Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

Sâu Răng

I. Định nghĩa

Vấn đề sâu răng

Sâu răng  là một bệnh ở tổ chức cứng của răng (men, ngà và cement), đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu và không hoàn nguyên được.

Có nhiều định nghĩa về bệnh sâu răng, dựa trên những nghiên cứu và nhận xét khác nhau về nguyên nhân cũng như tiến trình của bệnh, bệnh sâu răng có thể được định nghĩa như sau:

- Bệnh sâu răng là một quá trình động, diễn ra trong mảng bám vi khuẩn dính trên mặt răng, đưa đến mất cân bằng giữa mô răng với chất dịch chung quanh và theo thời gian, hậu quả là sự mất khoáng của mô răng (Fejerkov và Thylstrup).

- Là bệnh nhiễm trùng của mô răng biểu hiện đặc trưng bởi các giai đoạn mất và tái khoáng xen kẽ nhau (Silverston).

II. Dịch tễ học sâu răng

Sâu răng : Dental caries (tooth decay);

Mã ICD – 10 : K-02 ;

Sâu răng là một bệnh phổ biến ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, bệnh mắc rất sớm và gặp ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi dân tộc, mọi vùng địa lý khác nhau, mọi tầng lớp xã hội, trình độ văn hoá.

Sâu răng là một bệnh mang tính chất xã hội và có xu hướng tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế.

Năm 1969, ngân hàng dữ kiện sức khoẻ răng miệng thế giới của Tổ chức sức khoẻ thế giới (WHO/OMS) được thành lập, cho thấy ảnh hưởng của bệnh sâu răng trên thế giới có hai khuynh hướng trái ngược nhau. Tại các nước phát triển, sâu răng giảm rõ rệt từ mức cao xuống trung bình hay thấp, trong khi đó ở các nước đang phát triển sâu răng có khuynh hướng tăng từ thấp đến trung bình hay cao.

- Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới

Khoảng 90% trẻ em tuổi đến trường trên toàn thế giới và hầu hết người trưởng thành dều đã trải qua bệnh sâu răng. Tỉ lệ bệnh cao nhất là ở Châu Á và Châu Mỹ Latin và tỉ lệ thấp ở Châu Phi. Ỏ Mỹ sâu răng là bệnh mạn tính phổ biến nhất ở trẻ em gấp khoảng 5 lần so với tỉ lệ bị bệnh Hen. Ở người lớn tuổi 50 ti lệ bị sâu răng dao động trong khoảng 29% đến 59% giữa các nghiên cứu

- Tình hình bệnh răng miệng ở Việt Nam

Viện Răng Hàm Mặt quốc gia vừa đưa ra con số thống kê với 99,4% dân số mắc bệnh về răng miệng. Người càng lớn tuổi, càng bị sâu răng nhiều.

Cụ thể, tỷ lệ sâu răng ở độ tuổi dưới 18 là 87,5% (với 2,84 chiếc răng sâu/người); từ 33 – 44 tuổi là 83,2% (với 4,7 chiếc răng sâu/người) và trên 45 tuổi là 89,7% (8,43 chiếc răng sâu/người). Bệnh tập trung chủ yếu là viêm lợi kèm theo cao răng, có túi mủ quanh răng ở mức độ nông sâu khác nhau, bị viêm lợi nhẹ và mất răng.

Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc (được thực hiện năm 1999-2001) thì tỉ lệ sâu răng sữa ở trẻ em đang ở tuổi đến trường (từ 6-8 tuổi) là 85%, ở độ tuổi lớn hơn (9-11 tuổi), tỉ lệ này là 56,3%. Một điều báo động nữa là trong thực tế, tỉ lệ mắc bệnh sâu răng vĩnh viễn càng cao khi tuổi càng lớn.

Kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, do Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội và Đại học Adelaide (Australia) tiến hành gần đây, cho thấy trên 90% dân số Việt Nam bị sâu răng và mắc các bệnh về răng, đặc biệt tập trung ở lứa tuổi từ 35-44 (tỷ lệ mắc bệnh lên tới 98%).

