Đồng Đóm
Chuyến tàu đêm vắng người chầm chậm khởi hành. Đêm lặng. Âm thanh duy nhất là tiếng bà mẹ trẻ phòng bên ầu ơ vỗ về ru con ngủ, với cánh cò trắng bay rợp những cánh đồng...
Tôi nhìn chong chong lên trần tàu, thao thức. Đêm trắng. Trong tôi bỗng nôn nao một cảm xúc khó tả, mà nếu phải gọi tên, có lẽ tôi sẽ tạm coi đó là hồi hộp. Không hồi hộp sao được, khi sáng mai đây sẽ là lần đầu tiên tôi trở về quê ngoại sau hai mươi năm đằng đẵng.
Thành thật mà nói, tôi không gắn bó với vùng quê nghèo ấy, cũng chẳng mấy thân thiết với người bà quá cố mà mai là đám giỗ đầu. Từ nhỏ tới giờ, tôi sống ở thành phố với cha mẹ, số lần tôi về quê vô cùng hiếm hoi, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Những mảnh kí ức thưa thớt, mơ hồ và rời rạc chắp vá không đủ để tôi nảy sinh một mối liên kết đặc biệt với nơi này. Duy chỉ có một mảnh lớn nhất, sáng rỡ nhất soi rọi vào tâm trí tôi, không hề mờ phai theo năm tháng. Đó cũng là lí do khiến lòng tôi nôn nao, vừa hào hứng như đứa trẻ tìm lại được món đồ chơi yêu thích, lại vừa e dè, ngần ngại như sợ lần trở về này sẽ làm vỡ mảnh kí ức pha lê tôi hằng trân trọng, giữ gìn.
Mùa hè năm tôi lên chín, cha đi công tác xa, mẹ lại bận bịu tới giúp dì tôi vừa sinh em bé. Tôi được gửi về nhà ngoại. Đó là lần thứ hai tôi về quê, lần đầu là từ cái thuở tôi còn đỏ hỏn bế trên tay mẹ. Không như nhiều người lầm tưởng rằng trẻ phố về quê sẽ ngơ ngơ ngác ngác, lập tức thấy thật buồn tẻ, nằng nặc đòi về, tôi thích nghi với nơi ở mới rất nhanh. Trẻ con mà, đơn giản lắm, chỉ có người lớn thích áp đặt cái nhìn phức tạp của mình vào trẻ con mà thôi. Ở quê không có TV màu, không có công viên với cầu trượt xích đu đủ màu sắc, nhưng lại có đám trẻ sàn sàn tuổi tôi. Chúng dạy tôi ô ăn quan, đánh đáo, rủ tôi chạy dọc bờ đê thả diều, lấy sào thọc trứng cá cho tôi ăn thử,... Tôi dành cả ngày, từ sáng sớm cho tới lúc ngoại gọi về ăn tối, chạy chơi cùng chúng cho tới khi mệt lử mới thôi.
Trò chơi phổ biến nhất là bắt đom đóm, bỏ vào vỏ trứng, đêm đêm, chúng toả sáng như những tinh cầu bé nhỏ. Đom đóm bay chậm, dễ đuổi dễ bắt, nhưng bởi đứa nào cũng bị giữ ở nhà buổi tối, nên thời gian duy nhất để bắt đom đóm là vào lúc nhập nhoạng ráng chiều, dọc theo khoảnh ruộng trước nhà dì Năm. Mấy đứa trẻ kháo nhau rằng dì nuôi đom đóm. Vài đứa khác lén vặt trộm lúa nhà dì mang về, nghĩ rằng đom đóm sẽ tới ăn. Với chúng tôi ngày ấy, khoảnh ruộng đó màu nhiệm lắm, như thể đó là vương quốc duy nhất của những sinh vật nhỏ bé lập loè, và trìu mến đặt cho nó cái tên "cánh đồng đom đóm". Sau này, lớn lên, học Khoa ở trường, tôi mới biết rằng đom đóm ưa sống gần nguồn nước sạch, mà cạnh nhà dì Năm lại có ao bèo nhỏ, nên chúng hay quanh quẩn gần đó. Càng biết nhiều, tôi lại càng ước phải chi mình không học được những điều ấy, để vẻ nhiệm màu thơ bé có thể giữ được vẹn nguyên.
Trong đám tụi tôi, đứa trẻ to xác nhất nom đã ngoài hai mươi tuổi, luôn mặc quần đùi, áo may ô ố vàng, đầu cắt lởm chởm, móng tay cáu bẩn, luôn nhễ nhại mồ hôi, và rất hay cười ngờ nghệch. Đứa trẻ đó không biết ai là cha mẹ, sống cầu bơ cầu bất, được dì Năm thương tình cho trú tạm tại cái lán nhỏ ven ao, mỗi ngày lại cho hai bát cơm độn sắn coi như trả công trông nhà trông cửa. Đứa trẻ đó không tên không tuổi, nhưng bởi biệt tài bắt đom đóm thần sầu nên được lũ trẻ, rồi dần dà cả xóm, gọi là Đóm.
Anh Đóm không được lòng những người trong xóm, kể cả bọn trẻ, vì ngoài biệt tài của mình thì anh làm gì cũng chậm. Đi chậm. Ăn chậm. Nói chậm. Hiểu chậm. Thằng Tí con dì Năm - thủ lĩnh đám trẻ - bảo tôi, hồi trước anh hay tò tò đi theo lũ chúng nó, nhưng riết rồi cũng thôi. Tôi để ý, lúc nhập nhoạng tối, khi chúng tôi mải miết đuổi theo đom đóm trên cánh đồng, anh thường nấp sau mép mành, đăm đắm nhìn theo. Có lần, như nhận thấy ánh mắt của tôi, anh mừng rỡ cười toe, vẫy vẫy tay. Tôi giật mình, quay phắt người chạy mất.
Trẻ con lắm trò, bọn nhóc còn bày ra cả một phiên chợ đom đóm định kì vào cuối tuần. Mỗi đứa sẽ cầm những vỏ trứng đựng đom đóm của mình tới, thi xem của ai sáng hơn, đẹp hơn. Chúng tôi cũng có thể "mua" đom đóm của đứa khác, với giá tiền được quy ra một cái bánh, hai thanh kẹo... Anh Đóm cũng tham gia, anh mang đom đóm tới, ngơ ngẩn dứ dứ chúng trước mặt tụi tôi, sẵn sàng đổi chúng với cái khuy sứt, kẹp tóc hỏng hay thậm chí là đám cỏ dại ven đường. Ban đầu, anh rất đắt hàng, nhưng thằng Tí thấy vậy lại xì một tiếng rõ dài, nói.
- Mấy con đó bị bệnh Đóm hết rồi còn mua, đúng là đồ trẻ con!
Nghe vậy, dù chẳng hiểu "bệnh Đóm" là cái bệnh gì, nhưng đám trẻ kia cũng rụt tay lại, chạy khỏi chỗ anh Đóm. Phiên sau, rồi phiên sau nữa cũng vậy. Cứ đứa nào ngo ngoe gần chỗ anh Đóm, thằng Tí lại xì một cái, hét lên "bệnh Đóm", đủ để doạ đứa trẻ kia chạy biến. Chưa hết, thằng Tí còn rỉ tai hết đứa này tới đứa khác.
- Lão Đóm kém lắm, không bắt được đom đóm lúc chiều, toàn lén ra đồng buổi đêm, giỏi giang gì đâu!
Cứ vậy, đến cái biệt tài duy nhất của anh Đóm cũng bị tước đi.
Tôi nhỏ người, chạy chậm, lại chưa quen bắt, toàn bị bọn nhóc khác giành mất đom đóm. Người thì thấp bé, nhưng tự ái lại cao ngút trời, tôi quyết phải bắt nhiều đom đóm hơn tụi nó kì được mới thôi. Nhưng với khoảng thời gian ít ỏi lúc chiều tà, ước muốn của tôi sẽ không thể thành hiện thực. Suy đi tính lại, tôi dồn hết sự liều lĩnh trong người, lẻn ra khỏi nhà vào một tối nọ, khi ngoại đang nghe bài hát yêu thích trên chiếc đài cassett cũ.
