Kết thúc
"Khải bẩm bệ hạ, thần có điều thượng tấu." Từ hàng ngũ quan văn lại đi ra một người, nhìn chức quan cũng là một Đại phu gián nghị (nói lời can gián).
Lý Thánh Bình không có ấn tượng đối với người này, có điều hắn đã nói lời cảnh cáo trước rồi, nếu người này không biết nặng nhẹ, vừa hay trực tiếp đánh chết lập uy.
Nghĩ vậy, Lý Thánh Bình nói: "Nói."
"Khởi bẩm bệ hạ, thần cho rằng, bảo vệ quốc gia, không chỉ là bổn phận của tướng sĩ, cũng là bổn phận của chúng thần. Xưa có tán văn (một thể văn thời xưa, nội dung ca ngợi nhân vật) ca ngợi Ban Siêu(1) vứt bút tòng quân, cũng có Nho tướng Chu Lang làm điều đẹp, thần dù bất tài, cũng ngưỡng mộ tác phong của cổ nhân. Thế nhưng trọng văn khinh võ, cố nhiên là gốc rể trăm năm của Đại Hoa, thói đời khó dễ, phong tục tích tụ khó mà chuyển dời, nhất thời chợt biến, e rằng dân tâm không phục, sĩ tử oán hận. Bệ hạ xây học cung, lấy ngu kiến của thần, là vì nước sinh ra hiền tài, nuôi dưỡng trí thức, bọn thần không dám có chút oán hận. Nhưng tập tục xưa ngàn năm thay đổi chỉ trong một ngày, kích khởi ngàn tầng sóng, e rằng gây nên chuyện thời cuộc bất ổn, làm trái với ước nguyện ban đầu của bệ hạ. Bệ hạ suy nghĩ kỹ càng, dựa vào tài học, không phải người bình thường có thể so được, bản chất của kẻ sĩ là thiên tính, không phải làm ra vẻ; vốn dĩ trái tim đứng thẳng giữa trời đất, chí hướng tồn tại trên núi cao dã hạc, sách cổ Đại Hoa cũng tự ngạo, bỗng dưng lại cùng vũ phu sánh vai; mấy chục năm gian khổ chông đèn, lại không bằng ba năm học tập nơi học cung, dồn sức học hành, lại thấp hèn hơn kẻ lao lực, thần vì kẻ sĩ mà bi thương."
Đại phu gián nghị Võ Thư Lệnh nói xong, không khỏi nhắm mắt lại chờ Lý Thánh Bình xử trí. Y ôm chuẩn bị bị tước quan bỏ mạng mà nói những lời này, y cảm thấy nếu không vì văn nhân nói chuyện, Nho sinh thật sự sẽ bị giẫm dưới bụi đất, cho nên tuy trước mặt là đường chết, y vẫn cứ lòng đầy bi tráng mà đứng ra nói chuyện.
"Cuối cùng cũng còn người có thể nói vài câu tiếng người." Lý Thánh Bình cũng không tức giận như y dự liệu, giọng nói còn rất thoải mái. Lý Thánh Bình vốn không phải là người thích giết chóc, cho tới bây giờ chỉ hận kẻ thù đời trước, quốc tặc đời này, những người khác chỉ cần thật sự giữ quốc gia, thiên hạ, vạn dân trong lòng, hắn đều có thể nhường nhịn.
Lý Thánh Bình nói: "Chuyện này, kỳ thật trù tính đã lâu. Xem thời gian, lúc này năm trước, trẫm liền có dự định. Băn khoăn của Võ khanh, trẫm cũng từng nhiều lần cân nhắc, cũng từng cùng nhị vị tiên sinh Diễn Hành, Thiên Vấn và đệ tử hai người thương nghị."
Diễn Hành, Thiên Vấn phối hợp gật đầu thừa nhận.
"Đại Hoa vừa mới trải qua rối loạn, thiên hạ bước đầu thống nhất, Thát tử Man nhân(2) nhìn chằm chằm, hiện tại không giống ngày xưa, nếu cứ cố giữ lấy quy củ trọng văn khinh võ, không tránh khỏi việc bó tay không biện pháp khi bị xâm phạm biên cương. Một mực áp chế quân nhân, tướng sĩ, càng sẽ tổn thương lòng các chiến sĩ Đại Hoa nơi biên quan. Tương lai có biết bao nhiêu trận chiến phải đánh, trẫm nửa đêm tỉnh mộng, chỉ hận thủ hạ dưới quyền không người nào có thể mang binh, càng cảm thấy thành lập học cung là chuyện bắt buộc phải làm. Nâng cao địa vị quân nhân, lấy phòng vệ đầy đủ của Đại Hoa, lực lượng chinh chiến, cũng không thể trì hoãn. Tuy rằng trẫm xây dựng học cung, cất nhắc võ quan, nhưng cũng không làm suy yếu lực lượng nho sinh, tương phản, còn định xây thêm trường tư, gia tăng trường học địa phương. Trẫm không thích trọng văn khinh võ, nhưng cũng không có ý tạo thành cục diện trọng võ khinh văn. Tuy nhiên, nho sinh sĩ tử trước đây, thời kỳ buông thả không ràng buộc chỉ có chút danh tiếng là có thể khiến trẫm hạ chiếu cầu hiền đã một đi không trở lại. Bất luận văn võ, người có tài tiến lên, người không có tài lui xuống.
Khả năng của văn nhân, không chỉ có ngâm thơ đối câu, đàm thi luận họa. Chỉ biết nói suông, ngâm lời văn hoa thể hiện ý chí một đời rồi lưu danh muôn đời, nhưng lại có lợi gì cho dân sinh? Nếu chỉ sở trường chuyện này, quan nhập Nhạc phủ(3) cũng thế. Đại tài của văn nhân, ở trị quốc bình thiên hạ, là vì học tập người tài. Người có tài thật sự, như hai vị tiên sinh Diễn Hành, Thiên Vấn, nhập tắc chuyên cần tu dưỡng bản thân, đi khắp ngàn dặm, nhìn mọi việc trong thiên hạ, lập thuyết 'Binh Chú' 'Lý Thuyết' 'Thiên Diễn', xuất tắc truyền đạo giải thích nghi hoặc, đệ tử lấy số ngàn mà tính, hoặc khuyến học, hoặc phụ chính, hoặc quản lý ruộng đồng, đều có sở trường, xưng là có công giáo hóa cũng không sai. Hoặc như tiên sinh dạy học trong mấy vạn trường học nơi thiên hạ cửu châu, không chê vùng biên cương nghèo khó, không oán giận bần hàn, có hỏi tất đáp, có điều khiến dân biết rõ lý lẽ, hiểu được vinh nhục, rõ lễ nghĩa, tính tình phóng khoáng lạc quan, tinh thông pháp luật, đạo hạnh đoan chính, ngẫu nhiên còn có thành tựu, liền xưng cuộc đời này là đủ, thực tài như vậy, hơn kẻ chỉ nói suông biết bao nhiêu! Hoặc giả như đám người Trương khanh, hao hết tâm huyết phụ tá chính vụ, trẫm há lại nhẫn tâm trách móc nặng nề?"
Diễn Hành tiên sinh, Thiên Vấn tiên sinh cùng đám người Trương Lệnh Đức liền cười cười: "Bệ hạ, lại lấy cựu thần đùa giỡn."
"Ây, điều này sao lại nói là đùa giỡn?" Lý Thánh Bình nghiêm mặt nói, "Người có ích cho nước cho dân, trẫm sẽ ca ngợi bọn họ, giương danh bản thân lưu tên sử sách, làm lợi cho con cháu mấy đời. Không khen thưởng hai vị tiên sinh, lẽ nào lại khen thưởng cho bọn sâu mọt đất nước? Võ khanh, không biết trẫm trả lời, ngươi có vừa lòng?"