1. Tỉ lệ bệnh và chỉ số SMT

Để đo lường mức độ bệnh sâu răng, người ta dùng tỉ lệ % và chỉ số SMT, trong đó S là răng sâu, M là răng mất do sâu và T là răng trám, SMT là chỉ số chỉ áp dụng cho răng vĩnh viễn và không hoàn nguyên có nghĩa là chỉ số này ở một người chỉ có tăng chứ không có giảm. SMT ở từng người có thể ghi từ 0 đến 32, đối với nghiên cứu dịch tễ học, SMT của cộng đồng là tổng số SMT của từng cá thể chia cho số cá thể của cộng đồng. Đối với răng sữa, khi áp dụng chỉ số này sẽ được ký hiệu bằng chữ thường smt, trong đó s là răng sâu, m là răng nhổ và t là răng trám.

Trên thế giới, để so sánh quốc tế và giám sát xu hướng của bệnh sâu răng, người ta tính chỉ số SMT ở lứa tuổi 12 (số răng sâu mất trám trung bình ở một người) theo các mức độ

- Rất thấp: 0,0 – 1,1 Thí dụ: Trung Quốc

- Thấp: 1,2 – 2,6 Cam pu chia, Mỹ, Nhật, Úc

- Trung bình: 2,7 – 4,4 Bỉ, Canada, Thuỵ Điển

- Cao: 4,6 – 6,6 Thái Lan, Na Uy

- Rất cao: > 6,6 Chi Lê

Sau 10 năm, qua điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2000 (Số liệu của Trần văn Trường – Tạp chí Y Học Việt Nam số 10/2001), tỉ lệ sâu răng trên toàn quốc ở các lứa tuổi như sau:

- Răng sữa: 6 tuổi 83,7%, chỉ số smt 6,15.

- Răng vĩnh viễn:

+ 12 tuổi 56,6%, SMT 1,87

+ 15 tuổi 67,6%, SMT 2,16 Nhìn chung trên thế giới, những nước đang phát triển tỉ lệ sâu răng còn cao, những nước đã phát triển thì tỉ lệ sâu răng giảm rõ rệt nhờ các chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng cộng đồng, sự cải thiện về các dịch vụ nha khoa phòng ngừa.

2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh sâu răng

- Tỉ lệ sâu răng gia tăng theo tuổi ở cả hệ răng sữa lẫn răng vĩnh viễn.

Sự phân bố sâu răng cũng khác nhau giữa các răng và các mặt răng, sâu răng giảm dần từ răng cối lớn dưới, đến răng cối lớn trên, răng cối nhỏ, răng cửa trên, răng cửa dưới. Từ mặt nhai đến mặt tiếp cận, mặt ngoài, mặt trong.

- Sâu răng chịu ảnh hưởng của môi trường gia đình và trường học.

- Trình độ văn hoá càng cao thì tình trạng sức khoẻ răng miệng được nâng cao, đặc biệt là kiến thức của người mẹ.

- Nền kinh tế – xã hội càng phát triển tỉ lệ bệnh càng gia tăng.

Ngoài ra, phí tổn chữa răng rất lớn, thí dụ ở Mỹ 9 tỉ USD/năm, ở Pháp 8 triệu Franc/năm, ở Việt Nam chưa tính được (Võ Thế Quang – Phòng bệnh sâu răng bằng Fluor – Nhà xuất bản Y học), đồng thời mất rất nhiều giờ công lao động.

Mặt khác, bệnh còn dẫn đến nhiều biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe chung, thẩm mỹ và dễ tái phát sau khi điều trị.

III. Nguyên nhân

Sâu răng gần như là một bệnh mắc phải do điều kiện môi trường, vì vậy các yếu tố tại chỗ là nguyên nhân cơ bản và chủ yếu của bệnh sâu răng còn nguyên nhân tổng quát chỉ là những yếu tố nguy cơ.

1. Nguyên nhân tại chỗ

Cần tối thiểu 4 yếu tố chính đồng thời tương tác với nhau để tạo nên sang thương sâu. Đó là: răng nhạy cảm, vi khuẩn (mảng bám), chất đường và thời gian (Keyes, 1969).

1.1. Răng

Điều hiển nhiên là phải có sự hiện diện của răng trong môi trường miệng, sau đó một số yếu tố làm tăng tính nhạy cảm của răng đối với sự khởi phát sâu răng ở mỗi cá thể như:

- Vị trí của răng trên cung hàm

+ Răng mọc lệch lạc, xoay dễ bị sâu hơn răng mọc thẳng hàng.

+ Nhóm răng hàm bị sâu nhiều hơn nhóm răng cửa.

- Đặc điểm hình thái học

+ Mặt nhai bị sâu nhiều nhất vì có nhiều rãnh lõm.

+ Mặt bên cũng dễ bị sâu vì men răng ở vùng cổ mỏng, giắt thức ăn.

+ Mặt trong, ngoài ít bị sâu hơn vì trơn láng.

- Thành phần cấu tạo của răng

Răng bị khiếm khuyết trong cấu tạo như thiểu sản men, ngà rất dễ bị sâu. Răng bị mất lớp men cũng giống như không được bảo vệ.

- Mòn răng

Răng bị mòn phần men cũng dễ bị sâu hơn (mòn răng có thể do chải răng sai phương pháp, móc răng giả, nghiến răng, ăn nhai lâu ngày…).

- Tuổi răng

Răng mới mọc kém cứng, dễ bị tác dụng của acid, với thời gian men răng được tái khoáng hoá làm chúng đề kháng hơn với acid.

1.2. Vi khuẩn

Streptococcus_mutans

Đây là nguyên nhân cần thiết để khởi đầu cho bệnh sâu răng, tuy không có loại vi khuẩn đặc biệt gây sâu răng, nhưng không phải tất cả vi khuẩn trong miệng đều gây ra sâu răng. Vi khuẩn bao gồm lượng mảng bám, các chất biến dưỡng và độc tố của nó.

Tùy theo vai trò gây sâu răng, các vi khuẩn được chia làm hai nhóm

- Vi khuẩn tạo acid

Các loại vi khuẩn này lên men carbohydrate tạo ra acid, làm pH giảm xuống + Lactobacillus acidophillus: hiện diện với số lượng ít, nhưng lại tạo ra acid có pH thấp rất nhanh trong môi trường. Lớp men răng với thành phần chính là hidroxyt apatit bắt đầu quá trình khử khoáng ở độ pH bằng 5,5 .

+ Streptococcus mutans: đây là tác nhân chủ yếu gây ra sự thành lập mảng bám, dính trên bề mặt răng và nếu có sự hiện diện cùng lúc hai yếu tố chất đường, thời gian thì sẽ có đủ điều kiện thuận lợi để khởi phát sang thương sâu; sau đó L. aci ophillus làm sang thương tiến triển xuống bên dưới bề mặt.

+ Actinomyces: cũng có thể gây sâu răng.

- Vi khuẩn giải protein

Làm tiêu hủy chất căn bản hữu cơ sau khi mất vôi.

1.3. Thực phẩm

Là những thức ăn cần thiết mà cơ thể hấp thu vào để sống và hoạt động. Tuy nhiên, thực phẩm cũng là một yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng, vì đó cũng là chất dinh dưỡng của vi khuẩn. Tùy theo loại thực phẩm, tính chất của thực phẩm và chế độ sử dụng nó, mà có thể sâu răng hoặc không.

- Carbohydrat

Các chất bột, đường là loại thực phẩm gây sâu răng nhiều nhất. Trong đó đường là loại thực phẩm chủ yếu gây sâu răng và làm gia tăng sâu răng, đặc biệt là loại đường sucrose, đây là chất dưa thích của vi khuẩn gây sâu răng, nó chuyển hoá thành acid và chính sự sinh acid này làm mất khoáng men. Điều quan trọng là khả năng gây sâu răng không phải do số lượng đường, mà do số lần sử dụng và thời gian đường bám dính trên răng. Đường trong trái cây, rau (xilitol, sorbitol) ít gây sâu răng hơn đường trong bánh kẹo. Tinh bột không phải là nguyên nhân đáng kể, vì trong nước bọt có enzyme amylase biến tinh bột thành đường rất chậm.

- Protid

Các loại Protid nguyên thủy ít gây sâu răng, ngược lại những loại protid

được chế biến làm tăng sâu răng do tính chất bám dính của nó.

- Lipid.

Các chất béo không gây sâu răng.

Những thực phẩm có tính chất xơ ít gây sâu răng, trong lúc những thực phẩm mềm dẻo, dính vào răng thì dễ gây sâu răng hơn.

Chế độ ăn đầy đủ, đúng bữa, không ăn vặt sẽ giảm được sâu răng.

1.4. Thời gian

Vi khuẩn gây sâu răng sau khi nhiễm vào môi trường miệng, tự nó sẽ không gây sâu răng được mà cần phải có chất đường giúp cho sự chuyển hoá của vi khuẩn, tuy nhiên sâu răng không phụ thuộc vào số lượng, số lần sử dụng đường mà phụ thuộc vào thời gian đường và mảng bám vi khuẩn tồn tại trên bề mặt răng, thời gian tồn tại càng lâu thì vi khuẩn chuyển hoá đường thành acid càng nhiều và acid tấn công gần như thường xuyên trên bề mặt răng làm mất khoáng men.

