Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

lyluanHCM

Trong các bài nói, bài viết của mình, Người dùng nhiều cách diễn đạt khác nhau về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để giúp cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng: “lý luận phải liên hệ với thực tế” “lý luận phải đi đôi với thực tiễn” “lý luận kết hợp với thực hành”... Cốt lõi mà Người muốn nhấn mạnh là “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”[3]

Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm được Hồ Chí Minh chỉ ra trên tinh thần biện chứng, bổ sung cho nhau. Thực tiễn cần có lý luận soi đường, dẫn dắt chỉ đạo để không phải mò mẫm một cách mù quáng. Còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, liên hệ với thực tiễn, phục vụ cho hoạt động thực tiễn nếu không thì lý luận đó chỉ là sách vở, giáo điều.

Từ mối quan hệ đó Hồ Chí Minh cho rằng để quán triệt nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn trước hết phải khắc phục bệnh kinh nghiệm, xem thường lý luận vì lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Người chỉ rõ “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”[4] kém lý luận, không có lý luận thường dẫn tới căn bệnh giáo điều, chủ quan và làm theo kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh.

Vậy thực tiễn và hoạt động khác nhau ở điểm nào? Hoạt động hiểu theo nghĩa chung nhất là phương thức tồn tại và phát triển hiện thực lịch sử. Một số tác giả đã dựa vào câu nói của C.Mác - "Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực tiễn" - để đồng nhất hai khái niệm "thực tiễn" và "hoạt động". Câu nói mang tính nguyên tắc đó của C .Mác cần phải được hiểu là: Thực tiễn là phương thức mà con người tác động qua lại với thế giới và cải tạo thế giới đó.C. Mác đem quan điểm đó đối lập lại với quan điểm của chủ nghĩa duy vật trực quan của L.Phoiơbắc. Không phải lý luận, mà chính thực tiễn là cái tạo thành bản chất của các mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên ở trong lòng xã hội. Bản thân quan hệ lý luận cần được tách biệt và lý giải dưới dạng một thành tố không thể tách rời được của thực tiễn.

Qua đó có thể kết luận rằng phạm trù "hoạt động", xét về ngoại diên, là rộng hơn phạm trù "thực tiễn". Vậy thì vấn đề quan hệ giữa hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn với tư cách là hai lĩnh vực cơ bản nhất của hoạt động xã hội phải được hiểu như thế nào?

Đây là hai phương thức quan hệ khác nhau với thế giới. Kết quả của quan hệ lý luận là tái hiện lại đối tượng trong ý thức, là mô hình lý luận của đối tượng. Còn kết quả của hoạt động thực tiễn là sự cải tạo vật chất đối với đối tượng. Thực tiễn chỉ có mặt ở nơi có các hình thức hoạt động có đối tượng cảm tính, có sự cải tạo đối tượng trên thực tế, chứ không phải là trong suy nghĩ.

Vậy phải chăng thực tiễn chỉ đơn giản là sử dụng đối tượng mà không có tính chủ quan, tính hướng đích? Đây là vấn đề quan trọng để phân biệt hoạt động lý luận với thực tiễn. Đúng là thực tiễn không thể thiếu ý thức. Song luận điểm đó không chứng tỏ sự đồng nhất của hai hình thức hoạt động khác nhau là thực tiễn và lý luận. Thứ nhất cần lưu ý rằng tham gia vào thực tiễn chỉ gồm có các kết quả đã đạt được trong quá trình nhận thức trước đó. Ý thức và sản phẩm của nó, trong trường hợp này không có một giá trị độc lập, nó không có nhiệm vụ cải biến đối tượng cảm tính của tự nhiên hay xã hội. Thứ hai, đương nhiên là có một cơ chế  để đưa các kết quả hoạt động lý luận vào thực tiễn. Song một điều hiển nhiên là thực tiễn cải tạo xã hội do quần chúng tiến hành đòi hỏi phải hoạch định mục đích, chương trình, phải nhận thức các nhiệm vụ chiến lược và sách lược. Chính vì vậy mà nó không thể thiếu lý luận, lý luận được tiếp biến vào các mục đích và các chương trình, phục tùng nhiệm vụ cơ bản của thực tiễn cải tạo xã hội.

Như vậy, giữa lý luận và thực tiễn bao giờ cũng tồn tại một mối liên hệ không thể tách rời. Song cho dù thực tiễn có hàm lượng lý luận nhiều đến đâu đi chăng nữa, thì thực tiễn và lý luận vẫn tồn tại với tư cách là hai lĩnh vực tương đối độc lập của hoạt động xã hội và bao giờ hình ảnh lý tưởng (kết quả của hoạt động lý luận) cũng đi trước hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, hoạt động bao giờ cũng bao hàm hai khâu cơ bản và mối liên hệ giữa chúng luôn mang tính lịch sử - cụ thể - đó là khâu nhận thức lý luận (sản xuất ra tri thức) và khâu thực tiễn (cải tạo hiện thực ).

Mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, cần được làm sáng tỏ hơn và cụ thể hơn khi chúng ta xét nó từ quan hệ chủ thể - khách thể. Thực tiễn là khâu trung gian cơ bản giữa chủ thể và khách thể. Chủ thể ở đây không đơn giản là con người có tư duy lý luận, con người bằng xương thịt. Chủ thể được thể hiện qua tồng thể các đặc trưng xã hội của nó, còn thực tiễn là phương thức cơ bản để nó tác động đến khách thể. Hơn nữa, quan hệ lý luận luôn phục tùng thực tiễn, phục vụ thực tiễn và phát triển trên cơ sở cải tạo thực tiễn xã hội. Nó, rốt cuộc, phải dựa trên cơ sở quan hệ thực tiễn với hiện thực. Đến lượt mình vốn là hoạt động của chủ thể có ý thức và ý chí, thực tiễn luôn bao hàm quan hệ lý luận của chủ thể với khách thể với tư cách là vòng khâu đặt mục đích của hoạt động thực tiễn.

Song, cũng cần nhấn mạnh một điều khác là: Tính độc lập tương đối của lý luận là có tính chất tương đối. Ví dụ, lý luận cách mạng hoàn toàn không phải là thực tiễn cách mạng. Tuy nhiên vốn được sinh ra bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội, lý luận cách mạng trở thành một bộ phận cấu thành tất yếu của thực tiễn xã hội. Khi tiên đoán tương lai, bản thân lý luận bắt nguồn từ thực tiễn quá khứ và hiện tại. Lý luận hoàn thành một chức năng nào đó trong xã hội không phải là ở ngoài khuôn khổ của thực tiễn, mà là ở bên trong bản thân thực tiễn xã hội.

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, cần được-vạch rõ cả trên các bình điện bản thể luận lẫn nhận thức luận. Trước hết cần phải phân biệt tính chất của mối liên hệ này với tính chất của mối liên hệ giữa ý thức và vật chất. Vật chất có thể tồn tại thiếu ý thức, song thực tiễn không thể tồn tại thiếu ý thức, đương nhiên là hình thức trình độ của ý thức có thể rất khác nhau ( cho tới tư duy lý luận). Nếu các đặc tính "thứ nhất" và "thứ hai" áp dụng được vào quan hệ giữa vật chất và ý thức, thì chúng lại không áp dụng được vào quan hệ giữa thực tiễn và ý thức. Nói cách khác, xét về phương diện bản thể luận, lý luận và thực tiễn tạo thành một thể thống nhất trong hoạt động xã hội tổng hợp. Sự đối lập của chúng trong khuôn khổ của sự thống nhất này là tương đối. Mặc dù vật chất và ý thức là các mặt đối lập tương đối về mặt bản thể luận, song vật chất là tiền đề, là nguyên nhân phát sinh của ý thức, trong khi đó thực tiễn không thể thiếu ý thức.

Xét về phương diện nhận thức luận, nếu vật chất và ý thức là tuyệt đối đối lập , thì thực tiễn và lý luận lại không tuyệt đối đối lập nhau. Trong lý luận nhận thức, tri thức về đối tượng tuyệt đối độc lập với bản thân lý luận. Các nhà duy vật trước Mác đã nhìn thấy điều đó nhưng họ không biết đối chiếu tri thức với đối tượng và do vậy, họ đã bất lực trước các lý lẽ của chủ nghĩa duy tâm. Nếu tuyệt đối đối lập thực tiễn với lý luận, thì chúng ta cũng sẽ vấp phải vấn đề đó. Vậy, đâu là bước chuyển từ lý luận đến thực tiễn? Trong khi đó cuộc cách mạng được C.Mác thực hiện trong nhận thức luận chính là ở chỗ: ông đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức ở lĩnh vực mà ý thức tuyệt đối đối lập với vật chất, Mác đã phát hiện ra khâu trung gian, bước chuyển từ cái ý niệm đến cái vật chất và từ cái vật chất đến cái ý niệm. Thực tiễn xã hội hoàn thành vai trò thước đo chân lý và cơ sở của nhận thức chính là do nó không đối lập tuyệt đối mà đối lập tương đối với ý thức về mặt nhận thức luận và do nó luôn là hệ thống những hoạt động nhằm đạt tới mục đích xác định. Do vậy, không nên tuyệt đối hoá cả tính chủ quan lẫn tính khách quan của thực tiễn.

Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải quán triệt nguyên tắc lý luận gắn với thực tiễn. Để làm được điều đó, một mặt phải ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận và trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Mặt khác phải có phương pháp học tập đúng đắn, học đi đôi với hành, lời nói phải đi đôi với việc làm. Người chỉ bảo “Lý luận rất cần thiết, nhưng nếu cách học tập không đúng thì sẽ không có kết quả. Do đó trong lúc học tập lý luận chúng ta cần nhấn mạnh lý luận phải liên hệ với thực tế”[5]Đồng thời Bác cũng nghiêm túc phê bình những cán bộ, đảng viên do chủ nghĩa cá nhân chi phối nên có động cơ học tập không đúng và người ân cần chỉ bảo “Học tập lý luận là nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với  Đảng” [6]. Như vậy theo Bác học tập lý luận không phải vì mục đích lý luận thuần tuý, càng không phải vì mục đích để “có một cái vốn” để “loè thiên hạ” mà học tập trước hết để làm người rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ Quốc, nhân dân cho nên đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải có thái độ học tập đúng đắn, nghiêm túc. Trong diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I trường Nguyễn Ái Quốc(7/9/1957) Hồ Chí Minh chỉ rõ “Việc học tập lý luận của các đồng chí không phải nhằm biến các đồng chí thành những người lý luận suông mà nhằm làm thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn nghĩa là các đồng chí phải học tập tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin; học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy vào giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”[7]

Lời chỉ bảo của Bác cho chúng ta một bài học sâu sắc về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn. Trong mối quan hệ đó cần nhận thức đúng đắn vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận, vì lý luận là kết quả của sự khái quát từ thực tiễn, là sự kết tinh của thực tiễn về mặt tư duy. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là người luôn sâu sát với thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Trên cương vị Chủ Tịch Nước bộn bề công việc nhưng Bác luôn dành nhiều thời gian đi thăm hỏi, tiếp xúc với nhân dân, cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, các cụ phụ lão, các cháu thanh thiếu niên, nhi đồng...điều đó đủ cho thấy Bác Hồ gắn bó với quần chúng, sâu sát với thực tế, với cơ sở như thế nào.

Với tấm lòng kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi chúng ta phải ra sức nghiêm túc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người, quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác “lời nói phải đi đôi với việc làm, lý luận phải gắn với thực tiễn”. Thực tiễn phong phú luôn vận động và phát triển không ngừng với những mâu thuẩn vốn có của nó, điều đó đòi hỏi thực tiễn phải thường xuyên được tổng kết một cách kịp thời để bổ sung cho lý luận, để lý luận thực sự đóng vai trò là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả hơn.

Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, nhiều vấn đề mới phức tạp đang nảy sinh trong một thế giới toàn cầu hóa ngày càng sâu sắc. Cùng với những thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới là những vấn đề phức tạp mới nảy sinh đã và đang đặt ra trong thực tiễn, nhất là trên phương diện kinh tế như vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, quan niệm như thế nào là bóc lột, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; hội nhậpkinh tế quốc tế với bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động nhất là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... là những vấn đề của thực tiễn đang đặt ra cần được tiếp tục luận giải một cách khoa học để làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới theo định hướng XHCN ngày càng có hiệu quả hơn.

Để giải quyết đúng đắn thực tiễn đang đặt ra đó đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm gắn lý luận với thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, bởi lẽ lời giải cho những vấn đề đang đặt ra đó chúng ta phải tìm ở trong chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và ở ngay cả trong thực tiễn đổi mới của đất nước.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: #hcm