"Bệ hạ thánh minh, lo lắng chu toàn, thần nào có câu oán hận?" Đối với câu trả lời của Lý Thánh Bình, Võ Thư Lệnh cũng không phải hết sức hài lòng, đương nhiên y cũng chỉ định thăm dò một chút chuẩn bị của Lý Thánh Bình, nếu Lý Thánh Bình cũng nói bản thân suy xét đã lâu, đám người Diễn Hành lại rõ ràng móc nối tốt lý do thoái thác cùng hắn, Võ Thư Lệnh cũng không có lời phàn nàn gì để nói. Ý định ban đầu của y bất quá là lo lắng Lý Thánh Bình khư khư cố chấp dẫn đến thế gia phản công, vừa mới lộ ra chút manh nha của xu thế phục hưng không tránh được sẽ bị đả kích, nếu chủ thượng có chuẩn bị vẹn toàn, thần tử như y cũng không cần phải tiếp tục truy vấn. Huống hồ Lý Thánh Bình nói, khiến lòng y chấn động không ngớt. Y là từ khoa cử đi lên, vào đường làm quan mới phát hiện thế sự bất đồng với sở học, muốn làm một phân chuyện tình ích nước lợi dân cũng không có bản lĩnh kia. Lời của Lý Thánh Bình, đúng là một đao cắm vào mệnh môn của biết bao nhiêu nho sinh.
Kinh qua Võ Thư Lệnh làm xáo trộn, tiếp đến là vài người phát biểu ý kiến, cuối cùng cũng đặt dấu chấm hết.
Lý Thánh Bình mặc kệ chính bọn họ có tư tâm hay không, thời điểm có dị nghị đã qua, công sự quốc gia đại sự đã quyết định, hắn cũng lười nói lời ác độc mà truy vấn. Đương nhiên đây cũng là bởi vì mấy người sau đó hắn đều không quen, nghĩ nghĩ hẳn là không có thù, không có thù, vậy có thể nhẹ nhàng buông tha.
Sau lại cũng có người của thế gia mò ra được mạch đập của Lý Thánh Bình, biết nghịch lân của hắn ở đâu, vì thế cũng thử thăm dò tiếp tục phản đối, Lý Thánh Bình xem ở việc bọn họ còn chút đầu óc, cũng nhịn.
Lý Thánh Bình chiến với đám người Nho gia, ước chừng tốn mất hơn ba canh giờ.
Bên trong Mộ Thủ Nhất cùng hai vị tiên sinh, cùng với đồ đệ bọn họ đều từng tham chiến, cuối cùng cũng trấn áp hết người trong triều trước khi trời tối.
Trù bị cho tứ đại học cung đến đây coi như hoàn thành căn bản. Trong tứ đại học cung, muốn vào học cung, phải tra xét tám đời tổ tông, cửu tộc trong sạch, cần căn cứ vào bề trên, thân hào nông thôn cùng ba người có tư lịch tòng quân đảm bảo, quan huyện địa phương Thái Thú Tư Mã Thứ Sử thẩm tra tầng tầng, mới có tư cách thi, một khi phát hiện có người làm rối kỉ cương, đình chỉ người cùng thôn mười năm tư cách nhập học, quan huyện, lí trưởng bị miễn chức, thu hồi ưu đãi của thân hào nông thôn, tước đoạt tư cách đảm bảo của người bảo lãnh. Từ Thái Thú tới Thứ Sử đều giáng cấp ba bậc, nếu có người theo địch phản quốc, tru di tam tộc, từ người bảo lãnh tới Thứ Sử đều bị tội liên đới, học sinh khác được người bảo lãnh đứng ra bảo đảm phải xét duyệt tư lịch một lần nữa, quan huyện tới Thứ Sử liên quan kiểm tra đối chiếu học sinh khác một lần nữa. Thật sự là Tướng Học Cung trở thành học cung bồi dưỡng võ tướng cao tầng của Đại Hoa, điều học sinh học, thường hay liên quan đến hạch tâm quân sự của Đại Hoa, nếu có người để lộ bí mật hoặc phản bội, liên lụy thật sự rất lớn. Lý Thánh Bình gánh vác không nổi sự mạo hiểm này.
Y Học Cung, Nông Học Cung cùng Bách Học Cung, từ cao đến thấp chia làm bốn cấp bậc Thiên Địa Huyền Hoàng, sau khi học thành Huyền cấp có thể quyết định rời khỏi học cung, hoặc là lưu lại tiếp tục học tập, từ Địa cấp trở lên tư cách nhập học xét duyệt nghiêm ngặt giống như Tướng Học Cung vậy. Nếu như có người đem sở học cơ mật trong học cung tiết lộ cho địch quốc, liền cùng tội với học sinh phản bội trong Tướng Học Cung.