Tuy nhiên, quá trình mất khoáng có thể phục hồi hoặc giảm mức độ nhờ các thành phần khác nhau trong nước bọt, tốc độ tiết.

1.5. Nước bọt

Là môi trường hoạt động của các vi khuẩn trong miệng, nước bọt tiết càng nhiều càng giảm sâu răng (trung bình một ngày nước bọt tiết ra 1.500cc, khi ngủ lượng nước bọt tiết ra giảm đồng thời việc chải rửa vi khuẩn và chất carbohydrat ở mức tối thiểu, vì vậy sâu răng tăng trong giờ nghỉ).

Ngoài ra tính chất nước bọt lỏng hay quánh cũng ảnh hưởng đến bệnh sâu răng, nước bọt càng quánh thì sâu răng càng cao.

Nước bọt giữ vai trò

- Trung hòa acid: trên bề mặt men răng luôn luôn xảy ra hai hiện tượng trái ngược nhau: sự tạo acid bởi vi khuẩn và sự trung hòa acid bởi nước bọt.

- Sát khuẩn: ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật nhờ các chất lysozyme, lactoperosidase, lactofferrin chứa trong nước bọt.

- Chải rửa: làm sạch răng thường xuyên, với sự phối hợp cử động của môi, má và lưỡi v. v…, làm chậm quá trình hình thành mảng bám.

- Tái khoáng hoá: nhờ thành phần calci, phosphate trong nước bọt có thể tích tụ ở men trong giai đoạn sớm của sang thương sâu răng, khả năng này sẽ tăng lên nếu có sự hiện diện của fluor.

2. Nguyên nhân tổng quát

Đây là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sâu răng

2.1. Nòi giống (chủng tộc, dân tộc)

Theo quan niệm ngày xưa cho rằng có một vài chủng tộc có sức đề kháng tốt với sâu răng, nhưng ngày nay quan niệm đó không còn giá trị mà sâu răng tùy thuộc nhiều vào môi trường sống và vùng địa lý hơn là chủng tộc. Một số người thuộc chủng tộc ít sâu răng trở nên nhạy cảm với sâu răng khi di trú đến nơi có nền kinh tế phát triển, thói quen dinh dưỡng và nền văn hoá khác nơi họ sống trước đó. Thí dụ dân sống ở Bắc cực ít bị sâu răng hơn dân sống ở ôn đới, nhiệt đới (châu Âu, châu Á) vì để chống lạnh họ thường dùng thức ăn loại lipit hơn, nhưng khi di trú đến châu Âu, tình trạng sâu răng của họ cũng thay đổi theo nơi đó.

2.2. Di truyền

Hiện nay vẫn chưa được chứng minh rõ ràng. Tuy nhiên, người ta nhận thấy trẻ em ít bị sâu răng thường cha mẹ có răng tốt hoặc ngược lại và người ta cho rằng sâu răng có ảnh hưởng rất rõ với môi trường gia đình, do thói quen của trẻ được hình thành rất sớm và ảnh hưởng chủ yếu từ gia đình. Đặc biệt trong vấn đề giáo dục, dinh dưỡng và chăm sóc con của người mẹ.

2.3. Phái tính

Thông thường nam ít sâu răng hơn nữ, có thể do nữ ăn vặt nhiều hơn, mặt khác nữ còn chức năng thai nghén, cho con bú, rối loạn nội tiết… và nữ mọc răng sớm hơn nam.

2.4. Tuổi

Người ta nhận thấy bệnh sâu răng không phát triển đều đặn trong suốt đời, thường lứa tuổi từ 4 – 8 bị sâu nhiều, ở giai đoạn này những răng sữa bị phá hủy rất nhanh và nhiều. Từ 11 – 19 tuối, các răng vĩnh viễn bắt đầu bị sâu nhiều.

2.5. Nghề nghiệp

Tuy chưa được chứng minh rõ ràng chỉ nhận thấy công nhân làm việc ở

các nhà máy đường, xí nghiệp bánh kẹo dễ bị sâu răng.

2.6. Yếu tố nội tiết

Khi tuyến yên, tuyến cận giáp hoạt động kém sẽ ảnh hưởng đến sự thành lập men, ngà gây nên tình trạng răng bị thiểu sản men, men ngà bất toàn hoặc rối loạn nội tiết ở tuổi dậy thì, thai nghén…

2.7. Bệnh toàn thân

Những bệnh thời gian k do ài như sởi, thương hàn… ẫn đến vệ sinh răng miệng k m đưa đến sâu răng, hoặc ở bệnh nhân bị chứng khô miệng (xerostomia), xạ trị tuyến nước bọt, tiểu đường…, tỉ lệ sâu răng tăng.

2.8. Kinh tế – văn hoá – xã hội

Ảnh hưởng gián tiếp qua đời sống, sinh hoạt và nhận thức của con người, văn hoá càng cao thì nhận thức của con người được nâng cao về mọi mặt. Kinh tế phát triển mọi nhu cầu cũng gia tăng, đặc biệt là gia tăng mức tiêu thụ đường sẽ ảnh hưởng đến tỉ lệ bệnh sâu răng. Xã hội càng phát triển, các dịch vụ chăm sóc y tế, các chương trình phòng bệnh được quan tâm nhiều hơn…

IV. Sinh bệnh học

sơ đồ Keyes :

plaque: mảng bám và vi khuẩn

tooth : răng

diet : thức ăn hay chế độ ăn

Có rất nhiều thuyết để giải thích cơ chế gây bệnh, trong đó thuyết sinh acid (thuyết hoá học vi khuẩn) của Miller (1882) được nhiều người chấp nhận nhất.

Theo Miller vi khuẩn tác động lên bột, đường sinh ra acid, làm pH trong môi trường miệng giảm xuống Từ thuyết của Miller, Keyes (1962) đã tóm tắt lại thành một sơ đồ gồm ba vòng tròn biểu thị cho vi khuẩn, răng (men răng), thức ăn (bột, đường), sau đó được bổ sung thêm yếu tố thời gian. Phải có đủ 4 yếu tố tác động hổ tương, mới có sâu răng.

Đến 1975, người ta nhận thấy sâu răng không phải chỉ có đường và vi khuẩn S. mutans, mà còn chịu nhiều yếu tố khác chi phối, nên White thay vòng tròn chất bột đường bằng từ chất nền (substrate), bao hàm vai trò bảo vệ răng và trung hòa acid của nước bọt, vệ sinh răng miệng, kem đánh răng có fluor. Đặc biệt là độ pH của nước bọt và dòng chảy nước bọt quanh răng.

V. Giải phẫu bệnh

1. Đại thể

Lỗ sâu thông thường có hình cầu, phần men bị phá hủy ít hơn phần ngà (chất khoáng ở men > ngà), bờ lỗ sâu lởm chởm, đáy và thành lỗ sâu có ngà mềm. Lỗ sâu có thể to hoặc nhỏ, nông hoặc sâu.

2. Vi thể

2.1. Sâu men

Sự hủy khoáng từ men răng đến ngà răng vào buồng tủy tạo ra hình hai tao giác hợp với nhau tại đường giao nhau của ngà răng và men răng

Khi men răng bị phá hủy, dưới kính hiển vi điện tử thấy các trụ men bị cắt thành từng mảnh nhỏ, sau đó đến những trụ men bị tách rộng rồi đến men răng bình thường.

2.2. Sâu ngà

Khi phá hủy qua phần ngà, dưới kính hiển vi thấy lỗ sâu có bốn vùng

- Vùng hoại tử

Ở vùng này các trụ men bị hư hại, có các mảnh vụn ngà răng, vi khuẩn trong miệng, lớp này thường bị che phủ bởi một lớp thức ăn.

- Vùng nhiễm trùng

Ống ngà bị xâm lấn bởi vi khuẩn, trong lòng ống ngà và chung quanh ống ngà đều có hiện tượng mất chất khoáng. Mô bị phá hủy không có khả năng hồi phục.

- Vùng bị ảnh hưởng

Giữa lớp này, lòng ống ngà bị xâm nhập bởi một số vi khuẩn, trong lòng

ống và chung quanh ống ngà hơi bị mất chất khoáng.

- Vùng xơ hoá

Lòng ống ngà bị bít lại bởi những phân tử chất khoáng, đây là bức tường ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn và chỉ có ở răng còn sống.

VI. Hình thể lâm sàng và triệu chứng

1. Sâu men

Thám trâm nhỏ dùng để khám sâu răng

Đây là hình thể đầu tiên của bệnh sâu răng, khác với các mô khác, men răng không có tế bào mạch máu, thần kinh, nên triệu chứng chủ quan chưa có. Triệu chứng khách quan

- Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai, hoặc chung quanh rìa miếng trám cũ.

- Men răng đổi màu trắng đục hoặc vàng nâu.

- Dùng thám trâm khám thấy men răng lởm chởm không còn trơn láng và mắc kẹt.

2. Sâu ngà

Là giai đoạn tiếp theo của sâu men không điều trị hoặc sâu ngay từ đầu

nếu lộ ngà (thiếu men vùng cổ răng, mòn ngót cement vùng chân răng). Ngà răng là mô có thần kinh và phần kéo dài của nguyên bào tạo ngà trong các ống ngà, nên dù mới chớm cũng có cảm giác đau với những kích thích vật lý, hoá học, cơ học.

2.1. Triệu chứng chủ quan

- Ê buốt khi kích thích (nóng, lạnh, chua, ngọt, thức ăn lọt vào, mài xoang…).

- Ê buốt chấm dứt ngay sau khi hết kích thích, và tụ lại ở răng nguyên nhân không lan toả.

2.2. Triệu chứng khách quan

- Men, ngà răng chung quanh lỗ sâu đổi màu trắng đục, vàng hoặc hơi nâu.

- Khám bằng thám trâm: bờ lỗ sâu lởm chởm, thành và đáy lỗ sâu có lớp ngà mềm, nạo quanh lỗ sâu bệnh nhân có cảm giác đau.

- Gõ răng không đau.

2.3 Triệu chứng thực thể

Sâu ngà răng thường tiến triển thành từng đợt, khi ở giai đoạn tiến triển thấy đáy lỗ sâu nền màu vàng và có nhiều ngà mủ bong ra. Khi ở giai đoạn ngừng tiến triển thấy đáy lỗ sâu cứng và có màu đen.

Lỗ sâu thường có hình giọt nước : miệng nhỏ đáy rộng

Có 6 loại lỗ sâu:

Loại 1 : sâu mặt nhai

Loại 2: sâu mặt tiếp giáp giữa mặt nhai và mặt bên răng hàm

Loại 3 : Sâu mặt bên răng cửa

Loại 4 : Sâu mặt bên rìa cắn răng cửa

Loại 5 : sâu cổ răng

Loại 6 : Sâu mặt bên rìa cắn răng hàm

Sâu men gốc răng Thường gặp ở người già do nướu bị co lại, nhất là ở 1/3 cổ (vì lớp cement mỏng), nên sâu cement dễ biến thành sâu ngà.

A : Lỗ sâu loại 1 trên mặt nhai răng hàm

B : Lỗ sâu hình giọt nước ở phần ngà răng trên phim chụp X quang

C : Lỗ sâu loại 2 ở men răng ở giai đoạn bắt đầu sâu

D : Lõ sâu loại 2 Khi đã làm sạch lỗ sâu

Lỗ sâu loại 2 : mặt nhai răng hàm

Lỗ sâu loại 3 : sâu cạnh bên răng cửa 11, răng cửa 12 và răng cửa 21 .

Cũng có thể thấy lỗ sâu loại 5 ở răng nanh 13

Lỗ sâu loại 5 : sâu ở cổ răng

VII. Chẩn đoán

1. Chẩn đoán xác định

Dựa vào triệu chứng lâm sàng: đau do kích thích, men răng đổi màu, đáy lỗ sâu có lớp ngà mềm…

2. Chẩn đoán gián biệt

Trên răng có thể có các tổn thương không do sâu cần phân biệt với tổn thương sâu như

Mòn cổ răng hình chêm cần phân biệt với sâu răng

2.1. Thiểu sản men

- Có khi răng mới mọc.

- Thường đối xứng hoặc trên các răng mọc cùng thời kỳ.

- Đáy cứng, không có lớp ngà mềm.

2.2. Mòn ngót cổ răng (lõm hình chêm)

- Ở vùng cổ răng, mặt ngoài các răng 3, 4, 5 (o chải răng sai phương pháp), hoặc ở mặt trong và mặt ngoài của những răng mang móc hàm giả tháo lắp.

- Đáy cứng và trơn láng.

2.3. Sún răng ở trẻ em

Chỉ có ở hệ răng sữa và thường xảy ra ở trẻ trước tuổi đến trường, gặp trên các răng cửa, răng nanh hàm trên. Tổn thương lan theo chiều rộng, đáy cứng, không đau ù mất đến nửa thân răng.

VIII. Điều trị

1. Sâu men

Trước đây thường phá sạch các rãnh mặt nhai để trám dự phòng. Ngày nay nhờ những hiểu biết mới, men răng có khả năng tái khoáng hoá, nên sâu men không cần điều trị chỉ cần giữ gìn vệ sinh răng miệng và tăng cường sử dụng Fluor. Tuy nhiên, đối với trẻ có nguy cơ sâu răng cao như vệ sinh răng miệng kém, thường xuyên ăn chất đường (bánh kẹo, sữa, nước ngọt….) thì cần phải trám dự phòng bằng composite, glass ionomer cement (GIC).

Có thể làm sạch bằng bàn chải, thổi khô rồi phủ lên mặt lớp men một lớp bảo vệ

2. Sâu ngà

Nguyên tắc trong điều trị sâu ngà là làm sạch lỗ sâu bằng cách nạo sạch ngà mềm, sát khuẩn và trám kín với vật liệu thích hợp (Eugenate, Amalgame, Composite, Glass Ionomer Cement), nhằm làm mất cảm giác đau cho bệnh nhân. Ngày nay với vật liệu hiện đại có thể trám răng mà không cần máy khoan răng, được gọi là kỹ thuật trám răng không sang chấn (A. R. T: Atraumatic Restorative Treatment), đây là một phương pháp trám răng với dụng cụ bằng tay và G. I. C, kỹ thuật rất thích hợp với trẻ em cũng như những nơi không có máy móc, bác sĩ chuyên khoa, điện…

Hàn răng bằng Glass Ionomer Cement ( Cement thủy tinh ):

Hàn răng bằng Amangam :

Amangam ( Một hợp kim gồm Bạc, đồng, thủy ngân và một vài hợp kim khác )

Hàn răng bằng Composite:

Hàn răng bằng sứ đúc inlay:

IX. Tiến triển và biến chứng

Từ sâu ngà không điều trị, bệnh sâu răng sẽ tiến triển đến tủy gây viêm tủy cấp, sau đó tủy sẽ bị hoại tử dần đưa đến viêm tủy mãn rồi đến tủy chết, thối.

Những chất hoại tử của tủy có thể lan tràn ra xung quanh gây ra bệnh lý viêm quanh răng hoặc thoát qua lỗ chóp chân răng gây nên những bệnh lý vùng quanh chóp, viêm tổ chức liên kết, viêm xương hàm…, hoặc tụ lại ở chân răng tạo nên u hạt, nang chân răng… Ngoài ra, vi khuẩn có thể gây những biến chứng ở xa như viêm xoang hàm, viêm nội tâm mạc (Osler)…

Thông thường, biến chứng của sâu răng không nguy hiểm, nhưng iễn tiến của bệnh sẽ trải qua nhiều đợt đau làm mất ăn, mất ngủ, ảnh hưởng đến sức khoẻ, học tập và công việc.

X. Dự phòng

Sâu răng là một bệnh phổ biến, tỉ lệ mắc bệnh lại cao không chỉ ở số lượng người mà cả số răng sâu trung bình ở một người. Trong khi đó trang bị và người chưa có đủ mà phí tổn điều trị rất lớn, nên việc phòng bệnh cần được quan tâm. Tuy nhiên việc giữ gìn sức khỏe răng miệng đòi hỏi phải có sự hợp tác lâu dài và không ngừng giữa nha sĩ và bệnh nhân. Ngày nay việc dự phòng sâu răng không phải là khó, dựa vào nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh, chúng ta đã biết rằng để sâu răng xảy ra cần bốn yếu tố cơ bản phải hiện hữu đồng thời

- Một lượng đủ lớn vi khuẩn sinh sâu răng.

- Một răng dễ bị sâu (men răng xấu, hố rãnh…).

- Đường, bột.

- Thời gian tồn tại của đường, mảng bám trên răng.

Sâu răng không xảy ra, hoặc được phòng ngừa hoặc đươc ngăn chặn khi một trong bốn yếu tố trên không còn. Do vậy, bác sỹ nên hướng dẫn bệnh nhân các phương pháp hữu hiệu sau đây

- Giảm số lượng vi khuẩn (tác nhân) bằng các biện pháp vệ sinh răng miệng.