Đồng đêm vắng lạnh. Tôi men theo bờ ruộng, thấp thỏm lo sợ có người nào trông thấy tôi rồi về mách ngoại. Đến trước cánh đồng đom đóm, tôi thấy một bóng đen cao lêu nghêu, dáng khòng khòng, mặc áo may ô quần đùi đứng giữa muôn vàn đốm sáng nhỏ lập loè. Là anh Đóm. Thì ra thằng Tí đã nói đúng, anh bắt được nhiều đom đóm chỉ vì lẻn ra ngoài đồng lúc ban đêm.
Bước gần lại vài bước, tôi mới biết mình nhầm. Anh không bắt, mà đang thả đom đóm.
Từ bàn tay lấm lem bùn đất của anh, những nguồn sáng nhỏ xíu cứ vụt bay ra khỏi vỏ trứng, tựa những vệt pháo hoa tí hon. Chúng bay chậm như những ngôi sao trôi, quấn quýt bên anh Đóm không rời, phủ lên anh tấm áo dệt bằng ánh sáng. Rồi chúng tản ra, hoà lẫn vào cánh đồng, các bông lúa đầu ngọn ánh lên sắc xanh kì diệu. Anh Đóm cười, gương mặt rạng ngời hạnh phúc.
Nhìn cảnh tượng trước mặt, tôi ngẩn người, quên cả lí do mình tới đây, buột miệng.
- Đom đóm...
Nghe tiếng, anh Đóm quay phắt lại, xăm xăm đi về phía tôi. Anh đi rất nhanh, tôi có chạy cũng chẳng kịp, sợ sệt chôn chân tại chỗ.
- Đóm?
Anh chỉ tay vào mặt mình, cười hề hề. Anh tưởng tôi gọi anh.
- Đom... đóm?
Tôi trỏ mấy đốm sáng xung quanh, e dè lặp lại.
- Đóm!
Anh bắt chước tôi, trỏ mấy con đom đóm, rồi lại tự chỉ vào mình, cười ngây ngốc. Tôi không biết phản ứng ra sao, đành gật gật đầu. Anh xoa đầu tôi, rồi khum hai tay bắt lấy một con đom đóm, bỏ nó vào vỏ trứng, dúi cho tôi. Tôi lắc đầu nguầy nguậy. Lời thằng Tí văng vẳng bên tai: "Mấy con đó bị bệnh Đóm hết rồi..."
- Đóm... Cầm...
Thấy tôi không cầm lấy vỏ trứng, anh tìm cách nhét nó vào túi áo tôi. Tôi lùi lại vài bước. Anh khua khoắng, móc từ túi tôi ra mấy vụn bánh bích quy còn sót lại từ bữa ăn nhẹ buổi chiều, bỏ vào miệng nhai nhồm nhoàm.
- Bán... Đóm...
Tôi ngơ ngác.
- Bán... Đóm...
Anh lập lại lần nữa, chỉ vào miệng mình, rồi giơ vỏ trứng trước mặt tôi lần nữa, ánh mắt lộ rõ vẻ mong đợi. À, thì ra, tôi vừa "mua" đom đóm của anh bằng mấy mẩu bánh vụn đó. Ngần ngừ, tôi nhận lấy vỏ trứng từ tay anh, nhìn anh như vậy, tôi không đành lòng từ chối. Với lại, tôi có thể tạm coi đây là "chiến lợi phẩm" để đem khoe tụi bạn. Bệnh Đóm gì cũng mặc, chắc chẳng lây sang người đâu nhỉ?
Thấy tôi nhận lấy, anh mừng quýnh, vò vò tóc tôi lần nữa. Tôi chợt nhận ra anh cười rất hiền, lại có nét thuần khiết trẻ thơ. Tôi cũng toe miệng cười theo anh. Đom đóm bay rợp trời đêm.
Chuyến đi bí mật của tôi không qua khỏi mắt ngoại. Khi về nhà, trời đã khuya, tôi bị bà quở mắng đôi câu rồi bắt lên giường ngủ. Con đom đóm vừa "mua" được, tôi lót chiếc khăn xô để đầu giường.
Tôi ngủ một mạch tới gần trưa, lỡ cái hẹn thả diều của tụi thằng Tí. Tôi toan chạy lên đê kiếm chúng nó, không biết suy đi tính lại như nào mà lại lang thang tới cánh đồng đom đóm, ngó vào cái lán nhỏ cạnh nhà dì Năm. Không có ai. Trong tôi bỗng có gì đó như là hẫng hụt.
- A!
Tiếng anh Đóm reo vui hồ hởi kéo ánh mắt tôi trở ra phía cánh đồng. Anh đang khom lưng nấp giữa khóm lúa, chỉ có cánh tay gầy guộc huơ huơ. Tôi tò mò chạy tới, bị anh xua xua tay ra hiệu dừng lại, suỵt khẽ. Rồi nhanh như chớp, anh quờ tay vào không khí, chộp lấy thứ gì đó, cười toe, chạy lên bờ ruộng. Không thèm phủi bùn đất còn bám đầy trên chân, anh kéo tay tôi chạy về phía lán. Anh đóng kín cửa, gian nhà tối om, chỉ có vài tia sáng mảnh yếu ớt xuyên qua kẽ hở của tấm mành. Bấy giờ, anh mới từ từ, nhẹ nhàng xoè bàn tay phải ra, để lộ đốm sáng nhỏ lập loè bay vút lên, vẽ những đường nét vui tươi trong không khí. Thấy tôi ngơ ngẩn, anh Đóm lách ra ngoài, rổi rất nhanh chóng, trở về với mấy con đom đóm nữa. Con nào cũng to, cũng sáng. Ngắm chúng bay một hồi, anh lại mở cửa cho chúng bay đi, như lịch thiệp tiễn về những người bạn lâu năm vậy.
Anh có thể thấy đom đóm lúc ban ngày.
Điều này làm tôi phục anh sát đất, quả là "danh bất hư truyền"! Nếu học được bí thuật của anh, tôi chẳng cần phải lén ra đồng đêm khuya vắng cũng có thể bắt nhiều đom đóm hơn tụi nó.
Ngày hôm ấy, hôm sau, và cả những ngày sau nữa, tôi ghé lán anh liên tục. Ban đầu là do muốn nhanh chóng vượt mặt đám thằng Tí, về sau là bởi tôi thấy chơi cùng anh Đóm thật sự rất vui. Mỗi lần tôi tới, anh sẽ dúi vào tay tôi một cái chổi tre, dẫn ra ngoài đồng, rồi cả hai ngồi yên chờ đợi. Đom đóm dễ nhầm rơm bện chổi với cây cỏ, đậu lên đó, và thế là tôi bắt được vài chú ngon ơ! Có hôm, không biết anh kiếm từ đâu về một bể cá cũ con con. Hai anh em hì hụi cọ cái bể bóng loáng, lấy bìa carton làm nắp đậy, bỏ vào đó ít cành lá, rồi thả tất cả "chiến lợi phẩm" của mình vào bể. Anh cầm tay tôi đặt lên thành bể, ngúc ngắc đầu, tỏ ý muốn tôi cầm về. Tôi từ chối, không phải vì sợ bệnh Đóm, mà do mơ hồ nhận thấy rằng, ánh sáng đom đóm đẹp nhất khi ở gần anh. Bể đom đóm ấy, chúng tôi để giữa cái lán nhỏ, như ngọn đèn xanh không bao giờ tắt.
Việc tôi chơi với anh Đóm, bọn trẻ nhanh chóng biết được. Mấy đứa nhỏ tuổi ban đầu còn e dè, dần dà mon men tới chỗ anh ở phiên chợ đom đóm, xuýt xoa ngắm nghía những con đom đóm lập loè trong chiếc bể cá cảnh. Tuy vậy, thằng Tí và mấy đứa thân với nó lại vô cùng bực tức. Nó gọi tôi ra một góc, mắng tôi là đồ phản bội. Nó ép tôi nghỉ chơi với anh Đóm, bằng không nó và tụi còn lại sẽ bo xì tôi. Với một đứa trẻ thì lời đe doạ ấy quả là khủng khiếp. Tôi răm rắp làm theo lệnh nó. Nhưng đôi lúc, tôi lại thấy nhớ những buổi cầm chổi tre rình đom đóm. Vậy là, tôi dậy sớm hơn thường lệ, lén tới lán anh Đóm từ sáng sớm, hòng qua mắt bọn nó. Tôi quên mất một điều quan trọng: thằng Tí là con dì Năm! Nhìn thấy tôi, nó nhảy qua bờ rào, lao tới đứng trước mặt, chỉ thẳng mặt tôi như vị quan toà đang kết án tử hình cho phạm nhân xấu số.
- Thằng phản bội! Thằng dối trá!
Thằng Tí không báo cho mấy đứa khác vội. Nó nghĩ ra trò chơi khác vui hơn, tai quái hơn nhiều. Nó bắt tôi trộm hết đom đóm trong bể mang về chia cho tụi nó. Tôi, một lần nữa, cun cút làm theo lời nó. Nhân lúc anh Đóm đang nấp sau khóm lúa ngoài đồng, tôi lẻn vào, ôm cái bể, chạy mất.
Sáng hôm sau, tôi thập thò trước lán, cảm giác tội lỗi dâng lên nghẹn ứ. Kì lạ thay, trong góc nhà lại có một bể đom đóm mới, nhỏ hơn, có một vết nứt dài. Nghe tiếng bước chân tôi lạo xạo, anh Đóm chạy vội ra, hớn hở trỏ cái bể, hào hứng khoe.
- Đóm... Mới...
Thấy anh vậy, tôi trộm nghĩ, chắc không thú tội cũng chẳng sao.
Thằng Tí thấy anh Đóm không hề gì, lại còn thích thú với bể đom đóm mới thì ức lắm. Nó tụ tập đám trẻ lại, nhại lại mấy thông báo trên đài, sẵng giọng.
- Bệnh Đóm đang có diễn biến phức tạp, virus có thể lây lan sang người. Chúng ta cần tiêu diệt mồng mấm bệnh tận gốc!
Nó nói vội, lưỡi ríu cả vào nhau. Con Sửu thắc mắc.
- Là sao?
- Đồ con nít chậm hiểu! Là mình phải tiêu diệt hết đám đom đóm của lão đó!
Bọn trẻ à à vài tiếng, gục gặc đầu. Thằng Tí ra chiều hiểu biết, vạch ra kế hoạch.
- Sáng mai lão phải ra đồng phụ mẹ tao cấy lúa. Lúc đó mình sẽ lẻn vào nhà lão, lấy cái bể rồi xử lí hết lũ chúng nó!
- Xử lí kiểu gì, đào hố chôn như mấy cô chú chôn gà vịt năm ngoái á?
- Không được, làm vậy chúng bay mất!
- Tao nghĩ ra rồi, mình đục lỗ rồi đổ nước vào, cho chúng chết ngộp.
- Xong thiêu huỷ luôn cho chắc!
- Hay đó, hay đó!!!
- Nam, im như thóc thế? Mày nhập bọn chứ?
Thằng Tí vỗ vai tôi hỏi, nhưng thực chất là ngầm đe doạ. Tôi vẫn im ru. Thằng Tí nhìn tôi gườm gườm, đẩy tôi sang một bên, quát lớn.
- Thằng hèn!
Có lẽ tôi đúng như lời nó thật, bởi ngày hôm sau, tôi trốn ở nhà, không dám tham gia vào trò đùa quái ác của đám trẻ. Tôi cũng không dám nói cho anh Đóm hay chuyện này.
Chiều hôm đó, dì Năm tất tưởi sang nhà ngoại tôi, vừa thở gấp vừa kể.
- Ôi giồi ôi bác ơi, thằng Đóm nhìn tưởng lành thế nào, ấy thế mà nó vừa cầm chổi đánh vỡ đầu thằng Tí nhà cháu kia kìa! Khốn khổ khốn nạn, nó ở nhà mình, ăn cơm mình, mà dám cầm chổi mình đánh con mình ra nông nỗi ấy đấy! Đóm ơi là Đóm!...
Phần sau lời kể ấy, tôi không nghe nữa. Tôi lao vụt ra ngoài, không kịp xỏ dép. Tôi chạy thẳng một mạch tới cánh đồng đom đóm. Bên bờ ruộng, anh Đóm đang ngồi bệt bên những xác đom đóm khét lẹt còn bốc khói, ngửa mặt lên trời, khóc tu tu. Cái chổi gãy cán nằm cách đó không xa. Trông thấy tôi, anh cố nặn ra nụ cười méo mó, rồi lại nấc cục, những giọt nước mắt khổng lồ lăn xuống gương mặt dính đầy bùn đất và ám khói. Anh nói giật cục từng tiếng, mắt nhìn những con đom đóm không còn nguyên vẹn.
- Giết... Đóm...
Rồi anh chỉ vào ngực mình, nhìn tôi, mếu máo càng lúc càng lớn.
- Giết... Đóm...
Tôi ôm choàng lấy anh, oà khóc theo. Tôi không biết mình đang khóc vì gì nữa. Vì những con đom đóm. Vì anh. Vì tôi. Hay vì tất cả.
Cha tôi đi công tác về sớm hơn dự tính, nghe chuyện, tức tốc đón tôi quay về thành phố. Theo ông, chơi với anh Đóm lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu tới tôi. Ngày về, tôi chạy qua lán tìm anh, nhưng chỉ thấy gian nhà trống huơ trống hoác. Dì Năm bảo, dì đã đuổi anh đi rồi. Tôi chạy dọc cánh đồng, chỉ thấy mênh mông lúa. Tôi đã không thể gặp anh lần cuối để nói lời tạm biệt và xin lỗi anh. Món quà bé nhỏ anh tặng tôi hôm nào - con đom đóm trong vỏ trứng - đã lịm dần rồi tắt hẳn ánh sáng xanh khi tôi đang ngồi trên xe lửa về thành phố. Vòng đời đom đóm ngắn hạn, chỉ kéo dài khoảng một tuần, con đom đóm ấy trụ được tới vậy là lâu lắm rồi. Nhưng tôi-chín-tuổi không biết điều ấy. Tôi khóc sưng cả mắt, nghĩ rằng con đom đóm ấy giận tôi nên không thèm thắp sáng cho tôi nữa...
Tàu đã cập bến. Tôi dứt khỏi dòng hồi tưởng. Vừa đi, tôi vừa thầm nghĩ, lần này về quê sẽ bắt đom đóm về cho con gái tôi chơi, và nếu có thể, tìm gặp anh Đóm để nói lời xin lỗi muộn màng, dù chắc giờ này anh cũng không còn nhớ nữa, sẽ tiếp tục nhìn tôi cười ngây ngốc. Mâm cỗ vẫn đang được bày biện. Chưa tới giờ ăn. Tôi thả bộ dọc cánh đồng, tự hỏi là đồng nhỏ lại, hay là tôi đã lớn lên nhiều quá? Tôi cố lục tìm trong trí nhớ vị trí vương quốc đom đóm thuở nào. Cảnh vật khác xa trong kí ức. Nếu không có cái lán xập xệ bên một góc ao bèo đã cạn, tôi đã không thể nhận ra nhà dì Năm. Dì đang lúi húi ở góc vườn, thấy tôi ngó vào bèn lau vội tay vào gấu áo, nhanh nhảu tiến lại, lom lom nhìn tôi trước khi "à" một tiếng.
- Thằng Nam phải không? Cặp lông mày không lẫn vào đâu được! Về giỗ bà hả? Bà nhắc mày suốt đấy! Vợ con thế nào rồi?...
Dì còn nói nhiều, nhiều điều nữa. Giữa những lời hỏi đáp xã giao, tôi ngập ngừng nhắc về anh Đóm. Dì chép miệng, phẩy tay.
- Thằng đấy từ lúc bị đuổi đi lang thang ở đâu chả biết, ai dè đúng lúc chết lại về đây mà chết, đến là khổ!
Tôi sững sờ.
- Mấy năm trước, đang nửa đêm nửa hôm nó chạy ra giữa đường, lao thẳng vào đầu xe tải. Cả xóm đến là đau đầu vì nó! Có nhầm người không ấy hả? Không đâu, nhìn nó dì nhận ra ngay! Sao nó làm vậy á? Chịu, chắc nhầm đèn pha với mấy con đom đóm của nó ấy mà!...
Lời dì dửng dưng, nhưng giọng nghèn nghẹn. Ánh nhìn hoang hoải ra đồng. Tôi nhìn theo dì. Trời nhập nhoạng tối. Ao cạn. Đồng vắng.
Đom đóm không còn bay nữa.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com