Vợ nhặt
Kim Lân được ví như một loại đồ cổ quý hiếm cất giữ trong đó là những hạt bụi vàng văn hóa thẳm sâu của nền văn minh sông Hồng. Ông trở thành nhà văn của những số phận thiệt thòi, những kiếp người cùng khổ của làng quê Việt Nam giữa thế kỉ XX. Các nhân vật của ông đều mang hình bóng của tác giả, là con người hiền hậu, chất phác và giàu yêu thương, tình nghĩa. Vợ Nhặt là một tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được in trong tập "Con chó xấu xí" năm 1962. Nhà văn đã dùng "Vợ nhặt" để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện "Vợ nhặt" đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng.
1. Nhan đề tác phẩm
- Nhặt tức là nhặt nhạnh một thứ gì đó, thậm chí là nhặt một cọng cỏ, cọng rơm ở bất cứ nơi đâu, bất cứ nơi nào nhưng ở đây là "nhặt vợ" chứ không phải nhặt 1 thứ vật chất rẻ rúng nào.
- Nhan đề là "vợ nhặt" chứ không phải là "nhặt vợ", Tràng không chủ ý mà thị theo không Tràng về nhà làm vợ. Nhan đề cho ta thấy được giá trị của con người quá rẻ mạt đến nỗi "nhặt" được. Người ta cưới vợ, hỏi vợ còn Tràng thì nhặt được vợ ngay giữa nạn đói.
- Chỉ với nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã đặt vào đó 1 mối tình, 1 cuộc hôn nhân có thể nói "cười ra nước mắt", đồng thời nêu bật lên cái hoàn cảnh khốn cùng của người nông dân và tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ.
2. Nhân vật Tràng-người đàn ông luôn khao khát hạnh phúc
"Cái đói" là nỗi lo lắng của con người ở tất cả mọi dân tộc và mọi thời đại. Cho nên đó là một đề tài cũng thuộc về bản chất của đời sống. Các nhà văn viết về cái đói ở khía cạnh tối tăm và bất lực của con người trước nó. Con người phạm tội và làm đủ chuyện dại dột khác chỉ vì đói. Khi tôi viết, ý tưởng thường trực trong tôi là những người đói dù thế nào đi nữa vẫn luôn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách mơ hồ vào cuộc sống tương lai. (Kim Lân).
a. Lai lịch, xuất thân
Mười năm đã trôi qua nhưng trực cảm về cái đói, cái chết vẫn hằn sâu trong tâm trí, trong kí ức của Kim Lân. Truyện mở đầu bằng hình ảnh chiều hoàng hôn lạnh lẽo, ảm đạm, ánh sáng hắt vào trong trang viết của Kim Lân là ánh sáng "chạng vạng" trong màn ánh sáng vật vờ của những bóng người như những bóng ma. Nhà văn đã để cho Tràng- nhân vật chính xuất hiện trong bối cảnh đó.
Tràng là dân ngụ cư, sống với mẹ già và làm nghề đẩy xe bò thuê. Vì nhà nghèo, ước mơ lấy vợ với Tràng là rất xa vời, nó cứ chấp chới ngoài tầm tay của Tràng.
- Tràng cùng với mẹ là dân ngụ cư nên lúc bấy giờ bị xã hội luôn coi rẻ, như thân phận của con ong, cái kiến, như 1 thứ cỏ bồng của hương thôn. Cùng với ngoại hình xấu, cuộc đời lam lũ khiến cho nỗi khát khao hạnh phúc của anh trở thành vô vọng. Hai mẹ con cứ thế âm thầm, nhẫn nhục, lép vế, chịu đựng nỗi đau của kiếp người nghèo khổ và tội nghiệp.
b. Tên, ngoại hình, phẩm chất
Tràng cũng là tên một loại dụng cụ của người làm thợ mộc, phần nào nói lên cái cực khổ, lam lũ, bần hàn trong số phận của anh.
- Tràng qua miêu tả của Kim Lân như "kết tinh cái phần thiên nhiên hoang dã trong con người", là 1 thanh niên nghèo khổ, khù khờ, cục mịch và thô kệch: "Mỗi buổi chiều, sau khi đi làm về, hai con mắt nhỏ tí, gà gà đắm vào bóng chiều. Hai quai hàm thì bạnh ra, rung rinh làm cho cái bộ mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lí thú, vừa dữ dội."
c. Diễn biến tâm lí
Nếu như tác phẩm của Ngô Tất Tố là tiếng kêu cứu đói; tác phẩm của Nam Cao là tiếng kêu cứu lấy nhân cách đang bị tha hóa thì ở "Vợ nhặt" của Kim Lân đó là tiếng lòng của nhà văn nhân đạo chủ nghĩa lớn luôn chan chứa tình yêu với nông thôn đồng ruộng và những kiếp người nghèo khổ trước Cách mạng tháng Tám lúc bấy giờ.
Với bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, với trái tim giàu lòng nhân ái, Kim Lân đã tìm được 1 cơ hội vô song để thể hiện sự bất diệt của nỗi khát khao được yêu thương, hạnh phúc và niềm hi vọng vào ngày mai tươi sáng hơn của những con người "dưới đáy xã hội" đó là anh Tràng "nhặt" được vợ.
- Lần thứ nhất:
Thật ra lúc đầu Tràng chỉ đùa cho vui, không chủ tâm tìm vợ. Tràng cũng thừa biết người như hắn thì không thể có vợ. Khi đẩy xe bò mệt mỏi anh chỉ hò một câu cho vui "Muốn ăn cơm trắng mấy giò này/Lại đây mà đẩy xe bò với anh nì". Tràng chỉ muốn hò để xua đi mỏi mệt trong người. Anh cũng chẳng có ý chòng ghẹo ai cả. Ai ngờ có người đàn bà đói xông xáo đến đẩy xe thật. Nhưng Tràng cảm thấy hạnh phúc biết bao khi gặp được cái "cười tít mắt của thị" bởi "từ xưa đến giờ có ai cười với hắn một cách tình tứ như vậy đâu". Lần đầu, ấn tượng với thị của Tràng chỉ có thế.
- Lần thứ hai:
Tràng gặp lại thì thị chạy đến sưng sỉa và đòi ăn bánh đúc cho bằng được. Ăn xong bánh đúc Tràng nói đùa thì không ngờ thị lại về thật. Ngay lập tức, anh vui vẻ đồng ý. Thật xưa nay, chưa có ai lấy vợ nhanh như Tràng, lấy vợ mà chỉ bằng dăm ba câu bông đùa và 4 bát bánh đúc hệt như trong truyện cổ tích.
- Niềm khao khát hạnh phúc đã khiến anh Tràng ra một quyết định rất liều lĩnh nhưng được đền đáp rất xứng đáng. Lúc đầu Tràng chợn nghĩ, thóc gạo đến cái thân mình có nuôi nói không lại còn đèo bồng. Sau hồi nghĩ, Tràng lại tặc lưỡi: "Chậc, kệ". Đây không phải là một sự liều lĩnh mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận như để thách thức với cái đói, để được sống cuộc sống đầy đủ như người bình thường.
Cái đói đã bộc lộ sự hủy diệt kinh khủng nhất. Trong hoàn cảnh đó Kim Lân đã đặt vào một mối tình hết sức táo bạo. Khi cái dạ dày chưa no thì món quà kì diệu nhất tạo hoá ban tặng cho loài người là tình yêu tránh sao cho được cái nhìn méo mó.
→ Chao ôi, toàn là chuyện cười ra nước mắt, với 4 bát bánh đúc ngày đói đã làm nên một mối tình, nồi cháo cám ngày đói cũng làm nên cỗ tân hôn. Kim Lân không né tránh hiện thực mà theo đuổi hiện thực nó tới cùng, tạo cho truyện một cái phong đặc biệt ảm đạm, nhàu nát, tăm tối và có thể nói là có phần nghiệt ngã. Sự gặp gỡ đã tạo nên một cuộc tình kì lạ, niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc được nhen nhóm lên trên bờ vực của cái đói, cái chết. Cũng giống như đoạn tình cảm giữa người với người trong truyện ngắn "Tình người" của Phan Du, khi cụ ông siết tay cậu bé mồ côi Thuận trong cái nghèo, cái đói, và sự cô độc ấy, hai mảnh đời lại tìm thấy hơi ấm sưởi nóng cõi lòng đã sớm giá lạnh của mỗi người.
- Một người đàn bà đã bước vào cuộc đời của Tràng, đó là sự kiện lớn nhất trong đời, làm cho anh không còn mang thân phận tủi buồn của 1 thứ cỏ rác ở chốn làng thôn. Đó là lúc anh gò lưng kéo xe thóc vào tỉnh thì anh buông 1 câu hò "tầm phơ, tầm phào" cho đỡ mệt nhưng một người đàn bà lại bám lấy, chạy theo đẩy xe bò và đòi ăn bánh đúc, ngay lập tức được Tràng chấp nhận. Trong văn chương, người ta nhấn mạnh chữ Tâm hơn chữ tài, song nếu cái Tài không đạt đến một mức độ nào đó thì cái Tâm kia sao bộc lộ ra được. "Vợ nhặt" cũng thế, tấm lòng tha thiết của Kim Lân sở dĩ lay động được lòng người trước hết là nhờ tài dựng truyện và sau đó là nghệ thuật xây dựng và miêu tả tâm lí nhân vật.
Hạnh phúc thật sự đến với những người dũng cảm và Tràng đã được toại nguyện. Cái đói, cái chết vẫn còn lởn vởn ở ngoài kia nhưng sự đổi đời, đổi kiếp đã diễn ra trong tâm hồn Tràng rồi.
- Trên đường dẫn thị về nhà Tràng phấn chấn, tự đắc lắm: "mặt hắn có 1 vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười nụ 1 mình và 2 mắt thì sáng lên lấp lánh"; "Trong 1 lúc Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề hàng ngày, quên hết cả những cái đói khát đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mắt, trong lòng hắn bây giờ chỉ còn hắn tình nghĩa với người phụ nữ đi bên". Thị tỏ ra e thẹn, ngượng ngùng thì hắn tỏ ra thích chí, tự đắc. Cái hạnh phúc được yêu thương thật là vô giá, nó mạnh hơn cả sự đe dọa của cái đói và cái chết, nó có thể làm thay đổi con người. Tràng đã có được cái hãnh diện mà trước kia anh chưa từng có, cái hãnh diện được làm người chồng.
Lấy nhau chẳng phải vì tình, lại "nhặt vợ" 1 cách dễ dàng như thế nhưng Tràng lại không coi thường vợ mình, anh muốn làm cho người vợ mới được vui nên có ý thức chăm nom thị ngay: Đưa thị ra chợ mua thêm cái thúng con đựng đồ lặt vặt, đánh một bữa cơm no nê rồi đẩy xe bò cùng về. Người phụ nữa đi sau khép nép, ngại ngùng bao nhiêu thì hắn lại sung sướng, tự đắc, thích chí bấy nhiêu. Đó là ánh mắt nụ cười của con người đang sống trong cảm giác hạnh phúc. Lần đầu tiên đi bên cạnh người đàn bà, Tràng lấy làm hãnh diện vô cùng, muốn nói một câu cho thật tình tứ nhưng chẳng biết nói thế nào thành ra những câu đối đáp với vợ trở nên cộc lốc, nhát gừng, rời rạc, bởi hạnh phúc đến với Tràng quá bất ngờ. Tràng đã sống trong cảm giác hạnh phúc: "mặt hắn có một vẻ gì phớn phở". Kim Lân đã chọn được một từ chân quê nhưng rất chính xác "phớn phở" để diễn tả tâm trạng sung sướng, hồ hởi, hân hoan được biểu lộ ra ngoài gương mặt nhân vật.
Về tới xóm ngụ cư:
Khi chứng kiến hình ảnh những người dân ngụ cư tò mò quan sát sự xuất hiện của mình với người đàn bà lạ, Tràng lấy vậy làm thích ý lắm, cái mặt cứ "vênh vênh tự đắc". Càng về gần nhà thì dường như chất men tình say sưa trong Tràng càng ngấm nhiều hơn và trở thành cái nghĩa tình hết sức thấm thía: "Trong một lúc, hình như Tràng quên hết những cảnh sống khổ cực, ê chề. Trong lòng hắn lúc đó chỉ còn lại cái nghĩa tình giữa hắn và người đàn bà đang đi bên cạnh. Có cái gì mới mẻ, lạ lắm "ở người đàn ông nghèo khổ này". Cũng trên đường về nhà, hình tượng Tràng cũng được nhà văn Kim Lân khắc họa rất chân thực, người đàn ông ấy hình như cũng có cái nhìn bối rối khi thấy người dân xóm ngụ cư quan tâm.
- Khi dẫn thị vào nhà gặp mẹ:
Bắt đầu là "xăm xăm bước vào trong nhà", dọn dẹp sơ qua, thanh minh về cảnh nhà bừa bộn vì thiếu tay đàn bà. Rồi Tràng thấy ngượng nghịu "đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc", chợt thấy sờ sợ, anh lấm lét bước vội ra sân, sốt ruột mong mẹ về. Khi thấy mẹ về, Tràng "reo lên như một đứa trẻ", trịnh trọng mời mẹ vào nhà, trình bày mộc mạc câu chuyện lấy vợ đặc biệt của mình và xin ý kiến mẹ. Tràng là người rất lễ nghĩa, ai dám bảo cái nghèo, cái đói sẽ tiêu diệt được đạo lí của con người. Khi bà mẹ tỏ ý "mừng lòng", anh thở phào nhẹ nhõm "bước từng bước dài ra sân". → Anh chàng cục mịch, khù khờ có ai ngờ bây giờ thật sự hạnh phúc, hạnh phúc quá lớn, quá đột ngột, khiến anh hết đỗi ngỡ ngàng rồi nhanh chóng được đẩy thành niềm vui hữu hình cụ thể-niềm vui hạnh phúc gia đình nhưng lớn lao không thể nào tả nổi.
- Sáng hôm sau:
+ Khi mặt trời lên bằng con sào thì Tràng mới trở dậy và thấy cuộc đời mình từ đây đã thay đổi hẳn. Tràng cảm thấy: "Trong người êm ái lửng lơ như từ trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như không phải". Tràng ngạc nhiên vì nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, mẹ và vợ đang dọn dẹp sân vườn. Từ giây phút này, Tràng đã có một gia đình mới với bao đổi thay từ những thành viên trong gia đình. Có vợ, nhân cách của Tràng cũng hoàn thiện hơn, anh bỗng thấy yêu thương, gắn bó với cái nhà của mình hơn: "Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này". Hắn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. (Điều này thì Tràng của Kim Lân còn may mắn hơn Chí Phèo của Nam Cao rất nhiều vì hạnh phúc đã nằm gọn trong tầm tay còn hạnh phúc của Chí Phèo thì bị xã hội vô nhân đạo cướp mất).
+ Chi tiết rất đắt của Kim Lân: "Hắn xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn làm 1 việc gì đó để dự phần tu sửa lại căn nhà". So với cái dáng "ngật ngưỡng" của anh đầu tác phẩm thì hành động này là 1 đột biến quan trọng, 1 bước ngoặt thay đổi cả số phận lẫn tính cách của Tràng: Từ đau khổ sang hạnh phúc, từ chán đời sang yêu đời, từ ngây dại sang ý thức.
- Trong bữa ăn sáng:
+ Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn mà là 1 nhà văn hiện thực, cố theo đuổi chủ nghĩa hiện thực cho đến cùng. Tâm hồn của Tràng thực sự đã phục sinh từ 1 chàng nông dân nghèo, thế rồi niềm hạnh phúc nhỏ nhoi, tội nghiệp ấy vừa ánh lên lại lập tức bị đe dọa bởi miếng cháo cám, mặn chát, nghẹn bứ trong cổ của tràng là hiện thực của cái đói, cái chết đang bủa vây và rình rập xung quanh.
+ Kim Lân rất tinh tế để cho từ cõi sâu tâm tư của Tràng nảy mầm khao khát và gìn giữ hạnh phúc hiện hữu và ước mơ đổi đời. Ngày xưa Tràng cục mịch, vô tư, chỉ biết đến việc trước mắt thì bây giờ lại biết quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội và khao khát sự đổi đời. Chi tiết lá cờ đỏ là tín hiệu của sự đổi đời, Tràng tiếp tục hướng về phía Cách mạng, về phía cuộc sống. Lá cờ đỏ gợi đến 1 sự thanh toán triệt để ở Tràng - một số phận bế tắc kiểu anh Pha, chị Dậu, Chí Phèo...Chi tiết này không phải là 1 ước mơ viển vông, một ảo tưởng mà cổ tích mà có cơ sở chắc chắn từ trong hiện thực cuộc sống.
Vậy là cuối cùng cuộc sống gia đình thực sự đã đến với Tràng - người đàn ông thô kệch, nghèo khổ, giữa cơn đói khát, bên bờ vực của cái chết. Có một câu chuyện cổ tích được viết giữa đời thường, giữa những ngày đói khủng khiếp 1945. Chính vẻ đẹp lung linh tỏa sáng của tình người đã gắn kết họ với nhau, sống nhân ái, chan hòa, hạnh phúc và nghĩ về tương lai với bao niềm tin, hi vọng. Bởi như lời của vợ Tràng "Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang, người ta không chịu đóng thuế nữa đâu" và Tràng nghĩ đến những người đi phá kho thóc của Nhật với lá cờ đỏ bay phấp phới, mở đường đến một chân trời
mới.
3. Nhân vật người vợ nhặt - nạn nhân của nạn đói có lòng ham sống mãnh liệt
Khắp đường xá những xác đói rên nằm
Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp,
Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hổ mắt
Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma;
Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa
Như muốn bắt những gì vô ảnh.
Những câu thơ thi sĩ Bàng Bá Lân ghi lại cảnh chết đói năm Ất Dậu 1945 thực sự kinh hoàng, khủng khiếp, rùng rợn. Suốt chiều dài lịch sử, chưa bao giờ dân tộc Việt Nam phải chịu một tai họa thảm khốc, đau đớn đến như vậy. Trong sự tận cùng của những năm tháng đau thương, mất mát ấy, Kim Lân đã để lại cho đời tác phẩm "Vợ nhặt" - một áng văn nóng hực thiện thực thời đại của một nhân cách và tài năng lớn.
a. Lai lịch, xuất thân
- Tác phẩm của Kim Lân tập trung xung quanh câu chuyện của ba người trong 1 gia đình ở xóm ngụ cư. Lạ thay, thị là người phụ nữ không tên không tuổi, không quê hương, không quá khứ đại diện cho triệu triệu phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ trong xã hội cũ. Xuất thân, tương lai mù mịt để rồi sau đó trở thành người vợ của Tràng.
- Trong nạn đói năm Ất Dậu (1945), có vô vàn những cô gái như thị bị cái đói dứt ra khỏi cái tổ ám của mình và quê hương bản quán, bị cái đói xua đi lang thang trên những nẻo đường đói khát. Thị cũng giống như vô vàn người phụ nữ khác, phải tha phương cầu thực, nay đây mai đó. Thị cũng giống như bao người phụ nữ khác, ngày qua ngày cứ ngồi vêu mặt ra ở cửa nhà kho chờ nhặt hạt rơi, hạt vãi, xem có mướn làm thuê gì không.
b. Tên, ngoại hình, phẩm chất
- Người đàn bà làm nên chính cái tên của truyện lại không có tên, không có tuổi và mãi đến những dòng cuối của tác phẩm tác giả vẫn kiên quyết giấu tên. Không phải là nhà văn nghèo ngôn ngữ đến độ không thể đặt cho thị một cái tên mà bởi vì ngay từ đầu nhà văn đã chủ định gọi bằng một cái tên phiếm chỉ như vậy. Thị là cánh bèo nổi trôi trong nạn đói, là cành củi khô trôi dạt vào cuộc đời Tràng, là người đàn bà vô danh. Từ đầu đến cuối tác phẩm, nhân vật này chỉ được gọi là "cô ả", "thị", "người đàn bà", "nàng dâu mới", "nhà tôi". Nhưng nhân vật này để lại cho người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc.
Thị xuất hiện lần đầu tiên vừa bằng ngoại hình vừa bằng tính cách của một con người năm đói với tất cả nỗi đau khổ, tủi hờn: Thị ngồi lẫn trong đám con gái chờ nhặt hạt rơi hạt vãi trước cổng chợ tỉnh. Khi nghe Tràng hò một câu chơi cho đỡ nhọc: "Muốn ăn cơm trắng mấy giò/Lại đây mà đẩy xe bò với anh", thị: "ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng...cười tít mắt". Thị đẩy xe với hi vọng được ăn nên cũng rất nhiệt tình và chẳng cần ý tứ.
- Lần thứ hai, thị xuất hiện với ngoại hình kém hấp dẫn: Đó là người phụ nữ gầy yếu và "áo quần tả tơi như tổ đỉa", "khuôn mặt lưỡi cày xám xịt" nổi bật với "hai con mắt trũng hoáy".
c. Diễn biến tâm lí
- Từ con số "0" tròn trĩnh, nhờ sự cưu mang những người cùng cảnh ngộ, thị đã được đón nhận trong cuộc đời.
- Khi mới gặp: Thị trơ tráo, đanh đá tới mức trơ trẽn khi nghe câu hò của Tràng thì "cong cớn" dò hỏi rồi bám lấy, "lon ton chạy đi đẩy xe" cho Tràng. Cái đói đã làm cho thị vô duyên tới mức đòi hỏi, thị liếc mắt, cười tít.
- Lần thứ 2 gặp Tràng:
+ Có thể nói, cái đói đã khiến thị càng nhếch nhác, tội nghiệp lại càng nhếch nhác, tội nghiệp hơn nữa. Giờ đây thị "áo quần tả tơi như tổ đỉa", "khuôn mặt lưỡi cày xám xịt" giờ chỉ còn hai con mắt thật thảm thương. Và nạn đói trong những năm tháng khủng khiếp đó cũng đã đi vào trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài. Trong "Chuyện cũ Hà Nội", đó là cái đói hành hạ Vinh đến nỗi con mắt thì xanh, tay chân, khẳng khiu, xám ngắt.
+Cái đói không chỉ tàn hại dung nhan của thị mà còn tàn hại cả tính cách, nhân phẩm. Vì đói mà thị trở nên: "chao chát","chỏng lỏn", chua ngoa, đanh đá". Thị "cong cớn", "sưng sỉa" khi giao tiếp, nói chuyện. Cái đói khiến thị quên cả việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng của người con gái. Thị cứ thế mà đòi ăn. Được cho ăn, thị sẵn sàng: "sà xuống cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì". Thị đã đặt sự tồn tại của mình, đặt miếng ăn lên trên nhân cách.
+ Vẫn là điệu bộ cong cớn ấy, lần này thị đòi ăn bánh đúc chứ không phải là ăn trầu nên đã sẵn sàng đi theo một người đàn ông. Kim Lân hiện thực biết bao nhưng mà cũng nhân đạo biết bao khi miêu tả người phụ nữ đói khát có 1 chút lẳng lơ, sưng sỉa, trơ trên nhưng không hề nanh nọc, có 1 chút cong cớn nhưng không làm người đọc khinh ghét. Trái lại, dưới ngòi bút của Kim Lân, cô gái ấy hiện lên thật đáng thương và tội nghiệp.
- Miêu tả thị ăn bánh đúc:
Nỗi đói khát đã làm cho thị liều lĩnh, vì đói mà thị quên cả sĩ diện. Khi được Tràng nổi hứng mời ăn, thị quên mất hét cả ý tứ, hai con mắt trũng hoáy sáng lên, thị đon đả: "Ăn thật nhá! Ừ thì ăn, sợ gì". Thị ngồi xuống ăn thật và chỉ trong 1 chập đã hết 4 bát bánh đúc mà không hề chuyện trò gì. Ở đây Kim Lân đã giấu kín thái độ của mình để đưa lên cận cảnh 1 nỗi thương tâm khiến bao con người nhân hậu đọc thấy cảnh này phải ứa nước mắt.
Có người cho rằng, người đâu mà thô tục vì miếng ăn mà vứt cả sĩ diện, danh dự. Nhưng tình thế đã đặt thị trước 1 sự lựa chọn, hoặc là chết đói để bảo toàn danh dự, sĩ diện; hai là vứt luôn danh dự, sĩ diện để ăn mà sống. Tất nhiên, thị đã chọn cách thứ 2. Thị dễ dàng, hời hợt thế ư? Thị không hề mà thực ra hành động theo Tràng của thị xuất phát từ nhu cầu bám lấy sự sống, từ lòng khao khát được sống. Thị bất chấp tất cả để được ăn, ăn để được tồn tại. Nói như Kim Lân: "Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai".
Kim Lân miêu tả thị trong cách thức ăn để được sống này thật là độc nhất, vô nhị: Con người trong cái đói khó có thể giữ được bản chất của mình, "Có thực mới vực được đạo". Và cái đói khủng khiếp đó chúng ta còn bắt gặp trong "Một đám cưới", "Một bữa no" (Nam Cao); "Chuyện cũ Hà Nội", "Chết đói" (Tô Hoài). Nạn đói dai dẳng, ám ảnh Tô Hoài khiến mấy chục năm sau nhà văn lão thành vẫn thấy rùng mình: "Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy".
Rải bên đường những nấm mộ âm thầm
Được đánh dấu bằng ruồi xanh cỏ tốt.
Có nấm mộ quá nông trơ hài cốt,
Mùi hôi tanh nồng nặc khắp không gian.
Sau vài trận mưa nước xối chan chan,
Ôi, thịt rữa xương tàn phơi rải rác!
("Đói" - Bàng Bá Lân)
→ Cái đói có thể lấn lướt ý thức, nhân phẩm của con người ở một khoảnh khắc nào đó nhưng vính viễn không thể cướp đi được những tâm hồn, lương tri Việt, của ánh sáng đạo nghĩa, lương tri. Ngòi bút kiệm chữ, những câu văn mộc mạc, kiệm lời của Kim Lân đã diễn tả sự thay đổi ở người Việt Nam rất tinh tế. Vì đói khát, cô bám lấy Tràng như bám lấy sự sống.
- Trên đường về nhà chồng Tâm trạng của thị có sự thay đổi rõ nét. Nếu như anh cu Tràng sung sướng, tự mãn, cái mặt vênh lên tự đắc với mình thì người đàn bà lại cảm thấy xấu hổ. Trước cái nhìn "săm soi", trước những lời bông đùa, chòng ghẹo của người dân ngụ cư. Thị ngượng nghịu, thiếu tự tin: "chân nọ bước díu cả vào chân kia...cái nón rách tàng che nửa khuôn mặt". Đó phải chăng là vẻ đẹp của cô dâu về nhà chồng. Đây mới là tính cách thực của thị, một người đàn bà thuần hậu và nhu mì.
- Về đến nhà chồng:
+ Nếu như trước kia thị chao chát, chỏng lỏn bao nhiêu thì bây giờ thị hiền hậu, đúng mực bấy nhiêu, nhìn thấy "ngôi nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại", thị "nén một tiếng thở dài". Đây là tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng nhưng cũng là sự chấp nhận. Ai ngờ cái phao mà thị vừa bám vào lại là một chiếc phao rách. Trong tiếng thở dài đó vừa có sự lo lắng cho tương lai ngày mai, vừa có cả những lo toan và trách nhiệm của thị về gia cảnh nhà chồng. Đó phải chăng là thị đã ý thức được trách của mình đối với việc cùng chồng chung tay gây dựng gia đình. Tấm lòng của thị thật đáng quý biết bao.
+ Vào trong nhà, thị e thẹn, dè dặt "ngồi mớm" vào mép giường. Thị ý tứ, cung kính, lễ phép chào bà cụ Tứ đến hai lần. Đây là hình ảnh đẹp của người con dâu rất mực thước trong quan hệ với mẹ chồng. Khi Tràng thưa chuyện với mẹ, thị chỉ biết "đứng vân vê tà áo đã rách bợt".
→ Thị theo Tràng về nhà làm vợ chưa chắc thoát khỏi cảnh đói khát nhưng thị được cái quý hơn miếng cơm, manh áo đó là tình thương. Chỉ có tình thương giành cho nhau mới làm cho con người ta sống được như con người. Và 1 cuộc sống mới đã đến với con người không tên ấy.
- Sau đêm tân hôn, sáng hôm sau: Người phụ nữ ấy có sự thay đổi hoàn toàn về tâm trạng và tính cách. Thị dậy rất sớm cùng mẹ chồng dọn dẹp, thu vén nhà cửa. Sự thay đổi ấy người đọc cũng dễ nhận ra: nếu hôm qua thị chua ngoa, đanh đá, chỏng lỏn bao nhiêu thì hôm nay thị lại hiền lành bấy nhiêu. Hơn ai hết, Tràng cảm nhận đầy đủ sự thay đổi tuyệt vời ấy: "Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu, đúng mực không còn vẻ gì chao chát, như những lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh". Câu văn này đã ghi lại cảm xúc chân thật của Tràng trước sự đổi thay tích cực của vợ. Phải chăng tình yêu đích thực với sức nhiệm màu diệu kì đã có sức cảm hóa với thị.
Trong bữa ăn sáng: Bữa cơm đầu tiên tại gia đình chồng, dù bữa ăn chỉ có "niêu cháo lõng bõng, mỗi người được lưng hai bát đã hết nhẵn", lại phải ăn cháo cám nhưng thị vẫn vui vẻ, bằng lòng. Thị đã đem sinh khí, thông tin mới mẻ về thời cuộc cho mẹ con Tràng. Nghe tiếng trống thúc thuế, thị nói với mẹ chồng: "Trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa đâu. Người ta còn phá cả kho thóc của Nhật chia cho người đói nữa đấy". Sự hiểu biết này của thị như đã giúp Tràng giác ngộ về con đường phía trước mà anh sẽ lựa chọn "trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói ầm ầm đi trên để Sộp, phía trước có lá cờ đỏ to lắm". Qua đó, ta thấy nhân vật vợ Tràng, "nàng dâu mới" cũng là Người truyền tin cách mạng.
→ Kim Lân bày tỏ tình cảm trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của người dân lao động nghèo. Giá trị của một con người trở nên rẻ rúng, người ta có thể nhặt được vợ, thậm chí có vợ theo. Nhưng con người Việt Nam dù trong hoàn cảnh nào họ cũng biết yêu thương, cưu mang, đùm bọc lẫn nhau để hướng về tương lai hi vọng, trông chờ.
Sinh thời, nhà văn Phan Du từng "tuyên ngôn" về nghề cầm bút: "Văn nghệ có thay đổi được thế giới này hay không đó là chuyện đang còn tranh luận. Nhưng điều hiển nhiên, không ai phủ nhận được, là văn nghệ có thể thay đổi tâm tính con người và thay đổi một cách sâu xa". Quả thật, đúng như vậy, bằng tài năng, tâm huyết và sứ mệnh của người cầm bút, qua nhân vật người vợ nhặt, Kim Lân đã đánh thức giấc mơ về sợ đổi đời, về tình yêu và hạnh phúc trong mỗi chúng ta dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Chính Thị đã thắp sáng lên niềm tin, hi vọng về cuộc sống hạnh phúc gia đình trong căn nhà tồi tàn, rúm ró ấy. Thị là hiện thân của khát vọng hạnh phúc gia đình và khát vọng sống mãnh liệt.
5. Nhân vật bà cụ Tứ-người mẹ bao dung, giàu đức hi sinh
Kim Lân được ví như một loại đồ cổ quý hiếm cất giữ trong đó là những hạt bụi vàng văn hóa thẳm sâu của nền văn minh sông Hồng. Ông trở thành nhà văn của những số phận thiệt thòi, những kiếp người cùng khổ của làng quê Việt Nam giữa thế kỉ XX. Các nhân vật của ông đều mang hình bóng của tác giả, là con người hiền hậu, chất phác và giàu yêu thương, tình nghĩa. Vợ Nhặt là một tác phẩm tiêu biểu của Kim Lân được in trong tập "Con chó xấu xí" năm 1962. Nhà văn đã dùng "Vợ nhặt" để làm cái đòn bẩy để nâng con người lên trong tình nhân ái. Câu chuyện "Vợ nhặt" đầy bóng tối nhưng từ trong đó đã lóe lên những tia sáng ấm lòng. Trong đó, nhân vật bà cụ Tứ tuy xuất hiện muộn nhưng lại là điểm tựa tinh thần cho cả gia đình Tràng. Kim Lân đã bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình - phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh nào thì con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn tin yêu nhau và hi vọng vào ngày mai.
a. Ngoại hình, phẩm chất:
Bà xuất hiện đầu ngõ với tiếng ho húng hắng, dáng đi lọng khọng, vừa đi vừa lầm bẩm tính toán trong miệng. Chân thật trong hình ảnh và chân thật trong từng chi tiết, Kim Lân dường như không kể mà dắt ta đến với bà cụ Tứ. Có biết bao nhiêu là thân thương, trìu mến. Ta gặp lại dáng hình gầy gầy, còng còng vì sương gió cuộc đời của người đàn bà quen thuộc, lam lũ.
b. Diễn biến tâm lí
Khi viết về bà cụ Tứ, nhà văn Kim Lân không có những nét hài hước như vợ chồng Tràng, mà ngòi bút thể hiện sự kính trọng tuổi già, thương cảm với nỗi đau đè nặng suốt cuộc đời dằng dặc của bà cụ. Đặc biệt nhà văn đi sâu phân tích tâm lý, tâm trạng và tấm lòng vô cùng đáng quý, đáng trọng của bà mẹ đối với những đứa con. Ông rất tinh tế trong việc quan sát và miêu tả tâm lý nhân vật. Khi viết về bà cụ Tứ, Kim Lân đặc biệt đi sâu phân tích tâm lý, tâm trạng và tấm lòng vô cùng đáng quý, đáng trọng của bà mẹ đối với những đứa con.
- Kim Lân từng tâm sự: "Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại truyện ngắn Vợ nhặt đó là đoạn bà cụ Tứ - mẹ Tràng trở về". Thông điệp nghệ thuật và giá trị nhân đạo của tác phẩm được ông thể hiện rất thành công qua diễn biến tâm trạng của người mẹ nghèo ấy khi nhìn thấy chị vợ nhặt xuất hiện trong nhà mình cho đến buổi sáng ngày hôm sau.
- Nếu diễn biến tâm trạng của Tràng và vợ Tràng được nhà văn miêu tả theo một đường thẳng thoáng lo âu buồn tủi rồi đi ngay đến niềm vui bất tận, hạnh phúc thì bà cụ Tứ được Kim Lân miêu tả tâm trạng gấp khúc, đan xen nhiều tâm trạng từ quá khứ đến hiện tại và hướng tới tương lai của một người mẹ nghèo khổ, từng trải.
Khởi đầu ở bà cụ Tứ thể hiện tâm trạng ngạc nhiên, ngỡ ngàng: Bà bật ra hàng loạt các câu hỏi khi thấy người đàn bà lạ ở trong nhà mình: "Người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào đứng ngay ở đầu giường con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u?...". Tràng phải giới thiệu tới lần thứ 2 thì bà mới hiểu ra cơ sự. Phải, bà làm sao ngờ được giữa năm đói, nhà lại nghèo mà con bà lại dẫn không về một người vợ! Cái sự việc con mình có vợ diễn ra quá bất ngờ, đột ngột đến nỗi bà không tin đó là sự thật. Sự ngạc nhiên này chính là nỗi đau của người viết, chính sự cùng quẫn này của hoàn cảnh đã làm cho người mẹ mất đi sự nhạy cảm đó.
- Băn khoãn mãi khi hiểu ra, "bà lão cúi đầu nín lặng", vừa "ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình". Thương con để rồi tủi phận mình. "Chao ôi, người ta đựng vợ gả chồng cho con là trong lúc nhà ăn nên làm nổi, còn mình thì..". Đọc những dòng này, ta có cảm giác như trái tim người mẹ trong cái thân hình còm cõi đang rung lên đau đớn, xót xa. Việc trọng đại trong đời con, lẽ ra "làm được dăm ba mâm cơm mới phải", nhưng "nhà mình nghèo quá", nên điều đó chỉ nằm trong suy nghĩ, không thực hiện được.
Bà cụ thương con, tủi phận rồi lại thương dâu. "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được ...". Vừa mừng tủi, vừa lo lắng, bà lo nỗi lo rất chính đáng của con người đã trải qua cuộc đời cực nhọc, đớn đau: "Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?". Khi đi từ lòng thương con trai sang lòng thương con dâu, ta thấy trong cái đầu im lặng của bà đã có sự tiếp nhận hạnh phúc của con bằng khả năng sống, bằng sự trả giá một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh.
- Bà đã chấp nhận nàng dâu không phải chỉ bằng tình mẫu tử mà lớn hơn đó là tình người, là sự cảm thông với chị vợ nhặt từ cái nhìn của người cùng giới, cùng là phụ nữ. Câu nói đầu tiên mà bà cụ Tứ dành cho chị vợ nhặt "Ừ thôi các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng", lời nói của bà như trút đi biết bao gánh nặng tâm trạng đang đè nặng trong Tràng, lời nói ấy như một sự chiêu tuyết cho giá trị của cô vợ nhặt. Bà động viên an ủi con trai và con dâu cùng nhau bước qua khó khăn đói khổ trước mắt mà lòng đầy thương xót.
- Nén nỗi lo trong lòng, bà cụ động viên, truyền dạy con cách làm ăn và phải biết tin tưởng vào tương lại "Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá...Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?...". Bà nói với con dâu bằng giọng của người từng trải-vừa lo lắng, vừa thương xót; "Năm nay thì đói to đây. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá.."; "bà nghẹn lời không nói được nữa...". Nhưng ta hiểu, người con dâu bà lúc này rất hiểu bà, thấy thân thiết gắn bó với bà, thực sự coi bà là mẹ. Và nghĩa là "đám cưới" đã xong. Chẳng lễ nghi, không đưa đón, tấm lòng chân thật, nhân hậu của người mẹ nghèo đã thay thế tất cả. Đến đây ta cứ liên tưởng tới mẹ chồng Dần trong "một đám cưới" của nhà văn Nam Cao.
- Bà cụ Tứ ngửi "mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết thoảng vào khét lẹt" mà "nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út", đến "cuộc đời cuộc đời cực khổ đằng dặc của mình" để rồi phấp phỏng lo lắng cho tương lai của con: "liệu chúng nó có hơn bố mẹ chúng nó trước kia không?". Bà khóc "Nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng". Những giọt nước mắt ấy đã nói lên tất cả tấm lòng chân thật của bà.
Tác giả phải có sự thấu hiểu, trân trọng đặc biệt, phải có vốn sống phong phú đến mức độ nào mới có thể diễn tả một cách chân thực, tài tình đến vậy. Vợ nhặt không còn là những trang văn, đó là những trang đời-những trang đời thâm đẫm những giọt nước mắt tủi cực, xót xa, phấp phỏng nổi lo cho tương lai và rạng rỡ trong trái tim người mẹ nghèo. Chân thực mà cũng thật cảm động, hình ảnh bà cụ Tứ không chỉ giúp ta chứng kiến diễn biến tinh tế của tâm tư mà con rung cảm sâu sắc trước tâm, trước tấm chân tình tha thiết của người mẹ.
- Trong bữa ăn sáng: Để ý ta sẽ thấy chính bà lão "gần đất xa trời" này lại là người nói đến niềm vui và tương lai nhiều hơn tất cả. Chính niềm tin và sức sống của bà đã tiếp thêm sức mạnh để người mẹ lo được một bữa cơm ngày đói đón nàng dâu mới mặc dù vô cùng thảm hại: Chỉ có một bát rau chuối thái rối, một dúm muối ăn với nồi cháo cám.
- Người đọc cười ra nước mắt trước sự hào hứng vui vẻ khi bà lão "lễ mễ" bưng nồi cháo cám "nghi ngút khói" lên nhà, đon đả tươi cười múc cho con và bảo: "Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem". Từ "ngon" qua câu chữ của Kim Lân ta cảm nhận được không phải là một cảm xúc về vật chất mà là cảm xúc về tinh thần. Tấm chân tình của người mẹ, chân tình ấy đã khiến bữa cháo thành bữa tiệc, khiến nồi cháo "chát xít, nghẹn bứ trong miệng mà ngon ngọt trong lòng".
- Bà cụ Tứ toàn nói chuyện của tương lai, toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Bà lão bàn với con tính chuyện nuôi gà, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ có cả một đàn gà lúc nhúc. Câu chuyện của bà lão bất giác làm cho ta nhớ lại bài ca dao miền Trung-mười cái trứng. Cũng giống như tất cả những người bình dân xưa, bà lão đang gieo vào lòng các con bà niềm lạc quan, niềm tin và hi vọng. Từ đàn gà mà có tất cả. Khát vọng sống bật lên ngay cả trong hoàn cảnh khốn cùng nhất "Chở than phận khó ai ơi - Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây".
- Dường như bà cố gắng xua đi cái không khí ảm đạm, cố gắng vượt lên hoàn cảnh bằng sự tươi tỉnh động viên con. Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy, ta biết lòng người mẹ đang thổn thức. Lòng người đọc cũng dâng lên bao xót xa...Nhưng Kim Lân không phải là một nhà văn lãng mạn nên niềm vui của bà cụ Tứ vẫn là niềm vui tội nghiệp bởi thực tại nghiệt ngã là nồi cháo cám "đắng chát"; niềm vui của bà lão là cái niềm vui không cất cánh lên được. Bởi, vẫn còn đó bát cháo cám, vẫn còn đó tiếng trống thúc thuế dồn dập khiến niềm vui không thể trọn vẹn... "Bà không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc" còn người đọc thì nhìn thấy rõ những giọt nước mắt trong lòng bà, thấy rõ những giọt nước mắt của Kim Lân khi viết những dòng này. Bằng tất cả sự nâng niu, trân trọng, Kim Lân đã để trái tim đập cùng một nhịp với trái tim người mẹ nông dân nghèo.
→ Với sự thấu hiểu, với sự đồng cảm, Kim Lân đã dựng lên hình ảnh bà cụ Tứ - người mẹ thương con, nhân hậu, bao dung. Trong hoàn cảnh đói nghèo, bà vẫn dang rộng cánh tay đón nhận người con dâu mặc dù trong lòng còn nhiều xót xa, tủi cực, vẫn gieo vào lòng các con ngọn lửa sống trong hoàn cảnh tối tăm của xã hội lúc bấy giờ. Hình ảnh bà cụ Tứ làm chúng ta nhớ đến hình ảnh người mẹ Phăng-tin có tình yêu thương con sâu sắc trong tác phẩm "Những người khốn khổ" của V.Huy-gô. Qua hình tượng bà cụ Tứ với biết bao tâm trạng đan xen trong tình huống "nhặt vợ" của con trai, Kim Lân đã khẳng định tình cảm thiết tha với những tấm lòng người mẹ, điều này khiến hình ảnh bà cụ Tứ trở nên chân thật và cảm động hơn bao giờ hết. Phải chặng chính người mẹ già ấy lại là ánh sáng xua tan đi cái bóng tối bi thảm của những kiếp đời nghèo khổ. Bà cụ Tứ đã trở thành biểu tượng đẹp cho tình mẫu tử ở trên đời đồng thời cũng hiện thân cho niềm khát vọng sống mãnh liệt.
4. Thành công về nghệ thuật
- Nhan đề và tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa sâu sắc.
Lối trần thuật tự nhiên, hấp dẫn làm nổi bật sự đối lập giữa hoàn cảnh và tính cách nhân
vật.
- Nhân vật được khắc hoạ sinh động đặc biệt là ngòi bút miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế.
- Ngôn ngữ: Bình dị, đời thường nhưng có chắt lọc kỹ lưỡng, có sức gợi và đậm chất Bắc Bộ.
→ "Trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khó nào người nông dân ngụ cư vẫn khao khát vươn lên trên cái chết, cái ảm đạm để mà vui, để mà hi vọng".
9. Ý nghĩa văn bản
- Tác phẩm là bức thông điệp mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Trong tiểu thuyết "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn Nga (Nhi-cô-lai-oxtơ-rộp-xki) đã để cho nhân vật Pa-ven của mình suy nghĩ: "Hãy biết sống ngay cả khi cuộc đời trở nên không chịu đựng được nữa".
- "Vợ nhặt" là bài ca về tình người ở những kẻ nghèo khổ đã "biết sống" cho ra người ngay giữa thời túng đói quay quắt. Và chính nhà văn Kim Lân cũng đã từng nói về truyện ngắn "Vợ nhặt": "Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà nghĩ đến cái sống".
Trên phông nền u ám của nạn đói,của cái chết của tiếng quạ kêu thê thiết với mùi đống dấm khét lẹt, Kim Lân vẫn pha vào đó chút sắc màu của hạnh phúc lứa đôi, lóe len hi vọng về một ngày mai tươi sáng, về sự thay đổi vận hội. Thông qua tình huống dở khóc dở cười trớ trêu đó, tác giả đã ngầm khẳng định một chân lý mà nhà văn Nguyễn Khải đã từng viết trong "Mùa lạc": "Sự sống nảy sinh từ trong lòng cái chết, hạnh phúc hiện hình từ ranh giới của gian khổ hi sinh. Ở đời này không có con đường cùng mà đây chỉ là những ranh giới. Điều cốt yếu là chúng ta phải chuẩn bị cho mình những sức mạnh để có thể vượt qua ranh giới ấy".
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com