Ngoài ra, muốn vào Tướng Học Cung cần sát hạch, đo lường căn cốt, ngộ tính các loại, ba học cung khác thì không yêu cầu phương diện này, chỉ cần trắc thí cơ bản nhất, đương nhiên, người hứng thú với ba học cung này, vốn ít hơn nhiều lắm, căn cứ theo đánh giá của Lý Thánh Bình, trên lý thuyết ngắn ngủi mấy năm thời gian, ba học cung này đều chiêu sinh không đủ học viên.
Lý Thánh Bình làm ra nhượng bộ duy nhất, chính là buông tha cho ưu tiên của Võ cử. Về phần lợi ích cho nhân viên lên chức, Lý Thánh Bình có tính toán khác. Ví dụ như cháu Tiễn Trù – Tiễn Chi Từ, quận trưởng Trác quận thăng làm Tả Tư Mã U Châu gì đó, Lý Thánh Bình chỉ thỏa hiệp mặt ngoài, kỳ thực có sắp xếp khác.
Lúc đầu hắn định dùng tư khố thưởng thêm cho người đậu Võ cử cùng học sinh trúng tuyển học cung để kích thích bách tính học võ, dưới tình huống như vậy, hắn liền không thể không bãi bỏ những thứ thưởng thêm này.
Mà thôi, dù sao lúc đầu hắn đã chuẩn bị nhượng bộ một chút, chỉ là bãi bỏ thưởng thêm, không sao cả.
Sau khi kết thúc thảo luận chính sự, Lý Thánh Bình lại ban thưởng tiệc rượu cho quần thần, tới sau hoàng hôn mới tàn tiệc.
Lý Trường Định dùng bữa xong, không nhắc lời nào tới chuyện cáo từ, Lý Thánh Bình cũng vui vẻ khi có hắn cùng giải sầu, vì vậy lưu hắn ở trong cung một đêm, cung điện tùy ý chọn. Có điều bây giờ toàn bộ cung vua, chỉ có Tử Thần điện có chút hơi người, cung điện khác thì so với phế tích chỉ tốt hơn một chút, chỉ là thêm vào chút dụng cụ cần thiết, ba năm ngày có người quét tước một lần, vắng ngắt lạnh lẽo không khác gì lãnh cung.
Lý Trường Định dứt khoát mặt dày theo tới Tử Thần điện.
Mộ Thủ Nhất thông thường sẽ luyện võ một hồi, sau đó cùng Lý Thánh Bình xử lý công vụ, rồi cùng hắn rửa mặt tắm rửa, ngày này cũng giống vậy, chỉ là có thêm một Lý Trường Định bồi luyện, bồi chơi.
Thời điểm Mộ Thủ Nhất luyện công, Lý Thánh Bình có đôi khi sẽ ở một bên luyện chút kiếm thuật, có đôi khi an vị dưới hành lang nhìn không chớp mắt, chờ y thu thế liền tiến lên lau mồ hôi cho y.
Từ khi có con trai, quan sát Mộ Thủ Nhất luyện võ lại có thêm một nhóc đậu đỏ.
Nhóc đậu đỏ hiện tại đã được Lý Trường Định ôm, quanh miệng nhóc bôi đầy nước miếng.
Mộ Thủ Nhất luyện kiếm xong, thay một thanh miêu đao thật dài, thi triển từng chiêu thức đã thuộc nằm lòng, cuối cùng thu thế eo lưng vừa chuyển, mang theo đao phong như gió xoáy, nháy mắt đem bốn cọc gỗ mục tiêu bổ nát bấy.
"Tốt!" Lý Trường Định nắm tay cháu vỗ tay.
Bị cướp lời kịch Lý Thánh Bình cực kỳ bất mãn đá hắn một cước, tiên tay tóm lấy khăn tay nóng người hầu đưa lên tiến về phía Mộ Thủ Nhất lau trán lau cổ cho y, chọc cho Mộ Thủ Nhất chân tay luống cuống.
Lý Trường Định ôm cháu lành lạnh nói: "Khăn tay ẩm ướt cũng không sợ dơ vạt áo người ta, tẩu tử huynh cũng không nhắc nhở ca đệ một chút?"
Sắc mặt Lý Thánh Bình lộ vẻ lúng túng, thảo nào mỗi lần hắn lau mặt cho Mộ Thủ Nhất trước ngực y cuối cùng sẽ dính nước, mà Mộ Thủ Nhất lau mặt cho hắn thì lại không.
Mộ Thủ Nhất nói: "Như vậy cũng rất tốt."
Lý Trường Định giật giật mí mắt: "Tẩu tử ăn nói vụng về, sẽ không chu toàn mặt mũi, vậy đừng chu toàn nữa, giữa huynh đệ chúng ta còn lo mất mặt cái gì? Đúng không, ca?"
Lý Thánh Bình lại đạp hắn một cước, đồng thời kéo Mộ Thủ Nhất đi, chỉ bỏ lại một câu: "Cháu đệ giao cho đệ chăm sóc, nếu nói nhiều nữa ta liền đem đệ tống vào Thừa Minh điện!"
Thừa Minh điện không có người nào, tống vào đó còn không buồn chết? Lý Trường Định thức thời làm thủ thế tuyệt không lên tiếng, ngoan ngoãn nhìn theo Lý Thánh Bình rời đi.
Chờ Lý Thánh Bình cùng Mộ Thủ Nhất dần dần mất hẳn ở ngoài cửa, Lý Trường Định liền giơ cháu trai lên, làm mặt quỷ: "Lêu lêu tiểu tử kia cha không thương mẹ không yêu~ nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn trắng mịn của con bị cha con chà đạp đi nè? May mà con còn có thúc thúc nha! Đi, thúc thúc thương con!"
Chú thích:
(1) Ban Siêu: Ban Siêu, tự Trọng Thăng, người Phù Phong- An Lăng, là một danh tướng và là nhà ngoại giao triều Đông Hán. Khi Hán Quang Võ Đế mời nhà đại học sĩ Ban Bưu đến chỉnh lý lịch sử triều Tây Hán, hai người con trai của ông là Ban Cố và Ban Siêu, cùng con gái tên là Ban Chiêu cũng theo cha đến học tập văn học và lịch sử. Sau khi Ban Bưu qua đời, Ban Cố làm Lan Đài lệnh sử tiếp tục công việc biên soạn "Hán Thư" của cha, còn Ban Siêu làm công việc sao chép. Hai anh em tính tình rất khác nhau, Ban Cố say mê nghiên cứu và chăm chú viết Hán Thư. Còn Ban Siêu khi nghe tin Hung Nô quấy nhiễu vùng biên giới, liền bỏ bút xuống nói rằng: "Đại trượng phu phải như Phó Giới Tử , Trương Khiên lập công tại dị vực, cớ sao lại bỏ phí quá nhiều thời gian vào việc nghiên bút thế này", rồi sau đó gác bút tòng quân.
Hán Minh Đế cử đại tướng Đậu Cố xuất binh đánh Hung Nô, Ban Siêu được đảm nhiệm chức đại lý tư mã. Do chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công, nên ông được Đậu Cố khen thưởng rồi cử đi sứ Tây vực, liên lạc với các nước cùng chống lại Hung Nô.
Ban Siêu vất vả dặm trường trước tiên đến nước Thiền Thiện, vua nước này ban đầu tỏ ra rất cung kính và tiếp đón họ như khách quý. Mấy hôm sau, vua Hung Nô cũng cử sứ giả đến liên lạc với nước Thiền Thiện, chúng tìm mọi cách nói xấu nhà Hán, nên vua nước Thiền Thiện dần dần tỏ ra lạnh nhạt với Ban Siêu, thậm trí còn nảy sinh ý thù địch. Ban Siêu thấy vậy bèn lập tức triệu tập những người cùng đi bàn đối sách, họ quyết định trước tiên giết chết sứ giả Hung Nô để gây sức ép với vua nước Thiền Thiện. Tuy tình thế rất nguy hiểm, nhưng Ban Siêu vẫn không hề nao núng. Nửa đêm hôm đó, ông đã dẫn 36 người xông vào dinh sứ giả Hung Nô phóng hỏa, chém giết. Hung Nô không hề phòng bị, liền bị chém chết hơn 30 người, còn hơn trăm người khác đều bị thiêu chết. Ngày hôm sau, Ban Siêu mời vua nước Thiền Thiện đến, rồi sách thủ cấp sứ giả Hung Nô ra cho nhà vua xem, sau đó dùng lời lẽ khuyên răn. Nhà vua bấy giờ mới chịu thần phục, đồng ý cùng nhà Hán thiết lập quan hệ hữu hảo.
Ban Siêu hoàn thành sứ mệnh trở về Lạc Dương, được Hán Minh Đế khen ngợi, thăng làm Quân Tư Mã. Sau đó, Ban Siêu lại nhận được lệnh xuất sứ Vu Điền. Khi Ban Siêu đến bày tỏ nguyện vọng của nhà Hán muốn đặt quan hệ hữu hảo với Vu Điền. Vua nước này vì sợ quân Hung Nô, nên thái độ tỏ ra hết sức lạnh nhạt.
Bấy giờ, có một thầy phù thủy mách vua Vu Điền rằng: "Sứ giả nhà Hán có một con ngựa tốt, nên dắt về mổ tế thần, để thần minh phù hộ cho đại vương". Vua Vu Điền nghe vậy liền cử người sang chỗ Ban Siêu để lấy ngựa. Ban Siêu nói: "Ngựa có thể cho, nhưng hãy bảo thầy phù thủy tự sang đây mà dắt về". Người này trở về báo lại với nhà vua, thầy phù thủy tỏ ra rất hý hửng bèn cùng viên tể tướng nghênh ngang đến lấy ngựa. Ban Siêu chẳng nói chẳng rằng liền chặt phăng đầu thầy phù thủy, rồi nọc viên tể tướng ra đánh cho mấy trăm roi. Sau đó, tay sách thủ cấp thầy phù thủy đến gặp vua Vu Điền trách rằng: "Những ai không muốn hữu hảo với triều đình nhà Hán, thì cũng sẽ như thầy phù thủy này". Vua Vu Điền vốn đã nghe nói về những việc làm của Ban Siêu ở nước Thiền Thiện, sợ đến kinh hồn bạt vía, bèn lập tức bày tỏ nguyện cùng thiết lập quan hệ hữu hảo với triều nhà Hán.
Về sau, Ban Siêu vẫn tiếp tục xuất sứ các nước Tây vực, giúp đỡ những nước này vùng thoát khỏi sự ràng buộc và nô dịch của Hung Nô, khiến hơn 50 nước ở Tây vực đều quy thuộc triều Đông Hán. Vào một lần khác, khi Ban Siêu được lệnh chuẩn bị trở về Lạc Dương, các vương hầu, khanh tướng nước Su Lơ, nước Vu Điền v v, đều ứa nước mắt ôm lấy chân ngựa không nỡ cho ông về. Ban Siêu rất cảm động, liền viết thư lên triều đình yêu cầu cho mình ở lại Tây vực. Ban Siêu xuất sứ Tây vực từ năm 40 tuổi, đến năm 71 tuổi mới trở về Lạc Dương, sinh sống ở Tây vực 31 năm, đã bảo vệ cho nhà buôn đi lại trên con đường tơ lụa, khiến mối quan hệ giữa nội địa và Tây vực càng thêm gắn bó.
Năm 97 công nguyên, khi Ban Siêu nhậm chức Đô Hộ Tây Vực, đã cử sứ giả Cam Anh xuất sứ Đại Tần. Cam Anh đến vịnh Péc Xích thì bị biển chắn lối. Tuy lần xuất sứ này không đến được Đại Tần, nhưng đã phong phú thêm sự hiểu biết đối với các nước Trung Á, tạo điều kiện có lợi cho việc phát triển giao thông giữa TQ và phương tây sau này.
Nguồn:
(2) Thát tử: dân tộc Tác-ta (thời xưa, dân tộc Hán gọi dân du mục phương bắc là Tác-ta, thời Minh chỉ người phía đông Mông Cổ, phía đông bắc Nội Mông và nước Mông Cổ ngày nay), Man nhân: dân tộc ở phía Nam Trung Quốc thời xưa.
(3) nhạc phủ: quan đời Hán chuyên sưu tập thơ ca dân gian và âm nhạc, đời sau gọi những thể thơ và tác phẩm làm theo loại này cũng là nhạc phủ.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com