- Giảm mặt răng dễ bị sâu (vật chủ) bằng cách tăng cường sử dụng Fluor.

- Giảm sự tiếp xúc thường xuyên với chất bột, đường (môi trường), tránh ăn vặt, hạn chế ăn bánh kẹo…

Cụ thể đối với cộng đồng, ta có các cấp dự phòng sau

1. Cấp 0: khi bệnh chưa xảy ra

- Cải tạo môi trường nước uống có Fluor (đối với vùng thiếu Fluor, hàm lượng

Fluor trong nước sinh hoạt + Fluor hoá nước công cộng với nồng độ 1. triệu.

+ Fluor hoá nước trường học với nồng độ 4. triệu.

- Nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá để nâng cao nhận thức và bảo đảm chế độ dinh dưỡng cho toàn dân, cần nhất đối với phụ nữ mang thai, cho con bú và trẻ em.

2. Cấp 1: khi bệnh có khả năng xảy ra

- Triển khai chương trình nha khoa cộng đồng, chủ yếu giáo dục phòng bệnh.

- Triển khai chương trình nha học đường trên toàn quốc với các nội dung giáo dục nha khoa, súc miệng với NaF 0,2 % 1 tuần/lần, tổ chức khám và chữa răng tại trường, trám bít các hố rãnh.

Viên NaF

- Hướng dẫn các biện pháp vệ sinh răng miệng chủ yếu là chải răng sạch sau khi ăn và trước khi ngủ, chải đúng phương pháp.

- Kiểm soát thực phẩm (giảm lượng carbohy rate, tránh ăn vặt)

- Tăng cường sử dụng Fluor dưới mọi hình thức:

+ Chải răng với kem đánh răng có Fluor

+ Súc miệng với NaF 0,2 % tuần/lần.

+ Gel Fluor để bôi.

+ Uống viên Fluor với liều lượng như sau: 0 – 6 tháng: 0,25 mg F/ngày; 6 – 18 tháng: 0,25 – 0,5 mg F/ngày; 18 – 2 năm: 0,25 – 0,75 mg F/ngày; Sau 2 tuổi: 0,5 – 1,0 mg F/ngày

- Phục hình răng mất, chỉnh hình răng mọc lệch lạc.

3. Cấp 2: khi bệnh đã xảy ra

- Điều trị sớm sâu ngà.

- Khám răng định kỳ mỗi năm một lần để phát hiện sớm các tổn thương.

4. Cấp 3: khi đã tiến triển đến tủy

- Điều trị tủy ngay, không để các biến chứng nặng xảy ra.

- Nhổ những răng không thể điều trị bảo tồn để tránh tồn tại một ỗ nhiễm tru

≡ Mục lục

I. Định nghĩa

II. Dịch tễ học sâu răng

1. Tỉ lệ bệnh và chỉ số SMT

2. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh sâu răng

III. Nguyên nhân

1. Nguyên nhân tại chỗ

1.1. Răng

1.2. Vi khuẩn

1.3. Thực phẩm

1.4. Thời gian

1.5. Nước bọt

2. Nguyên nhân tổng quát

2.1. Nòi giống (chủng tộc, dân tộc)

2.2. Di truyền

2.3. Phái tính

2.4. Tuổi

2.5. Nghề nghiệp

2.6. Yếu tố nội tiết

2.7. Bệnh toàn thân

2.8. Kinh tế – văn hoá – xã hội

IV. Sinh bệnh học

V. Giải phẫu bệnh

1. Đại thể

2. Vi thể

2.1. Sâu men

2.2. Sâu ngà

VI. Hình thể lâm sàng và triệu chứng

1. Sâu men

2. Sâu ngà

2.1. Triệu chứng chủ quan

2.2. Triệu chứng khách quan

2.3 Triệu chứng thực thể

VII. Chẩn đoán

1. Chẩn đoán xác định

2. Chẩn đoán gián biệt

2.1. Thiểu sản men

2.2. Mòn ngót cổ răng (lõm hình chêm)

2.3. Sún răng ở trẻ em

VIII. Điều trị

1. Sâu men

2. Sâu ngà

IX. Tiến triển và biến chứng

X. Dự phòng

1. Cấp 0: khi bệnh chưa xảy ra

2. Cấp 1: khi bệnh có khả năng xảy ra

3. Cấp 2: khi bệnh đã xảy ra

4. Cấp 3: khi đã tiến triển đến tủy

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com

Tags: