam bắc của Mỹ diễn ra vào năm 1861, kéo dài bốn năm và kết thúc năm 1865. Trong chiến tranh này đã có hơn 600,000 binh lính bị tử trận, chưa kể tới thường dân. Để biết mức độ khốc liệt của chiến tranh này chúng ta có thể so sánh nó với chiến tranh Việt Nam khi chúng ta có khoảng 2 triệu người chết trong cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm (1954-1975).

Cuộc nội chiến của Mỹ bắt đầu khi phe miền bắc, cầm đầu là tổng thống Lincohn, chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen. Chủ trương này có lẽ được bắt đầu khi hững cuốn truyện như Uncle Tom Cabin (túp lều của chú Tom) miêu tả những cảnh tượng xót xa đau lòng của các cha mẹ da đen khi thấy con mình bị còng đi bán cho các chủ đồn điền ở những miền xa. Người ta bán cả những em bé còn nhỏ tuổi. Ngoài cuốn truyện Uncle Tom Cabin ra, nhiều người Mỹ theo đạo Thiên chúa cũng tin là mọi sinh vật ở đời là do chúa tạo ra và phải được sống tự do để phụng sự Chúa. Thêm một lý do nữa dẫn đến cuộc nội chiến là ông tổ của hiến pháp nước Mỹ, Thomas Jefferson, đã đề trong hiến pháp là "all men are created equal" (mọi người sinh ra đều bình đẳng) cho nên lúc bấy giờ phe miền bắc có rất nhiều lý do chính đáng cho niềm tin của họ.

Chiến tranh nam bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận chiến đẫm máu giữa hai vị tướng Robert E. Lee của miền nam và Ulysses S. Grant của miền Bắc. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho quân đội miền Bắc, cuối cùng ông đã bị thua khi các đường tiếp vận đều bị cắt đứt và binh lính chết chóc quá nhiều. Trận chiến ở thôn Appomattox là trận chiến cuối cùng của hai người. Khi biết không thể cầm cự nổi, tướng Lee bắn tin cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant bắn tin lại cho phép tướng Lee có thể chọn địa điểm thương thuyết mà ông muốn. Đến ngày gặp nhau tướng Lee bận một bộ đồ nhà binh mới tinh khôi ngồi chờ tướng Grant, tướng Grant xuất hiện trong bộ đồ lính còn dính sình trong lúc đi lại. Tướng Lee lớn hơn tướng Grant 15 tuổi và cũng cao lớn hơn nhiều.

Đáng lẽ là gặp nhau bàn chuyện đầu hàng nhưng tướng Grant biết là tướng Lee đang buồn thua trận nên ông không nỡ nhắc tới, cứ ngồi nói đến các chuyện chiến tranh với người Mễ của một thời nào khác. Cuối cùng tướng Lee phải nhắc là ông tới để đầu hàng và xin được một số điều kiện. Bấy giờ tướng Grant mới lấy giấy ra viết và ông chép tay khoảng non trang giấy rồi giao lại cho tướng Lee. Tóm tắt như vầy:

1. những binh lính miền nam sẽ không bị coi là quân đội phản quốc (treason)

2. những binh lính miền nam sẽ không bị đi ở tù (imprisonment)

3. chính phủ không được đụng tới hoặc làm họ phiền hà nếu họ chắp hành tốt luật lệ nơi cư ngụ

4. kỵ binh được quyền mang ngựa và lừa về để giúp gia đình họ cày cấy vào mùa xuân

5. binh lính được quyền giữ khí giới cá nhân để giúp họ bảo vệ gia đình họ

(nên nhớ là trong hiến pháp Mỹ, mọi người dân được quyền mang khí giới để tự vệ).

Khi tướng Lee ra về thì tướng Grant và mọi tướng lãnh khác đều đứng nghiêm trang chào cái chào nhà binh tới tướng Lee và các sĩ quan của ông. Sau đó tướng Grant cho người đưa thức ăn cấp tốc đến cho các binh sĩ của tướng Lee đã bị vây đói lâu ngày. Một điều đáng nói nữa là sau khi chiến thắng, khi các binh sĩ miền bắc muốn ăn mừng chiến thắng, tướng Grant đã ra lệnh cho mọi người không được ăn mừng (no cellebration), ông nói "họ bây giờ đã là người dân của mình" ("they are our countrymen now"). Ý ông nói một khi họ đã đầu hàng thì họ đã trở thành người dân của mình, mình phải có bổn phận bảo vệ và không làm nhục họ. Cũng vì vậy mà cho đến ngày hôm nay nước Mỹ cũng không có ngày nào gọi là ngày kỷ niện ăn mừng chiến thắng miền nam cả. Lá cờ của phe miền nam vẫn được treo ở các toà đô chính ở tiểu bang miền nam.

Sau trận chiến này, tướng Lee trở thành một thầy giáo dạy học. Tướng Grant sau này làm đắc cử tống thống thứ 18 của Mỹ. Sau khi giã từ chính trường, ông làm ăn thua lỗ liên tục cuối cùng ngèo khổ, uống rượu nhiều và chết vì bịnh ung thư. Xong nhờ vào tấm lòng độ lượng to lớn của ông mà những người lính miền nam biết ơn, đứng đầu là tướng Lee. Do vậy sau chiến tranh tướng Lee đã không ngừng đi cổ võ cho việc hàn gắn đất nước và ông không cho bất kỳ một người nào nói xấu tướng Grant trong khi ông có mặt.

Henry Kissinger, người giúp lèo lái chính sách Việt Nam trong những năm tháng đen tối nhất của cuộc chiến trnah, đã nói vào hôm thứ Tư rằng ông tin tưởng "đa số những sai lầm ở Việt Nam là do chúng ta tự tạo ra cho chính mình" - bắt đầu bằng việc đánh giá thấp tính bền vững của giới lãnh đạo miền Bắc Việt Nam.

Đưa ra một nhận định ảm đạm về cuộc chiến, được chấm dứt vào năm 1975 với sự sụp đổ đầy nhục nhã của Sài Gòn, Kissinger đã thông cảm với nỗi đau vốn đã đốt cháy cả một thế hệ người Mỹ khi cuộc chiến kéo dài.

Và ông nói rằng trở ngại cốt lõi của Hoa Kỳ là mục tiêu trung tâm của họ trong việc tìm cách gìn giữ một chính phủ Nam Việt Nam có thể tồn tại độc lập đã không đạt được - và đối thủ của Hoa Kỳ đã quá kiên cường.

"Mỹ muốn thoả hiệp," ông nói. "Hà Nội muốn chiến thắng."

Kissinger phát biểu tại một hội nghị của Bộ Ngoại giao về lịch sử của mối liên quan của Hoa Kỳ tại Đông nam Á. Trong những tháng gần đây cơ quan này đã xuất bản hàng loạt các báo cáo, dựa trên những tài liệu vừa được bạch hoá, chứa đựng những quyết dịnh của Hoa Kỳ về Việt Nam trong những năm cuối cùng của cuộc chiến.

Kissinger là cố vấn an ninh quốc gia và bộ trưởng bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống Richard Nixon và đã tiếp tục vai trò ngoại giao chủ chốt trong chính quyền Tổng thống Gerald Ford.

Khi giới thiệu Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Rodham Clinton - người từng phản đối cuộc chiến trong thời bà còn là sinh viên và đã viết rằng bà có những cảm xúc trái ngược về việc phản chiến của mình - đã phát biểu một cách tổng quát về cuộc chiến tranh này này đã ảnh hưởng đến thế giới quan trong thế hệ của bà ra sao.

"Như bất cứ mọi người vào thời đó, tôi có những người bạn nam giới đã nhập ngũ, đã bị bắt quân dịch, đã phản đối, hoặc trở thành những người phản chiến vì lương tâm; với nhiều cuộc thảo luận dài và đau đớn," bà nói. "Tuy thế, những bài học trong thời kỳ ấy vẫn tiếp tục giúp chúng ta tạo ra những quyết định hiện nay."

Kissinger đã chia sẻ một nhận định cá nhân và chi tiết hơn về cuộc chiến vốn đã làm thiệt mạng hơn 58 nghìn binh sĩ Hoa Kỳ.

Ông nói rằng ông hối hận về vấn đề lẽ ra chỉ là những bất đồng rõ rệt về phương cách tiếp cận Việt Nam của Hoa Kỳ, lại bị "biến dạng thành một vấn đề đạo đức - trước hết là về sự chính đáng về đạo đức của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ nói chung và rồi đến cả sự chính đáng về đạo đức của nước Mỹ."

"Đối với tôi, thảm kịch cuộc chiến Việt Nam không phải là vì sự phức tạp của nó - mà là lòng tin giữa người Mỹ với nhau đã bị tàn phá trong quá trình này," ông nói.

Ông tự nhận mình đã "hoàn toàn không thể tái tạo được" vào lúc ấy.

"Tôi tin rằng đa số những thất bại ở Việt Nam là tự chúng ta tạo ra," ông nói, và bổ xung thêm, "Tôi muốn có một kết quả khác - ít nhất là một kết quả không quá gần với cách mà chúng ta đã xâu xé lẫn nhau."

Nhìn lại, Kissigner nói, thật rõ ràng là những người cộng sản Bắc Việt Nam đã rất kiên định trong mục đích thống nhất hai miền Nam Bắc, sau khi đánh bại thực dân Pháp vào năm 1954.

Những sử gia cũng có cùng nhận định như thế.

Trong cuốn sách tường thuật về cuộc chiến "Việt Nam: Lịch sử của một Cuộc chiến Không thắng được, 1945-1975," nhà sử gia quân đội John Prados đã viết, "Miền Bắc đã có một mục tiêu đã được vạch rõ - thống nhất đất nước - và một niềm tin tuyệt đối vào mục đích của mình."

Kissinger đánh giá cao đối thủ Bắc Việt Nam của mình trong những cuộc đàm phán hoà bình - Lê Đức Thọ - người đã khéo léo và kiên định trong việc thi hành những chỉ thị từ chính phủ mình để qua mặt người Mỹ.

"Ông ta đã mổ xẻ chúng tôi như một bác sĩ phẫu thuật với con dao mổ - với một năng khiếu đại tài," Kissinger nói.

Washington và Hà Nội đã ký một hiệp định hoà bình vào tháng Giêng 1973, Kissinger và Thọ cùng được tặng giải Nobel Hoà bình vào năm ấy vì vai trò của họ trong cuộc thương lượng. Thọ đã từ chối giải thưởng này.

Hiệp định hoà bình đã tạo ra cho Hoa Kỳ một lối thoát khỏi Việt Nam, nhưng đã bỏ Nam Việt Nam vào nguy cơ bị cộng sản chiếm đóng.

"Chúng tôi biết đấy là một thoả thuận mong manh," Kissigner nói, và rằng cuộc chiến không thực sự chấm dứt. Nhưng Washington cũng tin rằng Nam Việt Nam có thể đứng vững trước những người cộng sản, chống lại một cuộc xâm chiếm toàn bộ.

Kissigner đùa rằng những cuộc hội thương lượng kéo dài với Thọ đã ảnh hưởng trầm trọng và lâu dài đến sức khoẻ của ông.

"Tôi sẽ trông khoẻ mạnh hơn nhiều nếu tôi không từng gặp ông ấy," ông nói.

Một chi tiết thú vị về những khó khăn trong thương lượng được hé lộ trong một bản đánh máy vừa được bạch hoá về cuộc họp giữa Kissinger và Thọ tại Paris vào ngày 21 tháng Năm, 1973, trong đó họ trao đổi những khó khăn trong việc thực thi những điều khoản hoà bình.

"Chúng ta chỉ họp với nhau trong vòng 45 phút và ông đã hoàn toàn làm chúng tôi bối rối," Kissinger nói với Thọ.

Thọ đáp trả: "Không, ông không tự làm mình bối rối. Ông đã làm vấn đề trở nên rắc rối."

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: