Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

Vội Vàng

  II. THÂN BÀI
1. Khái quát: Bài thơ "Vội Vàng" nằm trong tập "Thơ Thơ", xuất bản năm 1938 là bài thơ tiêu biểu của tập thơ nói riêng, của hồn thơ Xuân Diệu nói chung. Cả bài thơ thể hiện một nhân sinh quan mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc. Thiên đường là ở ngay trên mặt đất. Vì vậy hãy yêu mến, hãy gắn bó và sống hết mình với cuộc sống thực tại đầy tươi vui này. Nó bộc lộ niềm ham sống, khát sống, tận hưởng đến vô biên và tuyệt đích của thi nhân:
"Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn
Làm dây đa quấn quít cả mình xuân
Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất"
2. Đoạn thơ mở đầu bằng bốn câu thơ ngũ ngôn chứa đựng những khát vọng mãnh liệt và táo bạo của thi nhân:
"Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi"
Bốn câu đầu có lẽ là độc đáo nhất trong bài thơ vì chỉ riêng nó là thể ngũ ngôn. Nó là thể thơ phù hợp cho việc thể hiện những cảm xúc vồ vập của Xuân Diệu bởi câu thơ ngắn lại giàu nhịp điệu. Điệp ngữ "tôi muốn" được nhắc lại hai lần cùng với đó là hai động từ mạnh "tắt, buộc" đã làm nổi bật khao khát của nhà thơ. Đó là khao khát "tăt nắng, buộc gió" để giữ lại màu hoa "Cho màu đừng nhạt mất" để giữ lại sắc hương " cho hương đừng bay đi". Đó là khát vọng chiếm đoạt quyền năng của tạo hóa để buộc hương hoa tươi thắm mãi bên đời. Ngông cuồng hơn cả là nhà thơ muốn vũ trụ ngừng quay, thời gian dừng lại để thi nhân tận hưởng được những phút giây tuổi trẻ của đời mình. Bởi nhà thơ sợ" tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại", sợ "đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn". Suy cho cùng khát vọng ấy của Xuân Diệu thật ngông cuồng nhưng cũng rất hợp lí.
3. Bảy câu thơ tiếp theo, với tâm hồn khát sống, khát yêu, tận hiến, tận hưởng và khát khao giao cảm mãnh liệt, Xuân Diệu đã khám phá ra vẻ đẹp xuân tươi phơi phới, đầy tình tứ ở những cảnh vật thiên nhiên quen thuộc quanh ta:
"Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"
Bảy câu thơ trên là một bước tranh thiên nhiên mùa xuân được vẽ nên bằng một hồn thơ có "Cặp mắt xanh non biếc rờn". Cảnh vật đang vào độ thanh tân, diễm lệ. Bức tranh hội tụ đầy đủ hương thơm, ánh sáng và màu sắc, âm thanh ( đây chính là phép tương giao giữa các giác quan mà Xuân Diệu học được ở thơ ca phương Tây). Cảnh vật hiện lên đều có đôi, có cặp:" Ong bướm- tuần tháng mật" ;"Hoa- đồng nội xanh rì" ;" lá- cành tơ" ;" yến anh- khúc tình si";...
Điệp ngữ "này đây" được nhắc lại nhiều lần. Từ "này đây" lại là từ chỉ trỏ. Xuân Diệu như đang đứng trước bức tranh và liệt kê cho ta thấy vẻ đẹp tươi non, nõn nà của mùa xuân. Thi sĩ như uốn nói với chúng ta rằng: "Sao người ta cứ phải đi tìm chốn Bồng Lai Tiên Cảnh ở mãi chốn mông lung hão huyền nào? Nó ở ngay giữa cuộc sống quanh ta". Thiên nhiên như một bữa tiệc trần gian đầy những thực đơn quyến rũ: Ở đó có cảnh ong đưa và bướm lượn, tình tứ ngọt ngào như "tuần tháng mật". Màu hoa trở nên thắm sắc ngát hương hơn "giữa đồng nội xanh rì". Cây cối nảy lộc đâm chồi tạo nên những "cành tơ" với những chiếc lá tươi non phất phơ tình tứ. Điểm vào phong cảnh ấy là tiếng hót đắm say của loài chim yến anh đã tạo nên "khúc tình si" say đắm lòng người.
Cặp mắt "xanh non biếc rờn" của Xuân Diệu còn mang đến cho người đọc một nguồn năng lượng mới từ mùa xuân: "Và này đây ánh sáng chớp hàng mi/ Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa". Ánh sáng buổi sớm mai như phát ra từ cặp mắt đẹp vô cùng của nàng công chúa có tên là Bình Minh. Nàng vừa tỉnh giấc nồng suốt một đêm qua, mắt chớp chớp hàng mi rồi bừng nở ra muôn vàn hào quang. Chính ánh sáng ấy đã tưới lên cảnh vật càng làm cho bức tranh thiên nhiên giống như một nguồn nhựa sống chảy dào dạt xung quanh cuộc sống của con người. Thế mới hiểu những khao khát của Xuân Diệu là đúng:
"Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần
Chân hóa rễ để hút mùa dưới đất"
Hoặc có khi ông khao khát đến cháy bỏng:
"Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hai tay chín móng bám vào đời"
Xuân Diệu đã kết lại bức tranh mùa xuân bằng một câu thơ đầy gợi cảm "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Đây là một cách so sánh đầy gợi cảm, có một chút nhục cảm. Tháng giêng thanh tân, diễm lệ, đầy ánh sáng, màu sắc, âm thanh và hương thơm trờ thành "cặp môi gần" rất "ngon, ngọt" của người tình nhân. Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm. Tuổi trẻ là tuổi đẹp nhất của đời người. Và chắc chắn phần ngon nhất của người thiếu nữ là bờ môi chín mọng kia.
Ở đây, trong sự so sánh giữa thiên nhiên và con người, Xuân Diệu đã mang đến cho người đọc một quan niệm nghệ thuật về con người rất mới mẻ. Thơ ca cổ điển thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho cái đẹp. Mọi cái đẹp trong vũ trụ phải đem so sánh với cái đẹp của thiên nhiên. Bởi vậy khi miêu tả nét đẹp của Thúy Vân, Nguyễn Du đã lồng vào biết bao nhiêu cái đẹp của thiên nhiên:
"Vân xem trang trọng khác vời/Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang/Hoa cười ngọc thốt đoan trang/ Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da". Còn Xuân Diệu đưa ra một tiêu chuẩn khác: con người mới là chuẩn mực của cái đẹp trong vũ trụ này. Bởi con người là tác phẩm kì diệu nhất của tạo hóa. Nên mọi vẻ đẹp trong vũ trụ phải đem so sánh với vẻ đẹp của con người. Quan niệm nghệ thuật này là một đóng góp mới mẻ của
4. Hai câu thơ cuối là tâm trạng của nhân vật trữ tình:
"Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân"
Trong một câu thơ mà thi sĩ có hai tâm trạng "Tôi sung sướng" - "Nhưng vội vàng một nửa". Dấu chấm ở giữa câu đã phân tách nhà thơ thành hai nửa: nửa sung sướng và nửa vội vàng. Tâm trạng "sung sướng" là tâm trạng: " hạnh phúc, lạc quan, yêu đời, tươi vui đón nhận cuộc sống bằng tình cảm trìu mến, thiết tha gắn bó. Còn "vội vàng" là tâm trạng tiếc nuối bởi nhà thơ sợ tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới. Vì thế dù đang sống trong mùa xuân nhưng thi nhân đã cảm thấy tiếc nuối mùa xuân ngay khi đang ở trong mùa xuân "Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân".
5. Tổng kết nghệ thuật: Đoạn thơ để lại dấu ấn nghệ thuật sâu sắc. Thể thơ tự do, sử dụng nhiều điệp ngữ, điệp từ, so sánh ẩn dụ... Ngôn ngữ thơ chọn lọc. Tất cả đã tạo nên một đoạn thơ hay mang đậm phong cách thơ Xuân Diệu.
III. KẾT BÀI
Tóm lại, đoạn thơ ta vừa phân tích ở trên là đoạn thơ hay nhất trong bài thơ "Vội vàng". Bằng ngôn ngữ rất đỗi Tây phương, nhưng tình cảm của nhân vật trữ tình lại rất gần gũi, thân quen. Xuân Diệu đã mang đến cho người đọc một giọng thơ lạ, một cách cảm nhận về mùa xuân rất đỗi nồng nàn. Qua đó thấy được lòng yêu đời và khát vọng sống mãnh liệt của thi nhân. Đúng như nhà phê bình Thế Lữ đã nhận xét "Như một tấm lòng sẵn sàng ân ái, Xuân Diệu dang tay chào đón nhựa sống rào rạt của cuộc đời".  

1. Về tác giả và thời điểm ra đời của tác phẩm

Xuân Diệu được coi là " nhà thơ mới nhất trong phong trào Thơ Mới" (Hoài Thanh) do chỗ ông hiện diện như một cái Tôi tự ý thức sâu sắc nhất mang đến một quan niệm hiện đại về nhân sinh trong việc đề cao lối sống cao độ giao cảm tận hiến và một quan niệm hiện đại về thẩm mĩ : lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp thay vì lấy thiên nhiên như trong văn học trung đại.

Thi sĩ được giới trẻ tấn phong là " ông hoàng của thơ tình yêu" bởi đã đem vào thơ tình một quan niệm đầy đủ toàn diện một cách thể hiện mới mẻ phong phú đặc biệt là sự diễn đạt chân thực và táo bạo về tình yêu.

Xuân Diệu còn là một cây bút có nhiều tìm tòi cách tân trong nghệ thuật ngôn từ : lối diễn đạt chính xác những thông tin cụ thể tỉ mỉ mang tính vi lượng thơ giàu nhạc tính và sự sáng tạo trong việc sự dụng những cách nói mới nhờ phát huy triệt để năng lực cảm nhận của các giác quan.

Xuân Diệu hấp dẫn bởi một phong cách nghệ thuật độc đáo với ba đặc điểm chính:

- Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian

- Một trái tim luôn hướng đến mùa xuân tuổi trẻ tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời yêu sống cuồng nhiệt sôi nổi.

- Một nghệ sĩ học tập nhiều ở cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói để hiện đại hoá thơ Việt.

Bài thơ Vội vàng được sáng tác năm 1938 in trong tập Thơ thơ thi phẩm đầu tay và ngay lập tức vinh danh Xuân Diệu như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ Mới.

2. Tri thức văn hoá

Vội vàng và nhiều bài thơ khác của Xuân Diệu thường gây ấn tượng với công chúng bởi những lời kêu gọi kiểu : Nhanh với chứ với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em em ơi! Tình non sắp già rồi! hoặc Gấp lên em! Anh rất sợ ngày mai! Đời trôi chảy tình ta không vĩnh viễn!

Khi thi nhân cất cao những lời kêu gọi : Mau lên thôi! Nhanh với chứ! Vội vàng lên! mà Hoài Thanh từng nhận xét một cách hóm hỉnh "là đã làm vang động chốn nước non lặng lẽ" thì không có nghĩa là anh ta đang tuyên truyền cho một triết lý sống gấp từng bị coi là lai căng và vẫn bị đặt dưới một cái nhìn không mấy thiện cảm của người phương Đông một xứ sở vẫn chuộng lối sống khoan hoà chậm rãi.

Cần phải thấy rằng bước vào thời hiện đại sự bùng nổ của ý thức cá nhân đã kéo theo những thay đổi trong quan niệm sống và đánh thức một nhu cầu tự nhiên là cần phải thay đổi điệu sống. Ý thức xác lập một cách sống mới nói trên càng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc trong tầng lớp trẻ. Phát ngôn của Xuân Diệu trên phương diện thi ca chỉ có tính cách như một đại diện.

Nhìn ở một góc độ khác bài thơ bộc lộ nét đẹp của một quan niệm nhân sinh mới : sống tự giác và tích cực sống với niềm khao khát phát huy hết giá trị bản ngã tận hiến cho cuộc đời và cũng là một cách tận hưởng cuộc đời.

3. Tri thức thể loại

Bài Vội vàng được viết theo phong cách chung của một thế hệ thi nhân xuất thân Tây học trưởng thành vào những năm 30 của thế kỷ trước được gọi chung là phong trào Thơ Mới.

Thơ Mới vẫn được coi là một sự nổi loạn trong sáng tạo nghệ thuật nhằm một mặt khước từ luật thơ gò bó phản ứng với quan niệm cố định về âm thanh vần điệu chống lại thói quen " đông cứng" văn bản thơ trong những cấu trúc đã trở thành điển phạm kiểu ngắt nhịp đã trở thành công thức cách dùng từ đã trở nên sáo mòn; mặt khác nỗ lực đổi mới tư duy thơ trên nhiều phương diện. Chẳng hạn mạnh dạn mở rộng diện tích bài thơ câu thơ táo bạo trong việc thể nghiệm cấu trúc mới cú pháp mới nhịp điệu mới từ ngữ mới khai thác nhiều tiềm năng của tiếng Việt để làm giàu nhạc tính cho thơ. Nhưng điều quan trọng hơn nói theo nhận xét của Hoài Thanh tất cả chỉ nhằm để bộc lộ " cái nhu cầu được thành thực" trong xúc cảm và suy tư của một thế hệ.

IV.PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

1. Về nội dung

Sống vội vàng chỉ là một cách nói. Trong cốt lõi đây là một quan niệm sống mới mang ý nghĩa tích cực nhằm phát huy cao độ giá trị của cái Tôi cá nhân trong thời hiện đại. Quan niệm sống nói trên được diễn giải qua một hệ thống cảm xúc và suy nghĩ mang màu sắc " biện luận" rất riêng của tác giả.

a/ Từ phát hiện mới: cuộc đời như một thiên đường trên mặt đất.

Bước vào bài thơ độc giả ngạc nhiên trước những lời tuyên bố lạ lùng của thi sĩ:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi!

Những lời tuyên bố đó chỉ có vẻ kì dị ngông cuồng bề ngoài thực chất bên trong chứa đựng một khát vọng rất đẹp : chặn đứng bước đi của thời gian để có thể vĩnh viễn hoá vẻ đẹp của cuộc đời.

Nhưng lý do nào khiến nhà thơ nảy sinh niềm khao khát đoạt quyền tạo hoá để chặn lại dòng chảy của thời gian?

Trong quan niệm của người xưa đời là chốn bụi trần cuộc đời là bể khổ. Đấy là lý do vì sao lánh đời nhiều khi đã trở thành một cách thế sống mà cả tôn giáo cũng như văn chương đều chủ trương vẫy gọi con người trên hành trình đi tìm sự an lạc tâm hồn. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên đạo Phật tô đậm vẻ đẹp của cõi niết bàn cõi Tây Phương cực lạc; văn học cổ Trung Quốc cũng như văn học trung đại Việt Nam đều đề cao tâm lý hoài cổ phục cổ khuyến khích xu hướng tìm về với những giá trị trong quá khứ vàng son một đi không trở lại như đi tìm một thiên đường đã mất. Xuân Diệu thuộc thế hệ những người trẻ tuổi ham sống và sống sôi nổi họ không coi lánh đời là một xử thế mang ý nghĩa tích cực mà ngược lại họ không ngần ngại lao vào đời. Và thật ngạc nhiên nhờ tuổi trẻ họ phát hiện ra cuộc đời thực chất không phải là một cõi mông lung mờ mờ nhân ảnh cũng chẳng phải là cái bể khổ đầy đoạ con người bằng sinh lão bệnh tử ... những định mệnh đã hàng ngàn năm ám ảnh con người mà trái lại là cả một thế giới tinh khôi quyến rũ. Tất cả đều hiện hữu tất cả đều gần gũi đầy ắp ngay trong đời thực và trong tầm tay với. Trong cái nhìn mới mẻ say sưa thi nhân vồn vã liệt kê bao vẻ đẹp của cuộc đời bằng hàng loạt đại từ chỉ trỏ này đây làm hiện lên cả một thế giới thật sống động. Hơn thế cõi sống đầy quyến rũ ấy như đang vẫy gọi chào mời bằng vẻ ngọt ngào trẻ trung và đang như vẫn có ý để dành cho những ai đang ở lứa tuổi trẻ trung ngọt ngào : đây là tuần tháng mật để dành cho ong bướm đây là hoa của đồng nội (đang) "xanh rì đây là lá của cành tơ phơ phất và khúc tình si kia là của những lứa đôi.

Với đôi mắt xanh non của người trẻ tuổi qua cái nhìn bằng ánh sáng chớp hàng mi thi nhân còn phát hiện ra điều tuyệt vời hơn : Tháng Giêng mùa Xuân sao ngon như một cặp môi gần!

b....đến nỗi ám ảnh về số phận mong manh của những giá trị đời sống và sự tồn tại ngắn ngủi của tuổi xuân:

Tuy nhiên trong ý thức mới của con người thời đại về thời gian khi khám phá ra cái đẹp đích thực kia của đời cũng là lúc người ta hiểu rằng điều tuyệt diệu này có số phận thật ngắn ngủi mong manh và sẽ nhanh chóng tàn phai vì theo vòng quay của thời gian có cái gì trên đời là vĩnh viễn? Niềm ám ảnh đó khiến cái nhìn của thi nhân về thế giới bỗng đổi khác tất cả đều nhuốm màu của âu lo bàng hoàng thảng thốt.

Đấy là lý do vì sao mạch cảm xúc trong đoạn thơ bỗng liên tục thay đổi : từ việc xuất hiện các kiểu câu định nghĩa tăng cấp : "nghĩa là (3lần/3dòng thơ) để định nghĩa về mùa xuân và tuổi trẻ mà thực chất là để cảm nhận về hiện hữu và phôi pha đến ý tưởng ràng buộc số phận cá nhân mình với số phận của mùa xuân tuổi xuân nhằm thổ lộ niềm xót tiếc cái phần đẹp nhất của đời người rồi cất lên tiếng than đầy khổ não :

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất!

Cũng từ đây thiên nhiên chuyển hoá từ hợp thành tan:

Cơn gió xinh thì thào trong gió biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng ngắt tiếng reo thi

Dường như tất cả đều hoảng sợ bởi những chảy trôi của thời gian bởi thời gian trôi đe doạ sẽ mang theo tất cả thời gian trôi dự báo cái phai tàn sắp sửa của tạo vật. Thế là từ đây thời gian không còn là một đại lượng vô ảnh vô hình nữa người ta nhận ra nó trong hương vị đau xót của chia phôi người ta phát hiện nó tựa một vết thương rớm máu trong tâm hồn :

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi.

Niềm xót tiếc cứ thế tuôn chảy miên man trong hàng loạt câu thơ và khắc nghiệt với bất công đã trở thành một quan hệ định mệnh giữa tự nhiên với con người. Nỗi cay đắng trước sự thật đó được triển khai trong những hình ảnh và ý niệm sắp xếp theo tương quan đối lập giữa : lòng người rộng" mà lượng trời chật; Xuân của thiên nhiên thì tuần hoàn" mà tuổi trẻ của con người thì chẳng hai lần thắm lại. Cõi vô thuỷ vô chung là vũ trụ vẫn còn mãi vậy mà con người sinh thể sống đầy xúc cảm và khao khát lại hoá thành hư vô. Điều " bất công" này thôi thúc cái tôi cá nhân đi tìm sức mạnh hoá giải.

c. Và những giải pháp điều hoà mâu thuẫn nghịch lý:

Từ nỗi ám ảnh về số phận mong manh chóng tàn lụi của tuổi xuân tác giả đề ra một giải pháp táo bạo. Con người không thể chặn đứng được bước đi của thời gian con người chỉ có thể phải chạy đua với nó bằng một nhịp sống mới mà nhà thơ gọi là vội vàng. Con người hiện đại không sống bằng số lượng thời gian mà phải sống bằng chất lượng cuộc sống – sống tận hưởng phần đời có giá trị và ý nghĩa nhất bằng một tốc độ thật lớn và một cường độ thật lớn.

Đoạn thơ cuối trong bài gây ấn tượng đặc biệt trước hết bởi nó tựa như những lời giục giã chính mình lại như lời kêu gọi tha thiết đối với thế nhân được diễn đạt bằng một nhịp thơ gấp gáp bộc lộ vẻ đẹp của một tâm hồn trẻ trung sôi nổi cuồng nhiệt yêu đời và yêu sống.

Rõ ràng lẽ sống vội vàng bộc lộ một khát vọng chính đáng của con người. Như đã nói đây không phải là sự tuyên truyền cho triết lý sống gấp mà là ý thức sâu sắc về cuộc sống của con người khi anh ta đang ở lứa tuổi trẻ trung sung sức nhất. Xuân Diệu từng tuyên ngôn : "Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm chính là tuyên ngôn cho chặng đời đẹp nhất này. Vội vàng vì thế là lẽ sống đáng trân trọng mang nét đẹp của một lối sống tiến bộ hiện đại. Tuy chưa phải là lẽ sống cao đẹp nhất nhưng dù sao trong một thời đại mà lối sống khổ hạnh "ép xác diệt dục" là không còn phù hợp nữa nó là lời cổ động cho một lối sống tích cực sống trong ý thức phát huy hết giá trị của tuổi trẻ và cũng là của cái Tôi.

Tuy nhiên lối sống vội vàng đang còn dừng lại ở sự khẳng định một chiều. Một lẽ sống đẹp phải toàn diện và hài hoà : không chỉ tích cực tận hưởng mà còn phải tích cực tận hiến.

2. Về nghệ thuật

Nét độc đáo trong cấu tứ.

Bài thơ có sự kết hợp hài hoà hai yếu tố : Trữ tình và chính luận. Trong đó chính luận đóng vai trò chủ yếu. Yếu tố trữ tình được bộc lộ ở những rung động mãnh liệt bên cạnh những ám ảnh kinh hoàng khi phát hiện về sự mong manh của cái Đẹp của tình yêu và tuổi trẻ trước sự huỷ hoại của thời gian. Mạch chính luận là hệ thống lập luận lí giải về lẽ sống vội vàng thông điệp mà Xuân Diệu muốn gửi đến cho độc giả được trình bày theo hệ lối qui nạp từ nghịch lý mâu thuẫn đến giải pháp.

Là cây bút tích cực tiếp thu thành tựu nghệ thuật thơ trung đại và đặc biệt cái mới trong thơ phương Tây Xuân Diệu có nhiều sáng tạo trong cách tạo ra cú pháp mới của câu thơ cách diễn đạt mới hình ảnh mới ngôn từ mới.

Ví dụ trong đoạn thơ cuối tác giả cũng đã mạnh dạn và táo bạo trong việc sử dụng một hệ thống từ ngữ tăng cấp như : ôm" ( Ta muốn ôm ) riết ( Ta muốn riết ) "say" ( Ta muốn say ) thâu ( Ta muốn thâu )...Và đỉnh cao của đam mê cuồng nhiệt là hành động cắn vào mùa xuân của cuộc đời thể hiện một xúc cảm mãnh liệt và cháy bỏng. Không dừng lại ở đó tác giả còn sử dụng một hệ thống từ ngữ cực tả sự tận hưởng: "chếnh choáng đã đầy no nê...diễn tả niềm hạnh phúc được sống cao độ với cuộc đời.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: #fff