Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

A

- Twoshot, vốn dĩ mình định để là oneshot nhưng rồi dài quá nên phải chia làm hai phần, tổng thể là 14k1 từ.

- Riordanverse, GyuSeok trong này là á thần Hy Lạp. Mingyu là con trai của Hephaestus, thần của lửa, nghề rèn, chế tạo thủ công,...; Seokmin là con trai của Apollo, thần của Mặt Trời, ánh sáng, chân lý, thuật trị thương, âm nhạc và bắn cung.

- Chưa beta, mình sẽ beta lại khi có thời gian rảnh.

- Enjoy.

;

i.

Tôi đã quyết tâm không gây rối trong năm học này nữa. Sau khi trải qua một mùa hè điên rồ với những chuyện mà trước đây có nằm mơ cũng không dám mường tượng đến, tôi tự nghĩ nếu mình có thể đối đầu với những sinh vật huyền bí xấu xa và các vị thần loạn trí thì cũng có thể đối phó với một năm học cùng những con người hoàn toàn bình thường thôi. Chuyện này thật ra rất đơn giản. Tôi chỉ cần né bọn đầu gấu ngày nào cũng lượn qua lượn lại trên hành lang như thể chúng đang tham gia một chương trình thời trang quái dị với những bước catwalk xiên vẹo; không gây ra vụ nổ nào trong giờ Hóa Học nữa; và cố gắng bắt kịp các bạn học dù chứng khó đọc bẩm sinh dày vò tôi như thể cuộc đời tôi chưa đủ đau khổ vậy.

Mấy tuần đầu của năm học trôi qua rất trơn tru, duy chỉ có một lần thầy Brown mời tôi ra khỏi lớp vì gây mất trật tự, dù thằng nhóc bàn dưới mới là người bắt đầu đạp vào chân ghế tôi trước. Nhưng không sao cả. Tôi đã học được rằng làm lớn chuyện chỉ khiến tôi gặp thêm rắc rối mà thôi.

Thế rồi mọi nỗ lực của tôi đổ sông đổ bể vào sáng nay.

Tôi cúi đầu đọc một đoạn trong sách Lịch Sử, tuy đọc rất chậm (nguyền rủa mi, chứng khó đọc), nhưng rõ ràng tôi đã có tiến bộ. Cô Ridlehoove nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm nghị, kiên nhẫn đợi tôi đọc từng chữ, như thể cô sẵn sàng mắng tôi vì làm mất thì giờ nhưng lại không nỡ vậy. Mấy con chữ trước mắt tôi cứ loạn hết cả lên, không sao ghép thành một từ được, chỉ mới đọc đến câu thứ tư, tôi đã thấy mồ hôi rịn ra đầy trên trán.

“Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Đệ nhị Quốc hội Lục địa họp- HẢ?”

Tôi chỉ vừa liếc mắt nhìn ra cửa sổ một thoáng, hình ảnh bên ngoài đã khiến tôi giật mình đến mức quên mất bản thân đang đọc bài. Cô Ridlehoove nhíu mày với tôi, chút kiên nhẫn cuối cùng của cô cũng đã hết:

“Trò Lee! Bên ngoài cửa sổ có chữ hay sao?”

Tôi ngượng ngập gãi đầu nhìn cô, không dám ngoảnh đầu sang phía cửa sổ nữa, thế nhưng cái bản năng vớ vẩn lúc này lại phát huy tác dụng của nó hết cỡ, khiến tai tôi nghe rõ mồn một âm thanh bên ngoài. Tay tôi ngứa ngáy, sờ lên chiếc đồng hồ đeo trên cổ tay, bị phủ dưới tay áo khoác đồng phục. Dù đã cố ngăn bản thân lại, tôi vẫn thấy andrenaline chảy rần rật trong mạch máu. Thấy tôi bối rối không đáp, cô Ridlehoove chỉ biết thở dài. Tôi không muốn làm cô thất vọng, nhưng cũng không thể phớt lờ chuyện ngoài kia, đành lòng nói dối thêm một lần nữa:

“Thưa cô, xin phép cô cho em ra ngoài rửa mặt, có lẽ em hơi thiếu tỉnh táo ạ.”

Cô Ridlehoove nhìn tôi một lượt từ trên xuống dưới trước khi gật đầu, dù có lẽ cô không tin lắm vào lời nói dối dở tệ đó:

“Đi đi.”

Tôi chỉ chờ có thế. Chạy qua dãy hành lang im ắng với những lớp học đóng chặt cửa, tôi nhẩm tính xem liệu mình có đủ thời gian để quay về lớp học lấy balo trước khi chuông hết giờ reo hay không, rồi từ bỏ ngay sau đó. Không khi nào tôi lường trước được chuyện sẽ xảy ra cả. Tôi sờ lên chiếc đồng hồ một lần nữa, tháo nó khỏi cổ tay trước khi nó biến thành một một bộ cung tên vừa vặn trong lòng bàn tay. Bộ cung tên là món quà mừng sinh nhật mười bốn tuổi Cha tặng cho tôi. Đã mấy tuần liền tôi không sờ vào lớp kim loại mát lạnh trên bộ vũ khí yêu thích của mình, dù biết trước mắt có thể là rắc rối, bỗng dưng tôi thấy hào hứng lạ kì.

Tôi vừa chạy vừa đeo ống cung được bọc trong ánh sáng dịu mắt của đồng Celestial lên vai, chỉ mấy phút sau, tôi đã ào ra sân trường, nơi tiếng ồn ào gây chú ý mỗi lúc một gần hơn.

Trước cả khi tôi kịp nhận ra bản thân đang làm gì, bản năng và thói quen được rèn luyện suốt ba tháng hè vừa rồi đã khiến tôi rút một mũi tên khỏi ống tên, giương cung bắn vào một con trong số những con chim đang vẫy cánh bay theo vòng tròn trên đầu một cậu trai. Mũi tên xuyên qua cổ con chim, khiến tư thế chuẩn bị phóng lông vũ của nó đông cứng lại. Nó tan biến thành một đám bụi vàng, bị gió cuốn tứ tung trước cả khi kịp rơi xuống đất.

Cậu trai bị lượt bắn đó của tôi làm cho giật mình, ngoảnh đầu nhìn về phía tôi. Mái tóc nó đã rối bù vì trận chiến với đàn chim quái gở, chiếc áo phông màu cam in hình chú ngựa có cánh và dòng chữ “Trại Con Lai” vừa nhăn nhúm vừa cáu bẩn, nhưng nụ cười của nó vẫn vui vẻ như thể những chuyện này cũng chẳng đáng bận tâm mấy. Tôi chạy đến bên cạnh nó, rút thêm một mũi tên nữa từ sau lưng, nhắm bắn con chim quái vật đang lao thẳng đến sau gáy bạn mình.

“Mingyu!” Tôi né một chiếc lông vũ với đầu nhọn hoắt được phóng ra từ một con chim, nhìn Mingyu ném quả cầu lửa trắng vào một con khác, “Mày làm gì ở trường tao vậy?”

“Tìm mày,” Mingyu đáp, đập vào đầu con chim đang bay đến trước mặt mình bằng cái cờ lê trong tay phải, “Có vậy cũng hỏi. Ngoài mày thì tao còn quen ai ở đây nữa?”

“Ở Trại xảy ra chuyện gì à?”

“Nhiều là đằng khác. Tao sẽ kể sau.”

Mingyu nói thế có nghĩa là tôi sẽ phải đi cùng nó sau khi giải quyết đàn chim này, và rất có khả năng không thể về nhà tối nay. Nghĩ đến việc có chuyện xảy ra ở Trại Con Lai, tôi lại thấy dạ dày mình nhộn nhạo.

Từ bé đến lớn, tôi đã luôn là đứa lập dị; là đứa cuối cùng trong lớp được chọn nếu có một hoạt động yêu cầu ghép nhóm. Có lẽ là bởi chứng khó đọc và ADHD khiến tôi không giống ai, suốt nhiều năm liền đi học rồi bị đuổi học, chuyển trường rồi lặp lại vòng tròn đó, tôi đã dần quen với việc lủi thủi một mình. Khi đó tôi chưa biết, mà có biết cũng không thể giải thích với những đứa khác được, rằng tôi mắc chứng khó đọc là vì bộ não của á thần được lập trình sẵn để đọc tiếng Hy Lạp cổ nên không thể thích ứng với các ngôn ngữ hiện đại, và chứng rối loạn tăng động giảm chú ý là một phần bản năng để tôi có thể chiến đấu trọn vẹn nhất trên chiến trường. Nếu tôi nói vậy, hẳn sẽ bị bọn cùng lớp cười cho thối mũi. Nhưng mùa hè vừa rồi thì khác.

Ngày đầu tiên trong kì nghỉ hè, mẹ bảo với tôi rằng, đã đến lúc bà nói cho tôi biết sự thật về cha. Trước ngày hôm đó, từ “cha” luôn là từ khoá nhạy cảm đối với cả hai mẹ con tôi. Mẹ đã làm mẹ đơn thân kể từ khi tôi chào đời, một tay bà nuôi tôi lớn với cửa hàng bán đồ ăn nhanh nho nhỏ ở đầu phố nơi chúng tôi ở. Bà ngoại cấm tôi nhắc về cha, vì nói về ông đồng nghĩa với việc đào sâu vào vết thương âm ỉ của mẹ, khiến nó rỉ máu một lần nữa, xé rách những lớp bọc mẹ đã cố xây dựng suốt nhiều năm. Tôi đã học cách lớn lên mà không đề cập đến cha của mình, hay thậm chí cả cha của bất kì ai khác.

Trước sự bồn chồn của tôi, lần đầu tiên trong đời, người điềm tĩnh như mẹ nói ra những từ rất phi lý. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ từng chữ, “Cha con là một vị thần.” Hàng vạn suy nghĩ chạy ngang qua đầu tôi, nhưng dù có cố cách nào, tôi cũng không hiểu được những gì mẹ nói, như thể bà vừa kể chuyện cười bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ nào đó và bắt tôi phải cười lấy lệ vậy. Mẹ điềm đạm nhắc lại thêm một lần nữa:

“Cha con là một vị thần Hy Lạp. Như trong những câu chuyện mẹ từng kể cho con khi còn bé vậy, thi thoảng những vị thần đem lòng yêu con người…”

Tôi không dám tin vào tai mình. Giọng mẹ vẫn êm ả, trầm bổng như người đang hát:

“Mẹ đã nghĩ mình có thể bảo vệ con, bằng sức của một mình mẹ thôi. Nhưng kể từ sau sinh nhật mười ba tuổi của con, Seokmin à, mọi thứ càng ngày càng vượt ngoài tầm kiểm soát.”

Nghĩ về điều đó cũng đủ làm tôi thấy đầu hơi nhói lên. Ban đầu, tôi không hiểu ý mẹ là gì. Quả thực là sau sinh nhật thứ mười ba của tôi, nhà tôi đã gặp phải nhiều chuyện không may. Đầu tiên là vụ rò rỉ khí gas chỉ một ngày ngay sau tiệc sinh nhật, khiến căn nhà vốn dĩ đã ọp ẹp lại càng thêm thảm hại, ba người chúng tôi phải ở tạm trong nhà kho của cửa hàng đồ ăn nhanh suốt mấy tuần sau đó. Tiếp đến là tên trộm nào đó phá vỡ cửa sổ tầng hai, lục lọi mọi ngóc ngách trong nhà nhưng không lấy đi gì cả. Chuyện xảy ra khi tôi đang ở hồ bơi công cộng, khi về đến nơi, nhà chỉ còn là một đống hỗn độn. Và còn nhiều lần khác nữa, nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ mình là lý do. Hình như mẹ nhận ra sự hoang mang trong mắt tôi, bà đưa tay vuốt tóc tôi, thì thầm:

“Không phải là lỗi của con, con yêu. Chỉ là chúng đã tìm đến con. Quái vật có khứu giác rất nhạy để tìm ra các con lai. Mẹ nên đưa con đến nơi an toàn hơn.”

Quá nhiều thông tin mới chỉ trong mấy câu nói của mẹ khiến tôi choáng váng, tai ù đi như thể đang nhúng đầu xuống nước, tất cả âm thanh xung quanh đều lùng bùng không rõ ràng. Quái vật. Con lai. Giữa thế kỉ hai mươi mốt hiện đại, mẹ lại muốn tôi tin vào quái vật ư? Tôi là con lai? Giữa cái gì với cái gì mới được? Nơi an toàn hơn là ở đâu? Tôi có rất nhiều câu hỏi, nhưng lại không thể thốt thành lời. Nỗi lo sợ rằng sau nhiều năm khiến mẹ khổ sở bằng những cuộc gọi mời phụ huynh từ nhà trường, những lần chuyển trường rồi lại bị buộc thôi học, cuối cùng mẹ cũng muốn tống tôi đi cho khuất mắt khiến tôi thấy miệng mình đắng nghét, như thể vừa có một tia sét đánh xuống đầu mình.

Nơi an toàn hơn mà mẹ nói là Trại Con Lai. Chúng tôi tới Trại ngay buổi sáng sau đó. Mẹ đã đúng. Tuy nó không “an toàn” theo cách mẹ đã nghĩ, bởi suốt ba tháng ở lại đây, tôi đã phải đối mặt với số lượng quái vật không thể đếm được, thực hiện vài phi vụ giải cứu thần thánh, và suýt chết mấy lần; nhưng Trại Con Lai cho tôi cảm giác mình thuộc về đâu đó. Lần đầu tiên trong mười bốn năm cuộc đời, tôi có bạn. Những đứa trẻ mang trong mình một nửa dòng máu thần thánh, cùng mắc chứng khó đọc và rối loạn tăng động giảm chú ý, đều không thể hòa nhập với con người bình thường, không biết từ khi nào đã trở thành những người bạn mà tôi sẵn sàng hy sinh vì họ.

Mingyu là một trong số đó. Chúng tôi bằng tuổi, nhưng Mingyu đã ở Trại Con Lai rất lâu trước khi tôi đến. Nó chưa bao giờ kể về lý do đằng sau chuyện đó, và tôi cũng chưa bao giờ hỏi, cũng không thấy cần thiết. Tôi chỉ cần biết bắt đầu từ mùa hè năm ngoái, Mingyu là đồng đội của mình. Nghĩ đến chuyện này, tôi lại thấy nhẹ lòng một chút. Trại viên ở Trại Con Lai có hai kiểu, một là ở Trại quanh năm suốt tháng như Mingyu, hai là chỉ quay lại Trại vào mùa Hè. Tôi là kiểu thứ hai. Mingyu tìm đến gặp tôi lúc này, có nghĩa là tôi không cần phải đợi đến hết năm học để gặp lại nó.

“Seokmin!” Tiếng gọi của Mingyu kéo tôi ra khỏi mấy suy nghĩ lộn xộn cuốn chặt vào nhau trong đầu. Nó chạy vụt đến, đẩy tôi khỏi vị trí tôi đang đứng, vừa kịp lúc một con chim bay vụt qua.

Tôi thấy hơi rùng mình. Chim Stymphalian là một loại quái vật cơ bản mà chúng tôi được dạy để đấu lại trong lớp học vỡ lòng về sinh vật huyền bí ở Trại Con Lai. Chúng có chiếc mỏ bằng đồng Celestial, cùng chất liệu với mũi tên của tôi, và sẵn sàng phóng những chiếc lông vũ sắc nhọn xuống nạn nhân bất kì lúc nào. Tôi còn nhớ trong buổi huấn luyện mùa hè vừa rồi, Seungkwan chỉ bị sượt qua một nhát, vậy mà thằng bé phải nằm trong bệnh xá suốt hai ngày liền. Nhìn đôi mắt đục ngầu và cái bụng xẹp đến mức lộ ra cả xương sườn dưới lớp lông mỏng tang, bết dính của đàn chim, tôi tự nhủ chúng đang rất rất nóng lòng tìm một miếng thịt để xâu xé, và tôi không có cơ hội để ngẩn ngơ suy nghĩ nữa.

“Mày nghĩ gì mà không né ra vậy hả?”

“Không có gì,” Tôi đẩy Mingyu ra, tiện tay cầm lấy chiếc cờ lê của nó, ném vào một con Stymphalian đang lao về phía chúng tôi, “Cảm ơn mày.”

Mingyu không đáp. Chúng tôi đứng tựa lưng vào nhau, hệt như cách hai đứa vẫn làm trong những lần chơi trò cướp cờ ở Trại Con Lai (tin tôi đi, không hề giống trò cướp cờ đơn giản mà bạn nghĩ đâu), đối diện với đàn chim không có dấu hiệu ít đi dù chúng tôi đã vật lộn nãy giờ.

“Mày còn dụng cụ gì ở đó không?” Tôi hỏi.

“Rất nhiều ốc và tua vít, một cái búa đinh, một cái cưa cầm tay.”

“Cho tao cây búa.”

Mingyu nhìn tôi như thể đang thầm đánh giá xem một đứa cả đời chưa sờ tay vào dụng cụ sửa chữa nào sẽ làm gì với một cây búa, nhưng vẫn dúi nó vào tay tôi.

“Chuyện tao sắp làm chắc sẽ khiến tao bị kỉ luật, hay ít nhất là đình chỉ học mấy ngày,” Tôi nói với Mingyu khi quay mình đi, đối mặt với cửa ra vào dãy lớp học, “Mày nên thấy biết ơn vì tao hy sinh mấy tuần học bình yên để cứu mày.”

“Nói như thể vừa nãy tao không cứu mày vậy.”

Tôi không để lời vặc lại của Mingyu làm cho bận tâm. Chiếc búa trong tay tôi nặng trịch, nhưng một trong những kĩ năng đã nằm sẵn trong từng mạch máu và tế bào của con cái Apollo như tôi là ngắm mục tiêu và bắn cung. Ném một cái búa đinh về mục tiêu cũng đại loại thế.

Ngay khi chiếc búa đập vỡ lớp vỏ nhựa trong suốt bọc ngoài chiếc nút đỏ bên cạnh cửa ra vào và tiếng chuông báo cháy khẩn cấp reo lên khắp các dãy phòng học, rộn rã đến mức chói tai, đàn chim bắt đầu bay tán loạn. Tôi nhớ Hercules đã từng phải dùng đến chiếc chuông của Athena để làm lũ chim này hoảng loạn mới có thể giết chúng. Tuy chuông báo cháy nghe không vẻ vang bằng chiến tích ấy, khi rút cung tên và bắn những con chim điên loạn va đập vào nhau như những vụ tai nạn giao thông trên trời, tôi tự thấy bản thân cũng không đến nỗi tệ.

Mingyu là người nhìn thấy bảo vệ của trường học trước. Nó tóm lấy cổ tay tôi. Không biết là vì vừa sử dụng cầu lửa để tấn công lũ chim, hay vốn dĩ tay Mingyu vẫn ấm nóng như thế, cổ tay tôi thấy như bỏng rát, tê rần.

Chúng tôi cắm đầu cắm cổ chạy.

ii.

“Con sẽ cẩn thận mà mẹ,” Tôi nói vào ống nghe. Đứng bên ngoài bốt điện thoại công cộng, Mingyu trông căng thẳng như một lính gác đang sẵn sàng cho mọi cuộc tấn công bất ngờ, nhưng tôi nghĩ kể từ khi con chim cuối cùng trong đàn Stymphalian bị bắn rơi, không còn quái vật nào theo chân chúng tôi nữa.

“Hẹn con vào bữa tối ngày mai nhé,” Mẹ nói. Tôi vừa bảo với mẹ rằng có thể mình sẽ không về nhà hôm nay. Qua điện thoại, giọng mẹ dịu dàng, như thể mẹ tin chắc tôi sẽ quay lại vào tối mai. Càng cố để giấu mẹ chuyện tôi suýt chết mấy lần trong mùa hè vừa rồi, miệng tôi càng thấy đắng nghét như vừa nuốt xuống một hộp mực bút máy.

“Con sẽ cố về kịp ăn tối,” Tôi nói với mẹ. Mãi cho đến khi mẹ cúp máy, tôi vẫn thấy nỗi tội lỗi nghẹn lại trong cổ họng, không sao nuốt xuống được.

Thấy tôi không ngẩng đầu nhìn mình khi bước ra khỏi bốt điện thoại, Mingyu đằng hắng:

“Mày sao thế?”

“Không sao,” Tôi nói, biết chắc Mingyu sẽ không tin, nhưng cũng biết nó không bao giờ vạch trần mấy lời nói dối vụng về của tôi, “Còn chuyện ở Trại thế nào?”

Mingyu kéo tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh bồn hoa gần đó. Lúc này tôi mới có đủ thời gian để nhìn nó cho thật kĩ. Mới chỉ mấy tuần từ lần cuối chúng tôi gặp nhau trong đêm lửa trại cuối cùng của mùa hè, vậy mà trông Mingyu có gì đó khang khác: mệt mỏi hơn, gầy hơn. Mái tóc của nó trông như mấy ngày rồi chưa gội. Dính trên áo đồng phục Trại Con Lai và chiếc áo khoác denim cũ mèm không chỉ có bùn mà còn có cả máu đã khô cứng, bết lại trên ngực áo. Tôi hốt hoảng nhận ra Mingyu không đem theo balo. Điều đó có nghĩa là nó cũng không mang theo bất kì thứ gì để trị thương khẩn cấp, như rượu tiên và bánh thánh chẳng hạn. Tôi cau mày với nó:

“Khoan hẵng kể. Mày bị thương ở đâu? Sao ra khỏi Trại mà không mang rượu tiên và bánh thánh? Mày rời Trại mấy ngày rồi?”

Mingyu nghe một loạt những câu hỏi dồn dập đó, chỉ cúi đầu, không ngẩng lên nhìn tôi.

“Trên đường đi gặp một con Empousa, không sao đâu. Chuyện xảy ra gấp quá, tao không kịp chuẩn bị.”

Nghe nó nói như thể đó là chuyện bình thường nhất trên đời vậy. Đánh nhau với một quái vật hút máu có phân nửa cơ thể là kim loại, ừ, không sao đâu, đơn giản ấy mà. Tôi đảo mắt với Mingyu, nhìn cánh tay nó đang cố ép sát vào cơ thể như giấu diếm, đột nhiên có mong muốn mắng nó một trận cho đã miệng. Tôi tóm lấy cánh tay đó, hai hàng lông mày Mingyu nhíu chặt vì đau.

Mingyu lì lợm không chịu cởi áo khoác, tôi chỉ đành kéo tay áo lên tận khuỷu tay nó, nhìn những vết móng vuốt trải dọc bắp tay đang rỉ máu, không biết nên mắng hay nên chữa trị cho nó trước. Lần gần nhất bị Empousa tấn công, tôi suýt nữa đã bật khóc nức nở vì đau, nếu Jeonghan - một người bạn khác - không lao đến, nhét bánh thánh vào miệng tôi ngay lập tức. Thức ăn của thần thánh có tác dụng chữa lành mọi vết thương trong khoảng thời gian rất ngắn, nhưng nếu ăn quá nhiều, người ta có thể bị thiêu chết như chơi.

Lúc này tôi không có trong tay cả bánh thánh lẫn rượu tiên. Ngày nào đi học tôi cũng đem theo hai thức ấy, nhưng ban nãy vì vội tìm cách chạy ra ngoài với Mingyu, tôi đã quên béng mất mình vẫn còn để lại cặp sách ở lớp học - nơi có lẽ lúc này đang loạn cào cào cả lên vì tiếng chuông báo cháy giả. Nghĩ đến việc phải đối mặt với cô Ridlehoove vào buổi học sau, tôi thấy hơi rùng mình.

“Này,” Tôi chạm đầu ngón tay lên một vệt cào, máu từ vết thương thấm vào móng tay tôi, “Tao cũng không có bánh thánh hay rượu tiên. Dùng cách kia nhé?”

“Cũng được,” Mingyu đáp, gần như ngay lập tức. Nó không bao giờ lo sợ việc tôi dùng cách kia cả.

Tôi nắm lấy bắp tay Mingyu, cảm nhận mấy đầu ngón tay mình chạm lên miệng vết thương, máu dính cả lên tay tôi, nhưng hiện tại cũng không quan trọng mấy. Và tôi bắt đầu hát. Bài hát được viết bằng tiếng Hy Lạp cổ, khi trầm khi bổng như ngâm thơ, tôi vừa nhẩm lời vừa cảm nhận được cả tiếng hát của Cha bên trong đầu mình. Lần đầu tiên được Cha về cách chữa trị này, tôi thấy có chút nhảm nhí. Làm gì có chuyện những vết thương thể xác có thể chữa lành bằng một bài hát được. Vậy mà Cha làm được thật. Là con trai của ông, tôi thừa hưởng hầu hết những kĩ năng đó.

Hát đến câu thứ ba trong bài, bàn tay tôi bắt đầu phát sáng, gần như chuyển sang trong suốt. Đột nhiên tôi nhớ đến chuyện Seungkwan từng nói, rằng lần đầu tiên nhìn tôi phát sáng, thằng bé đã nghĩ người ta cấy vào trong người tôi mấy bóng đèn nhỏ li ti. Dường như đối với nó vào lúc ấy, chuyện này còn đáng tin hơn chuyện thần thánh có thật trên đời. Ánh sáng vàng dịu mắt len lỏi vào giữa những vết thương mở miệng của Mingyu, mềm mại và uyển chuyển như một tấm vải mỏng phủ lên đó, nhuộm da nó trong một màu lờ mờ, gần như tiệp với da tôi. Đó là lúc giai đoạn tiếp theo bắt đầu.

Những vết thương của Mingyu chầm chậm khép lại, đồng nghĩa với việc trên khắp bắp tay tôi, cơn đau buốt xộc đến, nhói lên như thể những chiếc móng vuốt bằng kim loại của Empousa đang ghim vào da thịt, cào xé và rạch những đường lạnh lẽo lên tôi. Tôi đưa bàn tay không vướng bận của mình, che mắt Mingyu lại. Nó ngoan ngoãn để yên cho tôi làm thế. Dường như nó tin rằng đó là một phần trong các giai đoạn chữa trị. Tôi chỉ không muốn Mingyu biết những cơn đau của nó đang chuyển sang mình mà thôi. Nếu nó biết, không đời nào nó để cho tôi làm việc này thêm một lần nào nữa. Dù sao cơn đau cũng sẽ sớm tan biến, tôi chỉ cần một chút ánh sáng mặt trời là được.

Bước cuối cùng của chữa trị cũng đã đến. Kí ức của Mingyu bắt đầu xuất hiện trong đầu tôi. Tôi thấy hơi buồn cười khi nghĩ đến việc này cũng giống như nhấn Ctrl + C ở bộ não nó và Ctrl + V sang não tôi vậy.

Tôi thấy buổi sáng ba ngày trước, Mingyu giật mình tỉnh dậy trên chiếc giường đơn kê một góc trong cabin số Chín - cabin dành cho con cái của Hephaestus. Nó ngoảnh đầu nhìn sang bàn làm việc bên cạnh giường của mình, nhưng bản thiết kế của nó đã biến mất. Tôi không đoán được đó là bản thiết kế gì. Chưa bao giờ tôi cố đi sâu vào kí ức quá xa trước thời điểm hiện tại. Mạo hiểm đi xa hơn một chút tức là sẽ có một lúc nào đó, tôi có thể chạm sâu tới tận nhiều năm trước, khi Mingyu tới Trại Con Lai. Mingyu đã tin tưởng để cho tôi chữa trị, tôi cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng những gì nó không muốn nhắc đến. 

Vì kí ức chỉ là những thước phim được mắt Mingyu ghi lại, tôi không đoán được nó đã nghĩ gì. Nó bật dậy khỏi giường, hỏi đi hỏi lại các anh chị em cùng cha khác mẹ để đảm bảo bản thân không để quên bức vẽ ở đâu đó, hay một đứa nhóc quậy phá nào đã chôm chỉa chỉ để cho vui rồi sẽ trả lại. Chỉ mười phút sau khi thức dậy, Mingyu đã tóm lấy áo khoác treo trên giá, chạy thẳng lên đỉnh Đồi Con Lai.

Cổng ra vào Trại nằm trên Đồi Con Lai. Mingyu không thèm báo lại một tiếng với bác Chiron - Giám đốc quản lý Trại. Thoáng nhìn không thấy bảo vệ ngồi dưới gốc cây thông Thalia đánh dấu ranh giới Trại với thế giới người thường, Mingyu chạy vội ra ngoài. Đó vốn dĩ là điều cấm kị. Á thần chúng tôi đi đến đâu cũng bị quái vật săn đón như cách fan cuồng theo chân thần tượng, vậy nên chúng tôi bắt buộc phải báo cáo với Trại trước khi ra ngoài. Trại viên nào tự ý rời Trại có thể sẽ bị kỷ luật, bị cắt khẩu phần tráng miệng, hay tệ hơn là bị phạt dọn chuồng ngựa. Không phải hội của tôi và Mingyu chưa bao giờ phá luật, nhưng tôi vẫn bồn chồn theo mỗi bước chạy của nó.

Quái vật đánh hơi được mùi á thần ngay sau khi Mingyu bước chân ra khỏi cổng Trại Con Lai. Nó bắt taxi vào trong thành phố, nhưng chỉ đi được một đoạn, chưa đến mười phút sau, cả bốn lốp xe đã phát nổ như thể Mingyu đã dùng hết vận may vào việc qua cổng mà không bị phát hiện. Mingyu buộc phải xuống xe đi bộ trên con đường mấp mô đầy ổ gà, không có lấy một dấu hiệu của chiếc xe nào ngang qua để xin đi nhờ.

Ả Empousa xuất hiện vào lúc đó. Một phần các Empousa có vẻ như ma cà rồng được miêu tả trong sách truyện bán nhan nhản khắp các cửa hàng. Chúng thu hút con người bằng vẻ ngoài, rồi hút máu họ. Chỉ có điều một chân của các Empousa được làm từ kim loại. Những khớp chân của cô ả kêu cọt kẹt khi nhảy xuống khỏi chiếc SUV xập xệ. Mingyu nhìn ả bước đến trước mặt mình, tay đã nóng bừng lên. Những đốm lửa nhảy múa trên đầu ngón tay Mingyu, chờ đợi như đang quan sát xem đối thủ muốn làm gì trước.

“Nếu cưng dập lửa đi thì chị sẽ cho cưng đi nhờ một đoạn,” Empousa nói. Giọng ả the thé như thể trong cổ họng có một cái đài bị hỏng, khiến mọi âm thanh phát ra nhão nhoét và chói tai.

“Lụi nghề hút máu rồi nên phải đi lái taxi sống qua ngày hả?”

Mingyu nắm chặt tay lại. Lửa âm ỉ trong lòng bàn tay nó. Tôi luôn tự hỏi cảm giác điều khiển được lửa sẽ như thế nào. Mỗi lần Mingyu xoè tay ra trước mắt tôi, chỉ trong một cái chớp mắt, những đốm lửa cam lập loè xuất hiện từ đầu ngón tay nó, lan dần ra xung quanh, tôi lại thấy chúng đẹp đẽ như một bức tranh, như một khung hình được cắt ra từ bộ phim nào đó. Cách nhau một khoảng, hơi lửa vẫn ấm nóng đến mức tôi thấy da thịt mình ran rát.

Giờ đây đốm lửa bỏng rát đó đang lặng lẽ bùng lên, âm ỉ, chậm rãi, đầy thăm dò. Empousa tiến về phía trước một bước, bộ móng dường như nhiều ngày chưa cắt tỉa, sơn một màu đỏ bóng chói mắt quẹt qua má Mingyu một cái. Nó tóm lấy bàn tay cô ả bằng tay không thuận, nhưng Empousa đã kịp ghim bộ móng gớm ghiếc đó vào da thịt nó.

Những hồi đau nhót, buốt rát bắt đầu từ đây. Từ góc nhìn của Mingyu, tôi thấy móng tay của Empousa bắt đầu rạch xuống, kéo rách da như cách một con dao bén ngọt có thể làm. Miệng vết thương kêu xèo xèo như bị hun cháy, toác ra mỗi lúc một rộng hơn, máu cũng thấm dần vào cả tay áo Mingyu lẫn bộ váy nhếch nhác của Empousai.

Mingyu thò cánh tay không bị giữ lại của mình vào túi đeo hông, rút ra một chiếc búa. Việc của Mingyu ở trại là thiết kế và sản xuất vũ khí cho các á thần, nhưng chưa bao giờ tôi thấy nó tự làm cho mình một cái. Mingyu không thích dùng kiếm như Seungcheol. Nó bảo rằng thứ ấy nặng nề, cồng kềnh quá. Mingyu cũng không dùng dao găm như Jihoon hay Jeonghan. Nó thấy cầm dao không được vừa tay. Lúc tôi gợi ý dạy bắn cung, Mingyu cũng từ chối nốt.

“Món này không dành cho tao, mày tự tập cho giỏi rồi bảo vệ tao là được,” Nó đùa với tôi trong bữa tối ngày chúng tôi quay trở lại Trại sau nhiệm vụ đi tìm cây trượng cho Hermes, tôi quyết tâm phải dạy nó dùng một món vũ khí vì lo rằng sau này Mingyu sẽ gặp nguy. Nghe Mingyu nói thế, tôi bĩu môi với nó:

“Tính núp sau lưng tao cả đời hay gì?”

“Cũng được,” Mingyu cười, thử cầm chiếc cung của tôi trong tay, “Để bao giờ có thời gian, tao thiết kế loại mũi tên khác cho mày, mới học được từ tụi bên trại Jupiter đấy.”

Tôi nghe thấy cũng xuôi tai, nhưng trong lòng vẫn thấy lo. Mingyu ra chiến trường bằng tay không, mà không phải khi nào dùng lửa cũng được, chắc chắn tôi phải bảo vệ nó thật nhiều mới được.

Nhưng rồi tôi dần nhận ra Mingyu không đem theo vũ khí rườm rà là có lí do cả. Chiếc túi dụng cụ phép thuật mà nó xin xỏ được từ cựu cố vấn trưởng có thể chứa vô vàn dụng cụ, từ bu-lông cho đến ốc vít, từ búa cho đến cưa máy. Mingyu chỉ cần nghĩ đến một vật là có thể triệu hồi được ngay. Mấy lần trong các trận đấu, nó vẫn thường rút ra từ trong túi một cây búa, một cái tua vít, thao tác tay nhanh nhẹn như thể đây là những thứ vừa vặn với nó nhất trên đời, không phải kiếm, dao, hay cung tên.

Đó là vũ khí của Mingyu. Cây búa nằm gọn trong tay, nó không chần chừ mà khua về phía Empousa. Thay vì máu đỏ, từ vết thương toang hoác một bên đầu, ộc ra thứ gì đó sền sệt, đen ngòm như là bùn pha lẫn với dầu nhớt. Trong lúc ả gào lên đau đớn, Mingyu rụt cánh tay đầy vết thương của mình lại.

Empousa không phải loài có nhiều kiên nhẫn. Một tay ôm lấy vết thương đang không ngừng rỉ ra chất lỏng đen sệt, cô ả bắt đầu điên cuồng lao về phía nó, vung chân đá. Đôi chân làm bằng đồng kêu kẽo kẹt theo mỗi cũ tung lên, tôi thầm nghĩ ăn một cú đá thôi cũng đủ để tôi phải nằm trong bệnh xá của Trại một ngày. Mingyu có lẽ cũng nghĩ thế. Nó lùi bước hai lần, đến lần thứ ba, người nó đã chạm phải thanh chắn ven đường.

Không còn đường lùi nữa, khi chiếc chân đồng chỉ còn cách mặt vài xen-ti-mét, Mingyu vươn tai trái nắm chặt lấy chân ả. Empousa gào lên với Mingyu:

“Ngươi nghĩ sức của một đứa trẻ con có thể đấu lại ta sao?”

“Không,” Mingyu đáp. Đúng là thế thật. So với Empousa vài ngàn năm tuổi, bọn loắt choắt mười mấy tuổi như chúng tôi chỉ là trẻ con.

Nhưng bàn tay Mingyu đã bắt đầu bén lửa. Ngọn lửa bập bùng sắc cam, mỗi lúc càng sậm màu giận dữ. Mấy ngón tay nó chìm giữa sắc lửa đó, khớp hằn lên trắng bệch. Tôi biết Mingyu đang phải gồng mình để giữ lại cẳng chân ả Empousa.

Tôi không biết Mingyu đã làm bằng cách nào. Tôi đã từng thấy nó thiêu cháy một cánh đồng, đốt một con Sinh-Ra-Từ-Bùn chỉ trong chớp mắt, nhưng chưa bao giờ tưởng tượng được nhiệt độ từ nó có thể cao đến thế. Từ trong lòng bàn tay của Mingyu, bắp chân bằng đồng dần chuyển sang sắc cam, sáng rực như trong một lò rèn.

Mà đó là lĩnh vực của Mingyu: làm việc với đồng, với thép, uấn nắn chúng thành hình dạng nó muốn. Nó dùng sức, bẻ ngược cẳng chân Empousa ra phía sau.

Ả gào lên một tiếng nghèn nghẹn như thể cái đài hỏng trong cổ họng vẫn chưa sửa được, rồi tan biến thành bụi vàng trước cả khi tiếng vang kịp vọng lại. Đó là lần đầu tiên tôi thấy Mingyu làm thế.

Nhìn đám bụi vàng bay tứ tung xung quanh, đợi chúng tan ra, nó mới ngồi phịch xuống bên đường. Cả cánh tay phải của Mingyu tràn một lớp máu đỏ. Nó nhìn xuống bàn tay còn lại của mình, dường như cũng không hề biết bản thân có thể làm nóng chảy kim loại chỉ bằng một chút sức lực như thế.

iii.

“Tao đếm đến ba thì mở mắt nhé,” Tôi nói với Mingyu, nó ngoan ngoãn gật đầu.

Chữa trị đã xong xuôi, vết thương trên tay Mingyu lúc này chỉ còn là những vết sẹo lờ mờ, người khác nhìn vào hẳn sẽ nghĩ nó đã từng bị thương cách đây từ lâu lắm. Nhưng tôi chưa thể để Mingyu mở mắt, vì không muốn nó thấy mình đang mệt. Tôi ngửa mặt, đón lấy ánh sáng Mặt Trời rót xuống má và tóc mình, để yên cho nắng như thấm vào da thịt, nhẹ nhàng như thể đích thân Cha đang xoa đầu khen mình. Khoan khoái đón lấy nắng một lúc lâu, tôi mới quay sang nhìn Mingyu:

“Được rồi. Một, hai, ba.”

Mingyu mở mắt. Nó cúi đầu nhìn xuống cánh tay, lúc này không còn vết thương nào nữa, rồi cười với tôi:

“Mày kì diệu thật đấy.”

“Có gì đâu.”

“Hát cũng hay nữa.”

Tôi định đáp lại rằng vì Apollo là vị thần của âm nhạc, việc tôi biết hát là lẽ dĩ nhiên, nhưng không hiểu sao lại thấy không cần thiết. Tôi cúi đầu:

“Cảm ơn,” Tôi để yên cho Mingyu gạt mấy sợi tóc dính mồ hôi khỏi trán mình, “Ban nãy tao nhìn được một chút, chưa rõ chuyện lắm. Bản thiết kế gì vậy?”

Mingyu trông rất căng thẳng. Nó kéo tay áo xuống, mãi mới chịu lên tiếng:

“Tao và anh Jihoon mới phác thảo thiết kế một pháo đài,” Mingyu nói nhỏ. Giọng nó nghe có vẻ lo lắng hơn là tiếc nuối, “Bọn tao dự định tạo ra một loại súng mới, đặt ở pháo đài đó.”

Một ông cụ dắt chó đi dạo đi ngang qua chúng tôi. Có lẽ đã nghe được câu cuối cùng của Mingyu nên ông nhìn hai đứa rồi mỉm cười như thể chúng tôi đang nói chuyện trên trời, vừa chậc lưỡi vừa lẩm bẩm gì đó về việc trẻ con thời nay đắm chìm vào trò chơi điện tử quá. Tôi không để bụng chuyện đó. Tôi và Mingyu là hai đứa nhóc mười lăm tuổi, thậm chí tôi còn đang mặc đồng phục trường trung học, người ta nghĩ vậy cùng phải. Hẳn không một ai tưởng tượng nổi một thằng nhóc trông nhếch nhác như Mingyu lúc này đang nói về những pháo đài thực sự.

Nó nhìn theo ông cụ chậm rãi đi xa dần, thở hắt ra:

“Bác Chiron nói rằng gần đây những cuộc họp trên đỉnh Olympus đều không diễn ra tốt đẹp. Bọn khổng lồ lại đang lên kế hoạch gì đó, chúng ta phải tăng cường bảo vệ ranh giới Trại Con Lai để đề phòng. Vậy nên anh Jihoon mới nảy ra ý tưởng xây pháo đài,” Mingyu sờ lên cánh tay như thể những vết thương vẫn còn ở đó, khiến nó bứt rứt, “Tối hôm trước, tao để bản thiết kế trên bàn rồi đi ngủ. Chuyện làm pháo đài không phải bí mật, các thành viên trong nhà tao cũng biết, thậm chí còn xem rồi cho ý kiến, nên tao nghĩ không cần phải cất đi. Thế rồi nó biến mất.”

Tôi đặt một tay lên lưng Mingyu, vỗ nhè nhẹ như cách mẹ thường dỗ dành mỗi lần tôi buồn, dù tôi không chắc “buồn” đã đủ để tả Mingyu lúc này chưa. Nó khom người, tựa đầu lên vai tôi.

“Mày nghĩ phe khổng lồ lấy đi à?”

“Tuần trước tao đã gặp Oracle.”

Nghĩ đến việc phải chạm mặt Oracle, tôi thấy hơi rùng mình. Đó là một cái xác ướp khô quắt, bất động trên chiếc ghế đẩu đặt giữa gác xép lộn xộn, đầy bụi bẩn của Nhà Lớn ở Trại Con Lai. Linh hồn của Nhà Tiên Tri trú ngụ bên trong đó, cho các á thần những lời khuyên và những dự đoán về nhiệm vụ của họ. Mỗi lần phải gặp Oracle, tôi đều có cảm giác như hơi thở lạnh lẽo của bà ta sẽ ám ảnh, quấn quanh mình, mãi mãi không rũ bỏ được. Mingyu không ngẩng lên nhìn tôi. Nó tiếp tục:

“Bà ấy nói Antaeus đang chuẩn bị làm gì đó. Khi bản thiết kế bị mất, tao nghĩ tới hắn đầu tiên.”

Tôi trầm ngâm trước tuyên bố đó của Mingyu, không phải vì sợ phải đối mặt với tên khổng lồ Antaeus, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu với những thứ còn ghê gớm hơn cả thế, mà là vì sự tội lỗi trong giọng nói của Mingyu. Tôi biết nó đang đổ lỗi cho bản thân vì làm mất bản thiết kế.

“Nhưng làm sao hắn vào Trại được? Chúng ta có ranh giới phép thuật kia mà?”

“Chắc mày là trại viên mới nên chưa biết,” Mingyu thở dài, “Nếu được người trong Trại cho phép thì vẫn có thể vào được.”

Ý nghĩ rằng trong số các trại viên có người tiếp tay cho Antaeus khiến ruột gan tôi nhói lên. Những người trong Trại đã tập luyện cùng tôi, chơi cướp cờ cùng tôi, cổ vũ tôi khi phải ra trận nhận nhiệm vụ đầu tiên. Tuy không thân thiết với tất cả, tôi vẫn luôn nghĩ trại viên Trại Con Lai đều là những đứa trẻ phục vụ cho chính nghĩa. Thấy tôi không nói gì thêm, Mingyu tiếp tục:

“Vậy nên tao phải đi lấy lại bản thiết kế, dù sao cũng là lỗi của tao. Trên đường đi tao đã nghĩ, chắc phải nhờ mày giúp mới được.”

“Sao vậy? Thấy tao giỏi đến mức Antaeus cũng phải sợ hả?”

Mingyu không cười vì câu đùa đó. Nó ngồi thẳng lên, bàn tay khi nào cũng ấm nóng của nó tóm lấy tay tôi:

“Không biết nữa, tự nhiên lại nghĩ nên tìm mày.”

Mingyu vụng về đứng dậy, kéo cả tôi theo. Hai vành tai nó đỏ bừng, sắc đỏ không biết bằng cách nào đã lan sang cả tôi, khiến tôi thấy mặt mày mình nóng rẫy, như thể một cơn sốt đột nhiên ập đến, khiến tôi choáng váng. Ngoại trừ tôi, khắp thành phố còn có rất nhiều á thần khác, thậm chí có cả bạn bè cùng hội với hai đứa, như là Jeonghan đang học đại học ngay gần đây, hay Vernon chỉ cách trường của tôi có hai dãy phố. Hóa ra tôi không phải người duy nhất thấy một năm học thật dài.

“Đi thôi,” Mingyu nói. Nó buông tay tôi ra, nhưng lòng bàn tay tôi vẫn thấy âm ấm, như thể hơi ấm đã dừng chân tại đó và không muốn đi tiếp nữa, “Giải quyết càng sớm càng tốt.”

“Ừ, đi thôi,” Tôi đáp, “Mày đã tìm đến tận nơi nhờ tao giúp, nên tao cũng rủ lòng thương vậy.”

iv.

Antaeus là một bán khổng lồ. Hắn thấp bé hơn so với những khổng lồ khác, chỉ cao chừng bốn mét và nếu đem so với tên khổng lồ tôi và Mingyu đã xử lý hồi mùa hè, hắn chỉ là một đứa trẻ con mà thôi. Vấn đề duy nhất mà chúng tôi phải cân nhắc là sở thích của hắn. Một vài tên khổng lồ thích gom kiếm của những kẻ thù mình đã giết làm thành một hộp tăm xỉa răng, một vài tên khác lại thích vá những chiếc áo giáp của các anh hùng bại trận làm áo choàng. Antaeus sưu tầm đầu lâu. Hắn là một kẻ đam mê kiến trúc và xây dựng lâu đài như thể cả cuộc đời hắn phụ thuộc vào điều đó vậy.

Antaeus sử dụng đầu của các nạn nhân để xây lâu đài. Hắn muốn dâng hiến một lâu đài thật nguy nga, thiêng liêng cho cha mình, Poseidon. Chắng trách suốt mấy thế kỉ nay Poseidon chẳng mảy may quan tâm đến hắn. Nếu tôi có một đứa con như Antaeus, tôi cũng sẽ hành xử như vậy thôi.

Lạc đề mất rồi. Nói chung, ngoại trừ những lúc xây lâu đài, Antaeus cũng giỏi xây dựng bất kì thứ gì nữa, bao gồm cả pháo đài mà Mingyu và Jihoon đã lên ý tưởng. Pháo đài được con trai của Athena và Hephaestus thiết kế, cải tiến với những lô cốt nhỏ nằm xen kẽ xung quanh để đảm bảo an toàn, lại thêm bản vẽ phác thảo khẩu pháo thần công cải tiến để tăng sức công phá; để lọt vào tay một bán khổng lồ, nghe thế nào cũng thấy nguy hiểm. Vì vậy Mingyu mới nói với tôi rằng, càng nhanh càng tốt.

Tôi biết chắc chắn một thứ có thể giúp chúng tôi đạt được tiêu chí càng nhanh càng tốt ấy.

Mingyu nhìn tôi đầy thắc mắc khi hai đứa dừng chân trước một ga-ra ô tô cũ rích, rêu bám đầy trên tường gạch thành những mảng cáu bẩn. Cái ga-ra nằm im lìm một góc trong bãi đất trống, như thể người ta đã bỏ quên nó và không bao giờ quay lại, mặc cho một mình nó mắc kẹt trong quá khứ. Tôi đẩy cửa, bụi xộc thẳng vào mũi, chui vào lồng ngực, ngay cả bàn tay tôi cũng đã dính một lớp bụi dày. Nhưng đó không phải thứ đáng bận tâm nhất. Tôi quay đầu, đón chờ phản ứng của Mingyu.

“Mày điên hả?”

Tôi kìm lại mong muốn được đánh vào gáy nó một cái:

“Không khen được một câu thì thôi.”

Mingyu chạy đến bên cạnh cỗ xe nằm yên lặng giữa ga-ra. Đó là một chiếc xe kéo, hệt như mọi chiếc xe kéo khác, ngoại trừ việc nó được làm từ vàng, thứ vàng Imperial chỉ được khai thác trên đỉnh Olympus. Giữa cái tối tăm dày đặc của ga-ra, cỗ xe tỏa một ánh sáng vàng dịu mắt như mời gọi chúng tôi ngồi lên. Tôi nhìn theo Mingyu đang cần thận quan sát, đánh giá các bánh xe.

“Mày định trộm hả? Cỗ xe Mặt Trời luôn đấy?”

Lần này tôi không cản được bản thân nữa. Tôi vỗ vào gáy Mingyu một cái thật kêu, mặc cho nó vừa ôm gáy vừa lẩm bẩm sao tao lại tìm mày không biết nữa, huýt sáo một hơi dài để gọi ngựa đến, rồi mới quay lại nhìn nó:

“Chẳng lẽ Cha tao làm thần Mặt Trời bao nhiêu thế kỉ nay mà chỉ có một cỗ xe Mặt Trời duy nhất? Giờ này ông ấy đang lái chiếc BMW trên trời ấy chứ. Cha bảo tao có thể mượn tạm khi cần đến.”

Mắt Mingyu sáng lên. Có lẽ đây là khoảnh khắc nó vui nhất suốt từ sáng đến giờ. Cỗ xe Mặt Trời dường như là sự lựa chọn duy nhất của chúng tôi. Không thể cứ bắt taxi đi tìm Antaeus được, chúng tôi biết, bằng cách này hay cách khác, các yêu quái và chính bản thân Antaeus sẽ tìm cách làm hại con người vô tội; cũng không thể quốc bộ quanh New York cho đến khi tìm thấy Antaeus. Có lẽ hắn sẽ xây xong pháo đài nhắm vào Trại Con Lai trước cả khi chúng tôi kịp đến nơi.

Hai con Pegasus lông trắng gõ bộ móng của chúng xuống sàn nhà thật ồn ào như thể muốn thông báo, “Chúng tôi đây rồi!” khi lao vào trong ga-ra. Bộ cánh ép sát vào lưng chúng rung lên, dường như đang muốn xòe ra thật rộng, phóng vào bầu trời ngay lập tức, chỉ đợi tôi đồng ý. Chúng là những con vật kéo xe cho Cha tôi. Tạm thời, chúng thuộc về tôi. Điều đó có nghĩa là, mặc dù tôi thấy có lỗi với những chú ngựa bay đã nhiều năm liền không được thỏa thích sải cánh, lần này chúng vẫn không được phép bay. Tôi có ấn tượng không được tốt đẹp với việc ở quá cao cách xa mặt đất cho lắm.

Mingyu giúp tôi tròng dây cương vào hai chú Pegasus, siết chặt những sợi dây đầy thuần thục như thể nó đã làm điều này nhiều lần trước đây, dù tôi biết, cũng như tôi, Mingyu không thể ở cao hơn mặt đất chừng năm mét mà không run như cầy sấy. Cỗ xe Mặt Trời cùng hai chú ngựa uể oải rời khỏi ga-ra chỉ khoảng mười phút sau đó.

Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm thấy biết ơn Màn Sương Mù đến thế. Màn Sương phủ lên mọi bộ não của người thường, khiến họ chỉ nhìn được những thứ mà bộ não họ giải thích được, tức là mọi thứ liên quan đến thế giới thần thoại của chúng tôi đều được bọc trong một lớp vỏ an toàn. Không biết nếu người ta nhìn thấy hai thằng nhóc ngồi trong một cỗ xe kéo làm bằng vàng với hai con ngựa có cánh đi phía trước sẽ cảm thấy thế nào, thật may vì lúc này, trong mắt họ, có lẽ cỗ xe Mặt Trời cũng chỉ là một chiếc ô tô bình thường như mọi chiếc ô tô khác. Chúng tôi lướt đi thật nhanh trên cao tốc, vượt qua những chiếc xe phóng đi như điên cuồng. Một đứa trẻ thò đầu ra khỏi cửa xe, reo lên với mẹ nó:

“Mẹ ơi! Hai anh này đi xe ngựa có cánh này!”

Tim tôi thắt lại vì giật mình. Đôi lúc tôi quên mất Màn Sương Mù không có tác dụng với trẻ con. Thế nhưng người mẹ chỉ coi đó là một trong những lời nói vu vơ khác của đứa trẻ trong thế giới mộng mơ của riêng nó. Bà chỉ tập trung vào lái xe. Mingyu cười với đứa bé, nhắc nó ngồi ngay ngắn lại vào trong xe, trong khi tôi ra lệnh cho hai chú Pegasus tăng tốc hơn một chút.

Cẩm nang toàn thư về quái vật của Jihoon viết, Antaeus thích xây lâu đài gần biển để có thể cho Poseidon thấy. Mingyu và tôi ngồi trên xe, đoạn đường bên cạnh đã vắng người dần, thi thoảng chỉ có một bóng xe vượt lên phía trước rồi biến mất sau khúc cua, cùng bàn luận về các bãi biển có khả năng nhất. Chúng tôi loại từ những bãi biển đông người qua lại, quanh năm suốt tháng đầy ứ khách du lịch, vì dù có ngớ ngẩn đến mức nào đi chăng nữa, không đời nào Antaeus lại chọn một nơi như thế. Hắn cần nơi có không gian lớn, ít người qua lại, để lâu đài thiêng liêng của hắn không bị con người phá hỏng.

Chúng tôi vẫn chưa tìm được điểm đến hợp lý, hai chú Pegasus đã kiệt sức. Kì nghỉ hè vừa mới kết thúc không lâu, sức nóng vẫn chưa nguội bớt, phả lên từ mặt đường như muốn nướng chín chúng tôi thành món khai vị, ngay cả ngựa thần như Pegasus phải kiệt sức cũng là điều dễ hiểu. Hai đứa chúng tôi nhảy khỏi xe, tháo dây cương cho hai chú ngựa để chúng đi loanh quanh tìm ăn. Tôi thủ thỉ với một trong hai chú, “Quay lại sớm nhé”, dù biết chắc chúng không thể hiểu.

Tôi nhảy lên ngồi trên dải chắn ven đường, chỉ một lúc sau, Mingyu cũng ngồi xuống bên cạnh. Không biết từ lúc nào, Mặt Trời đã lặng lẽ tiến về phía Tây, nhuộm một mảng trời thành sắc cam trông như ai đó đã nung chảy đồng rồi đổ xuống. Ánh sáng hắt lên mặt Mingyu như thể muốn nhuộm nó trong sắc cam đó, gay gắt và chói mắt đến kì lạ. Tôi đung đưa hai chân, quay mặt đi để nó không nhận ra má mình nóng bừng:

“Tao rất mừng vì mày đã tìm tao,” Tôi lí nhí trong cổ họng. Mingyu bắt chước tôi đung đưa chân. Cánh tay đã lành lặn của nó quàng qua vai tôi.

“Tao cũng thế. Tao với mày chiến đấu rất ăn ý.”

“Ừ,” Tôi đồng tình, không hiểu vì sao vẫn muốn một lý do khác nữa, “Với cả, học hành chán lắm.”

“Này,” Mingyu nói. Nó hơi nghiêng đầu về phía tôi. Màu cam trải lên da chúng tôi như một tấm vải màu trong suốt, nóng đến bỏng rát, tôi không dám ngẩng đầu nhìn vào mắt Mingyu, “Mấy tuần không có mày ở Trại, tao thấy hơi hơi nhớ.”

Có thứ gì đó nổ bụp một cái trong não tôi. Mingyu nhớ tôi, không rõ liệu có giống cái nhung nhớ đến mong mỏi tôi cảm nhận được mỗi lần nghĩ đến chuyện phải hết mấy tháng đi học nữa mới được gặp lại nó hay không. Tôi thấy người mình run lên dù đang ngồi dưới nắng, dưới nguồn sức mạnh lớn nhất của mình. Tôi mở miệng muốn trả lời, lại không biết trả lời thế nào, câu từ cứ nghẹn lại trong cổ họng.

“Tao...”

“Ta đang thấy gì thế này? Hai đứa con lai tự đến hiến đầu cho ta sao? ”

Một giọng nói the thé, rè rè như thể nó là bản thu lỗi của mấy trò chơi điện tử thời xưa khiến chúng tôi giật bắn mình. Tôi vô thức nắm lấy tay Mingyu. Mấy suy nghĩ sượt qua đầu tôi rất nhanh rồi vụt mất.

Antaeus. Antaeus tìm thấy chúng tôi trước khi chúng tôi tìm thấy hắn.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com