Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

Việt Bắc

1. MB.

Thế giới văn học tuyệt vời đã lưu giữ cho ta bao cuộc chia ly bất tử. Nhớ cuộc chia ly Lý Bạch với Mạnh Hạo nhiên trên lầu Hoàng Hoạc. Cuộc từ biệt Thúc Sinh của Thúy Kiều sau những ngày mặn nồng, thắm thiết. Cuộc đưa tiễn người chinh phu ra trận trong Chinh phụ ngâm ...Và đến văn học Việt Namhiện đại người đọc không thể quên cuộc chia tay lịch sử của dân tộc giữa hai tập thể người đầy bịn rịn, lưu luyến, vấn vương. Tất cả được ghi lại trong thước phim quay chậm mà Tố Hữu là người bấm máy. Từng dòng thơ, từng con chữ đong đầy nhớ thương. Để rồi hôm nay khi ngồi đọc lại Việt Bắc thì tất cả vẫn còn nóng hổi, vẹn nguyên vừa như mới hôm qua.

2. TB.

a. Hoàn cảnh sáng tác.
- Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954), Hiệp định Giơnevơ được kí kết, hoà bình được lập lại, một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10-1954, các cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc, nơi đã che chở, nuôi dưỡng cho cách mạng trong suốt những năm trường kì chống thực dân Pháp trở về Hà Nội.

– Cuộc sống thay đổi có tính chất bước ngoặt: từ chiến tranh sang hoà bình, từ núi rừng về thành thị. Biết bao lưu luyến ân tình với những nơi đã từng đồng cam cộng khổ, với những người đã từng "chia ngọt sẻ bùi". Người ra đi không khỏi bâng khuâng thương nhớ; người ở lại cũng không khỏi bịn rịn, trống trải, bùi ngùi...

=>Nhân sự kiện có tính chất thời sự và lịch sử ấy, Tố Hữu – một cán bộ của Đảng, một nhà thơ lớn của cách mạng đã sáng tác bài thơ "Việt Bắc" vào tháng 10-1954. Bài thơ đã có vinh dự được lấy làm tên chung cho cả tập thơ "Việt Bắc", một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một tác phẩm xuất sắc của thơ Việt Namthời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

b. KẾT CẤU BÀI THƠ:
- Một tác phẩm có cuốn hút độc giả hay không tác phẩm ấy cần phải có một kết cấu độc đáo. Tố Hữu đã xây dựng một kết cấu đặc biệt trong bài thơ Việt Bắc.

- DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG CỦA TÁC GIẢ ĐƯỢC PHÂN THÂN VÀO HAI TUYẾN NHÂN VẬT TRỮ TÌNH: NGƯỜI ĐI VÀ NGƯỜI Ở. MỘT BÊN CẤT LÊN LỜI HỎI THÌ MỘT BÊN ĐÁP LẠI KHIẾN NGƯỜI ĐỌC NHỚ ĐẾN LỐI ĐỐI ĐÁP GIAO DUYÊN TRONG CA DAO - DÂN CA. HỎI VÀ ĐÁP ĐỀU MỞ RA BAO NHIÊU KỶ NIỆM VỀ CÁCH MẠNG VÀ KHÁNG CHIẾN GIAN KHỔ MÀ ANH HÙNG, BẰNG CẢ NỖI NHỚ THƯƠNG. THỰC RA, BÊN NGOÀI LÀ ĐỐI ĐÁP, CÒN BÊN TRONG LÀ LỜI ĐỘC THOẠI, LÀ BIỂU HIỆN TÂM TƯ TÌNH CẢM CỦA CHÍNH NHÀ THƠ, CỦA NHỮNG NGƯỜI THAM GIA KHÁNG CHIẾN.- Cách xưng hô "ta" – "mình" gần gũi thân thương được Tố Hữu vay mượn trong ca dao, dân ca, khiến cho cuộc chia tay giữa hai tập thể người như một cuộc chia tay đầy lưu luyến, bịn rịn, vấn vương, thương nhớ như đôi lứa yêu nhau. Lời hỏi đáp như lời thủ thỉ ân tình cứ ngọt ngào thấm sâu vào lòng kẻ ở người đi.c. Phân tích.

Phân tích 8 câu thơ đầu
* Nhận xét chung:
- "Việt Bắc" được coi là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp, nhưng trước hết là một trong những đỉnh cao của thơ Tố Hữu. Bởi nó không chỉ thể hiện những tình cảm lớn lao của nhà thơ đối với kháng chiến, cách mạng mà nó còn kết tinh trong đó những đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của Tố Hữu.

- Đó là những đặc trưng về chất trữ tình chính trị, là đặc trưng về tính dân tộc, về màu sắc dân gian trong thơ Tố Hữu. Vì thế bài thơ vừa đem đến cho người đọc những nhận thức sâu sắc về niềm tự hào đối với cuộc kháng chiến thần thánh của chúng ta, lại vừa đem đến cho người đọc những rung cảm thẩm mỹ mạnh mẽ. Có thể thấy những đặc sắc này ngay từ những dòng thơ mở đầu của "Việt Bắc".

* Đại ý 8 câu thơ đầu:

TÁM CÂU THƠ ĐẦU, BẰNG NGHỆ THUẬT TÀI HOA, TỐ HỮU ĐÃ KHẮC HỌA KHUNG CẢNH CHIA LY NHƯNG THẤM ĐẪM TÌNH CẢM CỦA CẢ KẺ Ở LẪN NGƯỜI ĐI.

a. 4 câu thơ đầu – lời của người ở lại.
"Mình về mình có nhớ ta

Mười năm năm ấy thiết tha mặn nồng.

"Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?"

Ý 1: Vai trò của cấu tứ thơ đối đáp giao duyên trong bài thơ và đoạn thơ đầu:

- Người ta đã có lý khi nói thơ Tố Hữu là thứ thơ "đốt cháy trái tim để trở thành trí tuệ", từ cảm xúc mãnh liệt của trái tim mà thức nhận những chân lý sống, chân lý cách mạng. Với ý tưởng trữ tình hoá sự kiện chính trị cũng như đời sống chính trị của đất nước, viết "Việt Bắc", Tố Hữu đã sáng tạo nên một cấu tứ rất độc đáo-khúc hát đối đáp trong cuộc chia tay giữa người ở và người về xuôi để khơi gợi những kỉ niệm về những ngày kháng chiến gian khổ mà vẻ vang, rồi từ những kỉ niệm kia mà dựng lại quá trình trưởng thành của cuộc kháng chiến, dựng lên hình ảnh của nhân dân, của những người chiến sĩ, hình ảnh của Bác, của Đảng.

- Vì thế ngay từ những câu thơ mở đầu ta đã thấy cuộc trò chuyện tâm tình, những câu hát đối đáp giữa "mình" và "ta", song song, trùng phùng.

Ý 2: Cách xưng hô "mình", "ta":

- Nguồn gốc: 
Tố Hữu đã sử dụng những cặp từ đối đáp "mình", "ta" rất quen thuộc trong ca dao, dân ca để cuộc chia tay trở nên đằm thắm như của đôi lứa yêu nhau. Hai đại từ trên thường xuất hiện trong ca dao, dân ca để nói về tình yêu đôi lứa. Bạn đọc yêu nền văn học nguyên sơ này hẳn còn nhớ những câu ca chất chứa nặng ân tình: 

Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Hay:
Mình nhớ ta như cà nhớ muối

Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng
Rồi:

Mình về ta dặn câu này

Thương ta thì chớ đứng ngồi với ai

- Vai trò của những chữ "mình", "ta" trong đoạn thơ, bài thơ: 
Những chữ "mình", "ta" từ câu thơ mở đầu cho tới những dòng thơ cuối cùng luôn luôn nhắc gợi những tình cảm mặn nồng, không bao giờ phai nhạt giữa Việt Bắc và cách mạng, kháng chiến. Giữa hai tập thể người lúc này không còn đơn thuần là một cuộc chia tay chính trị, mà như cuộc chia ly đầy lưu luyến, bịn rịn không nỡ rời của đôi lứa yêu nhau. Càng mặn nồng bao nhiêu thì càng nhớ càng thương càng vấn vương lưu luyến.

Ý 3: Ân tình của người ở lại nhắn gửi người ra đi (hai câu đầu):

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Trong cuộc tiễn đưa đầy lưu luyến, bịn rịn của Việt Bắc đối với người về xuôi, khúc hát chia tay đã được bắt đầu cất lên từ chính lòng người ở lại. Tố Hữu như muốn nói lòng người Việt Bắc thuỷ chung với cách mạng biết nhường nào.

- Điệp từ "mình": Ngay từ câu thơ mở đầu, trong 6 tiếng đã có tới 2 tiếng "mình" thân thương. Sự trở đi trở lại tiếng gọi đối với "mình" như để nói lòng người Việt Bắc không nguôi nhớ người về xuôi, nhưng lại cũng như xoáy sâu vào ký ức của người về xuôi những kỉ niệm chan chứa nghĩa tình.

- Cụm từ "mình về": Như khẳng định một sự thật phũ phàng. Mình đã về thật, và giờ đây chỉ còn lại mình ta. Sự chia ly bao giờ chẳng phũ phàng:

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say...
(Tống biệt hành – Thâm Tâm)

- Cách xếp đặt hai từ "mình" và "ta" trong câu thơ:

+ Từ "mình" đặt ở đầu thơ nhưng từ "ta" lại xếp mãi cuối câu như mở rộng không gian biệt ly xa cách mình và ta trong phút chia xa.
+ Giữa khoảng cách vời vợi của ta và mình vang vọng một câu hỏi tu từ xoáy sâu vào lòng cả kẻ ở lẫn người đi "có nhớ". Người đọc liên tưởng đến câu hát ngọt ngào của bài "Ở hai đầu nỗi nhớ": "Ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn. Ở hai đầu nỗi nhớ, nghĩa tình đằm thắm hơn".

- Nghệ thuật sử dụng thanh điệu: Âm điệu của câu thơ chủ yếu được tạo bởi thanh bằng: "Mình về mình có nhớ ta", với một chữ "ta" ở cuối làm cho tình cảm nhớ thương vừa lắng vào lòng người trong cuộc chia tay lại vừa lan xa mênh mang.

- Kết cấu hai câu thơ mở đầu: Kết cấu của 2 câu thơ mở đầu là kết cấu của một câu hỏi tu từ, câu hỏi khơi gợi những kỉ niệm thiết tha mặn nồng, câu hỏi bao trùm cả không gian của 15 năm ấy. Câu hỏi thường có tác dụng khơi sâu vào lý trí của người nghe nhưng ở đây câu hỏi lại khơi gợi những kỉ niệm đầy xúc động của 15 năm cách mạng đã gắn bó với Việt Bắc để làm nên một Việt Nam dân chủ cộng hoà, bởi Tố Hữu đã sử dụng một thứ ngôn ngữ chan chứa cảm xúc. Hỏi đấy mà đâu cần câu trả lời vì cả người ở lẫn người đi đều thấy quá rõ tình cảm đậm sâu trong lòng mình.

- Cụm từ chỉ thời gian 15 năm:

+ 15 năm không phải là một khoảng thời gian dài nhưng với một đời người là điều đáng nói. Đặc biệt với những người xa lạ, sống gắn bó cùng nhau 15 năm là một điều cần khắc cốt ghi tâm bởi những vò kí ức đầy ắp ân tình. Bởi theo quan niệm sống của người phương Đông nói chung và lối sống duy tình của người Việt nói riêng mà các cụ ta vẫn răn dạy "một ngày nên nghĩa, chuyến đò nên quen" thì 15 năm quá đủ để gắn bó sâu nặng.
+ Những chữ "mười lăm năm ấy" gợi ta nhớ tới "cái thuở ban đầu" của tình yêu đã từng được nói tới trong câu thơ của Lưu Trọng Lư:

"Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy

Nghìn năm hồ dễ đã ai quên"
Người về làm sao có thể quên được mối tình đầu giữa cách mạng và Việt Bắc. Cùng với sự khơi gợi những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, những tình cảm "nghìn năm hồ dễ đã ai quên". 15 năm là khoảng thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh thân yêu của chúng ta trở về tổ quốc sau 30 năm bôn ba, mà nhà thơ Tố Hữu còn ghi lại trong một hình ảnh thơ đẹp đẽ và trong trẻo đến vô cùng:

"Ôi sáng xuân nay xuân bốn mốt
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về im lặng con chim hót

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ"
Khi về nước Người đã bắt tay vào xây dựng khu căn cứ địa cách mạng tại chiến khu Việt Bắc để làm thủ đô kháng chiến của dân tộc. Cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc cứ thế đã cùng sống, cùng ăn, cùng ở, cùng chiến đấu, gắn bó khăng khít và làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc "vang dội năm châu, chấn động địa cầu" năm 1954 đáng nhớ. Và rồi là một cuộc chia tay lịch sử.

- Cách sử dụng từ ngữ chỉ tình cảm: câu thơ còn được tiếp tục bởi những chữ "thiết tha mặn nồng". Một câu thơ viết về 15 năm của cách mạng nồng nàn, tha thiết và trữ tình biết bao.

+ Từ láy "thiết tha": cho thấy nỗi bâng khuâng, da diết trong tình cảm của người ở lại với người ra đi, đầy vương vấn.

+ "Mặn nồng": như sự nồng ấm của tình cảm lứa đôi được Tố Hữu gửi trao cho hai tập thể cách mạng để tình cảm ấy cứ lên hương, lên sắc, vương vấn mãi trong tâm hồn người ở và cả người đi.

Ý 4: Ân tình của người ở lại nhắn gửi người ra đi (hai câu sau):

- Nội dung bao trùm: Vẫn là một câu hỏi mà người ở lại hướng tới người về xuôi, vẫn là một cách xưng hô đầy tình tứ "mình" với "ta", nhưng ở 2 dòng thơ tiếp theo lại là câu hỏi bao trùm cả không gian của cuộc chia tay, không gian của những kỉ niệm qua suốt 15 năm ấy, không gian của cả đất nước, bao trùm cả miền ngược lẫn miền xuôi, không gian của cây với núi, của sông với nguồn. Một câu hỏi làm bâng khuâng cả đất trời trong buổi chia ly. Dường như ở đâu trong cái thời điểm ấy sự hoà hợp giữa niềm vui và nỗi nhớ, vì sự chia tay giữa "mình" với "ta" là một sự kiện lớn lao trong đời sống của đất nước.

- Hình ảnh thơ:
+ Mượn hình ảnh trong ca dao: Cái đặc sắc của câu thơ không chỉ thể hiện qua kết cấu của câu hỏi, qua từ ngữ xưng hô tình tứ mà còn qua những hình ảnh như được viết ra từ thể hứng thể phú, thể tỉ trong ca dao. Đọc câu thơ

"Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn"
Ta ngỡ như câu ca dao:

"Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu"
Hay:

"Qua cầu ngả nón trông cầu

Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu"
Thơ Tố Hữu viết về những vấn đề chính trị mà vẫn thấm cái hồn của ca dao, dân ca. Điều đó đã làm mềm hóa câu thơ, làm ngọt ngào thêm cho tình ý.
+Hình ảnh "cây, núi", "sông, nguồn": Người đọc như được trở về không gian nơi núi rừng Việt Bắc. Nhưng cái tài của Tố Hữu là chỉ bằng những hình ảnh thơ tưởng như vô cùng giản dị mà đã vẽ được cả không gian hiện tại và tương lai, cả miền xuôi lẫn miền ngược và của cả kẻ ở lẫn người đi. Một không gian mênh mang, bao trùm và trải dài miên man theo ân tình cách mạng. Đồng thời cũng nhắn nhủ người đi: có về miền xuôi rồi thì nhìn sông hãy nhớ suối nguồn, nhìn cây thì nhớ núi rừng chiến khu.

- Nghệ thuật ẩn dụ: Người ở lại đã khéo léo và tài tình biết bao khi nhắc nhở người ra đi có về miền xuôi rồi thì hãy nhớ đến những kỉ niệm và những tháng ngày nơi đây. Đặc biệt và không gian núi rừng Việt Bắc thông qua hình ảnh thơ: "Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn". Hình ảnh thơ này gợi người đọc nhớ đến câu tục ngữ: "Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Phải chăng người ở muốn khẳng định dù có đi đâu, về đâu hãy nhớ đến mảnh đất Việt Bắc, cái nôi của cách mạng làm nên chiến thắng, là cội nguồn của dân tộc.

=> 4 câu thơ như một bài ca dao, chất trữ tình gắn liền với những băn khoăn, trăn trở của người ở lại, của Việt Bắc thuỷ chung với cách mạng. Tố Hữu đã chọn được cách nói để khơi nguồn cho cảm xúc, mạch thơ trong những câu mở đầu này cứ thế tuôn chảy suốt bài thơ.

b. 4 câu thơ sau – lời của người ra đi
Nằm trong mạch hát đối đáp, Tố Hữu cũng dành 4 dòng thơ diễn tả tâm trạng người về xuôi, tạo nên sự cân đối với 4 dòng thơ mở đầu, tạo nên sự tương xứng, hài hòa. Ở 4 dòng thơ này như có sự nhớ thương đáp lại những nhớ thương, "tha thiết" hô ứng với "thiết tha", cái bịn rịn không nỡ rời.

Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

* Câu 1:

Ý 1: Đại từ phiếm chỉ "ai":

- Sự vay mượn trong ca dao: Trong ca dao đại từ phiếm chỉ "ai" được sử dụng với mật độ dày đặc và mang một màu sắc của tình yêu nhưng sâu lắng thiết tha mà không tiện nói ra:

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ
Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai
Hay:

Buồn trông chênh chếch sao Mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ

Buồn trông con nhện chăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?

Khi Tố Hữu sử dụng phiếm từ "ai" tạo nốt nhấn trong dòng thơ, để khắc sâu hình ảnh của người đi trong lòng người ở lại. Người dân Việt Bắc hãy nhớ về người ra đi như nhớ một người tình trong mộng không thể chung lối, chung đường. Chính vì thế nỗi nhớ ấy bâng khuâng, da diết biết bao.

- Nội dung đại từ "ai" trong câu thơ: 
Nằm trong mạch cảm xúc như của tiếng hát giữa đôi lứa yêu nhau, Tố Hữu buông một câu thơ rất tình tứ: "Tiếng ai tha thiết bên cồn" Chỉ một chữ "ai" thôi đủ làm say đắm lòng người. Chữ "ai" đâu phải để hỏi vì muốn biết ai; chữ "ai" đâu cũng còn là đại từ phiếm chỉ để chỉ chung, chỉ một đối tượng không xác định bởi ở đây cả "ta" lẫn "mình" đang lên tiếng hát cho cuộc chia tay đầy lưu luyến này. Chữ "ai" chỉ là một cách nói để làm tăng thêm tình cảm yêu thương, để câu nói trở nên tình tứ mà thôi.

Ý 2: Từ láy "tha thiết": Lời người đi đáp lại nỗi băn khoăn của người ở, từ láy "thiết tha" của câu thơ trên hô ứng với từ láy "tha thiết" trong câu thơ này. Như một lời khẳng định keo sơn: tình cảm của người ở lại giành cho người ra đi thiết tha bao nhiêu thì người ra đi cũng trào dâng niềm tha thiết bấy nhiêu. Cho nên tình cảm đã sâu sắc lại thêm mặn nồng.

=> Người đi không ngoảnh đầu nhìn lại chỉ nghe tiếng nói mà hình ảnh từng khuôn mặt thân quen đã hiện về rõ nét, và theo đó cảm xúc cứ dâng lên vơi đầy.

* Câu 2:

Ý1: Nghệ thuật sử dụng từ láy:
- Ý chung: Người về xuôi trong nỗi niềm xúc động như mở rộng tâm hồn, mở rộng nỗi lòng của mình để đón nhận cái thiết tha của những tình cảm thuỷ chung kia, để rồi bày tỏ tình cảm của mình. Đó là trạng thái "bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi". Những chữ "bâng khuâng", "bồn chồn" diễn tả rất chính xác trạng thái tình cảm của người về xuôi.
+ "Bâng khuâng": chính là nỗi niềm thương nhớ đối với cảnh, đối với người, đối với cuộc sống đã trở thành kỷ niệm của những ngày kháng chiến, những kỉ niệm còn vương vấn, còn dâng đầy trong tâm trí người về xuôi. Bước chân về xuôi mà lòng dường như vẫn còn vấn vương với Việt Bắc với nỗi buồn chia xa, với những nuối tiếc không thể giữ lại.

+ "Bồn chồn": là một từ đã tâm trạng hóa bước đi của người về xuôi, những bước đi không nỡ rời mảnh đất yêu thương qua 15 năm ấy. Mỗi bước đi mỗi bước nhớ nhung, mỗi bước đi mỗi bước không yên bởi nỗi niềm thương nhớ.

Ý 2: Nghệ thuật đối:

- Cái vô hình của cảm xúc "bâng khuâng trong dạ" được hiện hình rõ nét qua bước chân đi đầy những "bồn chồn". Nội tâm thể hiện qua ngoại hình, tâm tư bộc lộ qua hành động như một sự đồng nhất để thể hiện chính xác và đầy đủ qua nghệ thuật đối mà nhà thơ sử dụng thật khéo léo.

=>Hai từ láy chỉ tình cảm được đặt liên tiếp trong một câu thơ cho thấy sự lưu luyến, bịn rịn chứa chan cảm xúc. Những tình cảm ấy như ngàn sợi tơ vương tình cảm vấn vít bước chân người đi khiến người đi như không cất nổi bước chân. Tình cảm chân thành đã đủ sức nặng kéo chậm lại giây phút chia ly.

* Câu 3: Hình ảnh áo chàm:

Ý 1: Nghệ thuật hoán dụ:
Nhân dân các dân tộc VB thường mặc áo chàm, một loại vải do người dân tự dệt, tự nhuộm. Nên màu áo này chính là biểu tượng riêng, đặc trưng cho người dân VB.

Ý 2: Hình ảnh của cả nhân dân VB:
Với câu thơ thứ 3 ở khổ thơ này, Tố Hữu đã bất ngờ làm hiện ra ý nghĩa lịch sử của cuộc chia tay. Bởi với những dòng thơ mở đầu trước đó, tiếng hát đối đáp như chỉ của "mình" với "ta", của đôi lứa yêu nhau, đột nhiên cuộc chia tay ấy trở thành cuộc chia tay lớn của cả Việt Bắc đối với người kháng chiến từ một hình ảnh hoán dụ: "Áo chàm đưa buổi phân ly" cả Việt Bắc như "ngẩn ngơ" trong cuộc chia tay lịch sử ấy.

Ý 3: Sự ẩn ý trong màu áo chàm:màu chàm là một màu rất bền chắc, không nhạt, không phai. Thế nên ca dao mới có câu thơ:

Bàn tay đã chót nhúng chàm

Không xanh cũng nhuộm cho cam sự đời
Nên khi viết hình ảnh màu áo chàm phải chăng người đi khẳng định lại một lần nữa tình cảm của người đi giành cho VB như màu chàm bền chắc, son sắc mãi mãi không phai mờ. Cái "ngẩn ngơ" của Việt Bắc hiện ra ở những chữ "đưa buổi phân ly" đầy day dứt, nhớ thương không nỡ xa rời.

* Câu 3: Câu thơ đặc biệt nhất trong đoạn thơ về nhịp thơ.

Ý 1: Ngắt nhịp lẻ:
Thơ lục bát là thơ độc quyền của cách ngắt nhịp chẵn. Bởi câu thơ lục bát vốn có kết cấu của những nhịp chẵn đều đặn, mang cái dìu dặt của khúc hát chia tay, đã chuyển thành nhịp lẻ: 3/3/2. Nhưng câu thơ cuối đoạn này lại có sự bất thường trong nhịp thơ mà ta tạm gọi đó là sự đột biến nhịp thơ. Vậy ẩn ý trong cách ngắt nhịp 3/3/2 này là gì.

Ý 2: Tình cảm: 
Muốn hiểu được tình cảm trong lòng người đi ra sao có lẽ chúng ta cần hình dung toàn khung cảnh chia tay trong tám câu thơ đầu. Khi người ra đi cất bước lên đường trong buổi chia tay nhưng là bước đi trong tư thế "người ra đi đầu không ngoảnh lại" nên ở câu thơ trên chỉ nghe thấy "tiếng ai tha thiết bên cồn", chỉ nghe thấy tiếng mà không thấy hình. Nhưng vì tình cảm vương vấn quá, bước chân đi mà không nỡ rời xa nên người đi đã ngoảnh lại, và bất giác nhận ra trên nền xanh của cây lá ngút ngàn nơi núi rừng VB là màu áo chàm đưa tiễn buổi chia tay, "Áo chàm đưa buổi phân li". Thì đến câu thơ này như một thước phim quay chậm, người ra đi không thể cất nổi bước chân, nên đành quay lại và ùa chạy tới, ôm chầm lấy hình bóng thân thương gắn bó bao ngày để rồi cái cầm tay trong giây phút chia ly nghẹn ngào không nói lên lời. Phải chăng khi cảm xúc trào dâng đến đỉnh điểm thì mọi ngôn từ đều trở thành vô nghĩa, đều không thể diễn tả hết điều muốn nói. Chỉ nhìn thôi, trong cái nhìn mà ánh mắt sẽ nói lên tất cả. Và cũng bởi lẽ quá xúc động nghẹn ngào mà không thể thốt lên lời. Nhịp thơ đứt quãng như những tiếng nấc đang thổn thức, nghẹn nơi lồng ngực của cả người tiễn lẫn người đi.

Ý 3: Ý nghĩa: Nhịp điệu ấy gợi ta nhớ tới cảnh chia tay trong câu thơ "Bước đi một bước, giây giây lại dừng" Sự thay đổi nhịp điệu của câu thơ còn làm cho đoạn thơ có sự đổi mới đối với cảm xúc của người đọc. Câu thơ làm cho người đọc không rơi vào cái tiết tấu quá đều đặn qua suốt 8 dòng thơ mà trở nên mòn, chán.

=> Tám dòng thơ đầu như khúc hát chia tay đầy ân tình lưu luyến giữa người ở lại và người ra đi. Thời gian như quay lại, không gian như mở ra và cái lắng sâu nhất trong tâm hồn bạn đọc là tình cảm tha thiết chứa chan, thủy chung son sắc giữa con người với con người. Thế nên tám dòng thơ đầu cũng là những câu thơ mở ra cảm xúc chủ đạo cho toàn bài thơ, bởi cái cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến ấy sẽ miên man chảy trong những dòng thơ lục bát ngọt ngào với mình và ta.

* 12 dòng thơ tiếp.

* Đại ý:
- Sự tiếp nối của 12 dòng thơ nằm trong mạch cảm xúc của hoài niệm như một sự xuất hiện tất yếu, bởi sau những băn khoăn của VB đối với tình cảm của người về xuôi là tiếng hát đầy nghĩa tình của kẻ đi, là sự khẳng định niềm thuỷ chung của cách mạng đối với VB. Tiếng hát ấy đã làm cảm động người ở lại khiến bao nhiêu kỉ niệm, bao nhiêu hồi ức đầy nghĩa tình đã trào dâng mạnh mẽ trong tâm trí người tiễn đưa. 12 dòng thơ tiếp nối nhau tạo thành một dòng chảy của những kỉ niệm cuồn cuộn, nồng nàn, tha thiết.
- Mỗi cặp 6-8 lại khơi gợi một kỷ niệm về những tháng ngày sâu nặng nghĩa tình của VB. Và những câu 6 tiếp nối nhau đều là những câu hỏi như một sự khơi gợi nỗi nhớ đối với người về xuôi.

* Điểm nổi bật của những câu thơ 6 tiếng:

Ý 1: Cách sử dụng từ "mình":

- Thông qua nghệ thuật điệp ngữ:

+ Mỗi câu 6 lại hướng tới "mình", những chữ "mình" tiếp nối nhau như một điệp khúc của tình cảm. Với từ "mình" giữa người ở và người đi dường như không còn khoảng cách, không phải là hai chủ thể, hai đấy mà như một, mình là ta và ta cũng như mình. Nếu vậy ta mới thấy hết cái nhớ thương, lưu luyện đến vô cùng của những con người đang đứng trong cuộc chia tay này. Có khác nào:
Người đi một nửa hồn tôi mất

Một nửa hồn tôi hóa dại khờ
+ Khi cuộc chia tay diễn ra cũng là lúc nỗi lòng người ở lại trào dâng sự trống vắng, hẫng hụt, nên tiếng lòng cứ bật lên gọi mãi, gọi hoài, gọi rồi những vẫn chưa thỏa nên cứ đòi thương, đòi nhớ, đòi yêu qua điệp từ "mình" đầy thiết tha, sâu lắng.
Ý 2: Cách sử dụng hai từ "về" và "đi".

- Nghĩa gốc: Bản thân hai từ đi và về là hai từ trái nghĩa nhau, nên với hình thức thì khi Tố Hữu sử dụng chúng trong các câu thơ 6 tiếng như bản thân nghệ thuật tương phản, đối lập, như tạo nên sự hài hòa cân xứng.

- Nghĩa trong câu thơ:

+ Ở trong văn cảnh này thì về cũng là đi, đi cũng là về. Điều này đã làm nên sự thay đổi kì diệu trong ý nghĩa của ngôn từ và trong cuộc chia tay. Nếu người ra đi mà xa thực, thì sự trống trải, hẫng hụt trong lòng người ở lại sẽ mênh mông nhường nào? Nhưng nếu hiểu đi cũng là về thì sự trở lại, đoàn tụ, sum họp sẽ ấm áp biết bao? Đó là sự an ủi cho cả người ở và người đi trong cuộc chia ly này.
+ Đi mà là về cũng như một sự ẩn ý đầy sâu xa. 15 năm trước ai đã là người dân Việt Nam hẳn còn nhớ cuộc chia tay vĩ đại của người dân Hà Thành với thủ đô yêu dấu, thực hiện kế hoạch vườn không nhà trống để đối phó với Thực dân Pháp mà nhà thơ Chính Hữu đã ghi lại trong bài thơ Ngày về:

Nhớ đêm ra đi đất trời như bốc lửa

Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Ngày ra đi đau đớn biết bao thì nay ngày trở về lại hát vang khúc ca khải hoàn. Ta đã chiến thắng, trở về tiếp quản thủ đô, lấy lại những gì ta đã tạm quên suốt 15 năm kháng chiến. Niềm hân hoan ấy hạnh phúc và viên mãn đến nhường nào. Cách sử dụng ngôn từ thật tài tình Tố Hữu đã làm giảm chất sầu bi trong cuộc chia tay, đồng thời còn mở ra trong lòng những con người cách mạng, kháng chiến một niềm tin, niềm vui mới.

Ý 3: Cách sử dụng câu hỏi tu từ "có nhớ":
Chữ "mình", chữ "đi" bao giờ cũng kèm với chữ "nhớ", mới thấy người ở lại lưu luyến kẻ về xuôi biết bao. Xuất hiện dưới hình thức một câu hỏi tu từ như một lời khẳng định cảm xúc nhớ thương, da diết, cháy bỏng và nỗi niềm nhạy cảm về sự trống vắng, buồn hiu quạnh, hoang sơ nơi núi rừng khi cán bộ cách mạng và bộ đội đã về xuôi nên người ở lại cứ đòi thương, đòi nhớ, đòi yêu và tự cho mình quyền nhắc nhở người ra đi phải luôn nhớ về những kỉ niệm đẹp dù đầy gian khổ đau thương nhưng cũng không kém phần hào hùng, đằm thắm mà ta và mình đã cùng nhau xây đắp suốt 15 năm.

Ý 4: Cách sử dụng những cụm từ gợi nhắc kỉ niệm:
- Người ở lại nhắc đến "những ngày" của 15 năm khắng chiến ta và mình đã gắn bó, đồng cam cộng khổ cùng xây dựng chiến khu VB, cùng nhau làm nên cuộc cách mạng thắng lợi.
- Hình ảnh "mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù"là một nét vẽ hiện thực trong bức tranh về thiên nhiên VB. Những khó khăn, khắc nghiệt của mảnh đất núi rừng nơi đây: Mây phủ quanh năm và sương mù giăng mắc. Dù khó khăn đấy nhung cũng làm nên sự mênh manh hư ảo trong dòng hoài niệm về VB mỗi khi người ra đi nhớ lại khung cảnh nơi đây.- Hình ảnh "chiến khu": Nơi Bác Hồ thân yêu của chúng ta đã chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng bao gồm 6 tỉnh độc lập: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà giang, Lạng Sơn. Nơi ấy trong 15 năm cách mạng chính là thủ đô thứ hai, căn cứ đầu não chứa toàn bộ cơ quan trung ương của Đảng, chính quyền cách mạng, nơi gắn kết nhân dân và cán bộ cách mạng, nơi tình quân dân thể hiện thắm thiết nhất.
- Hình ảnh "rừng núi": Không gian VB với những cánh rừng già đại ngàn hiện lên trong kí ức của người về xuôi. Những cánh rừng làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc bởi "rừng che bộ đội, rừng vây quân thù" nên thử hỏi làm sao người ra đi không nhớ không thương.
- Hình ảnh những ngôi nhà thân thương, đơn sơ nhưng thắm đượm ân tình đã nuôi dưỡng che giấu cán bộ, bộ đội.
- Không gian "núi non" trập trùng nơi chiến khu VB cũng là một hình ảnh khắc ghi trong tiềm thức của người ra đi.

Ý 5: Câu 6 đặc biệt nhất đoạn thơ.
* Sự thay đổi ý nghĩa từ mình.

- "Mình đi mình có nhớ mình" . Một câu thơ sáu tiếng mà tác giả sử dụng đến 3 từ mình, điều mà chúng ta chưa hề gặp trong ca dao. Nhưng điều đáng nói hơn là từ mình ở đây lại biến ảo vô cùng về ý và tình. Nếu như người đọc băn khoăn liệu cả 3 từ mình này có chung một ý nghĩa hay không? Đi tìm đáp số cho câu trả lời trên chúng ta sẽ cùng giả thiết những nội hàm khái niệm của nó.
- Từ mình đầu tiên và thứ hai lại một lần nữa vang lên để khẳng định sự thật là người đi đã đi rồi, đã chia tay nhân dân VB về xuôi.
- Đến từ mình thứ ba thì ý nghĩa đã có sự thay đổi. Chúng ta có thể hiểu mình ở đây là người ở lại nhưng đồng thời cũng là người ra đi: Người ở lại nhắn nhủ nhẹ nhàng: mình có đi, có về xuôi liệu còn nhớ nhân dân VB đã gắn bó ân tình bao ngày tháng, cũng là lời nhắc khéo mình có về thủ đô, chốn phồn hoa đô hội thì cũng đừng quên những ngày tháng gian khổ nơi chiến khu mà mình đã gồng mình, quân và dân cùng gánh vác nhiệm vụ của cuộc kháng chiến, kỉ niệm đó của mình luôn hiển hiện hình bóng ta, nhó đến mình là cùng nhớ về ta trong năm tháng đó. Mà như chính nhà thơ đã nói rõ ý tình trong một cặp lục bát ở phần thứ hai của bài thơ:

Mình về thành thị xa xôi

Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng?

Phố đông còn nhớ bản làng

Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng

=> Nếu hiểu theo hai ý trên thì từ mình đã có sự biến ảo về ý nghĩa: Mình cũng là ta, ta cũng như mình, mình và ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai. Và người đọc thấy được sự gắn bó keo sơn, thủy chung son sắt, trước sau như một của ta với mình, dẫu có xa mặt mà không cách lòng.

*Nghệ thuật điệp.
- Từ mình được điệp lại ba lần trong một câu thơ 6 tiếng cho thấy nỗi nhớ của nhân dân VB, những người ở lại với người ra đi như trào dâng như những lớp sóng lòng, khôn nguôi. Biết mình đi nhưng vẫn nhắc, vẫn nhớ, vẫn bật lên những tiếng gọi lưu luyến, bịn rịn, nhớ thương.
- Một lần nữa khẳng định tình cảm keo sơn giữa hai thập thể người, quấn quýt không rời.

* Điểm nổi bật của những câu thơ 8 tiếng:

- Đại ý:

+ Nếu những câu thơ 6 tiếng có cấu trúc lặp lại tương tự nhau như lời nhắn nhủ của người ở lại với người ra đi, hỏi đấy nhưng đâu cần câu trả lời. Thì những câu thơ 8 tiếng đủ sức nặng để trải lòng, để người ở lại nhắc về những kỉ niệm mà ta với mình đã gắn bó suốt 15 năm. Đó cũng là bức tranh tái hiện chân thực cuộc sống, chiến đấu của quân dân VB trong cuộc khắng chiến chống Pháp của dân tộc.
+ Những câu thơ 8 tiếng có kết cấu nhịp rất giống nhau:4/4 đều đặn tạo âm hưởng hài hòa, réo rắt, du dương như tiếng lòng bâng khuâng tha thiết của người ở lại với người ra đi.

Ý 1: Câu 8 thứ nhất.

"Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù"
Thiên nhiên VB hiện lên với những nét đặc trưng rất riêng.

- Nét dữ dội, hùng vĩ: Nhà thơ khắc họa thiên nhiên bằng hình ảnh "mưa nguồn", gợi những trận mưa rừng xối xả, dữ dội, mạnh mẽ tạo nên những "suối lũ" để tăng thêm uy linh cho thiên nhiên VB: vừa hùng vĩ, vừa dữ dội. Đó cũng là tác giả gián tiếp khắc họa những khó khăn gian khổ của quân và dân VB phải đương đầu và trải qua trong cuộc chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc.

- Nét thơ mộng, trữ tình: Thiên nhiên VB không chỉ hùng vĩ mà còn toát lên vẻ đẹp đầy thơ mộng và trữ tình. Với hai nét vẽ mây và sương mù mà không gian VB thêm hư ảo. Hãy hình dung trước mắt chúng ta là bạt ngàn một không gian núi rừng bao la, hùng vĩ mây núi cây rừng cứ thấp thoáng ẩn hiện, sương mây thì trắng, cây lá thì xanh. Người đọc như mãn nhãn với hình ảnh thi trung hữu họa này của tác giả. Đẹp như chốn bồng lai.

Ý 2: Câu 8 thứ hai.

"Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai"

- Cuộc sống vật chất: Cuộc sống chiến đấu của quân dân VB được tái hiện chân thực qua hình ảnh thơ "miếng cơm chấm muối" đã đủ để thấy cái khó khăn gian khổ, đói nghèo của nhân dân VB nói riêng và nhân dân cả nước nói chung trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tôi còn nhớ một câu thơ đau đớn của những kiếp nghèo trong kháng chiến:
Xưa con khóc đòi cơm chấm muối

Mẹ tìm đâu ra muối con ăn
Đó cũng là một khó khăn, trở ngại cho quân và dân VB. Một miếng cơm chấm muối nhưng vẫn sẻ chia cùng nhau, đồng cam, cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi để tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là sức mạnh giúp quân ta có được quyết tâm: Khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

- Cuộc sống tình thần: Gánh nặng lớn nhất quân và dân VB mang trên vai đó chính là mối căm thù giặc sâu sắc mối thù nặng vai. Nghệ thuật ẩn dụ chuyến đổi cảm giác đã cho người đọc phần nào cảm nhận được nỗi căm thù ấy. Vốn chỉ có thể cảm nhận bằng cảm giác nhưng qua cách diễn đạt của Tố Hữu người đọc như đang cùng quân dân VB chung vai vào gánh một mối thù giang sơn là nỗi căm hờn quân giặc đã xéo gót giày xâm lược, chà đạp lên quyền sống, quyền tự do, dân chủ của nhân dân, dân tộc ta. Bao nhiêu con người là bấy nhiêu mối thù, bao ngày giặc tàn phá quê hương là bấy nhiêu ngày đau thương tang tóc. Nên mối thù ấy ngày một lớn lên, nó hiện hữu và đang đè nặng trên vai, đòi hỏi quân dân cùng đồng lòng, chung sức đập tan mối căm hờn đó.

- Nghệ thuật đối lập, tương phản: Hai vế thơ tương xứng 4/4, với nghệ thuật đối rất chỉnh. Nếu cuộc sống vật chất của cuộc chiến đấu thiếu thốn, gian khổ bao nhiêu thì nỗi căm hờn với quân thù trong lòng đầy ắp bấy nhiêu. Khó khăn, gian khổ không làm nguôi ngoai quyết tâm đánh giặc của quân và dân ta, ngược lại nó còn thôi thúc quân dân VB một lòng, một dạ chung tay chung sức đánh đuổi kẻ thù. Sự thiếu thốn về vật chất lại làm tăng thêm sức mạnh tinh thần. Bạn đọc hôm nay có lẽ đã tìm ra một chân lí thật giản đơn về sức mạnh của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ của dân tộc, điều làm nên chiến thắng lẫy lừng của nhân dân ta mà ngay cả các nước đế quốc, thực dân đến tận ngày hôm nay vẫn không thể hiểu vì sao đất nước Việt Nam nhỏ bé, nhân dân Việt Nam đói nghèo mà lại có thể đánh bại những đế quốc hùng cường nhất thế giới. Thật đáng trân trọng và tự hào biết bao truyền thống của dân tộc ta.

Ý 3: Câu 8 thứ ba.

- Thiên nhiên VB:
Đọc câu thơ "Trám bùi để rụng, măng mai để già" , người đọc đơn thuần tưởng Tố Hữu miêu tả nét thiên nhiên đặc trưng của núi rừng VB, nhưng tìm vào sâu trong ý tình câu thơ ta như cảm thấy nỗi ngậm ngùi, nhớ thương.

+ Thiên nhiên VB: Trên những cánh rừng đại ngàn VB thường mọc hai loại cây: trám và măng mai. Những cây trám thân gỗ đại thụ, làm tăng thêm vẻ uy nghi cho núi rừng VB. Còn những vàn măng mai bạt ngàn với màu xanh của loài cây họ tre trúc này như tăng thêm sức sống cho cây rừng nơi đây. Đây còn là hai thực phẩm chính mà núi rừng đã ban tặng cho quân dân VB. Vị trám muối mặn mòi nồng ấm ân tình mà người dân VB giành cho bộ đội. Cây măng mai, ngọt bùi mà người dân VB đã mất bao công sức tìm, đào và chế biến trở thành những món ăn thiết yếu cho cuộc sống chiến đấu nơi đây. Mà như chủ tịch Hồ Chí Minh đã ghi lại:

Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
=> Miêu tả thiên nhiên nhưng Tố Hữu cũng gián tiếp phản ánh cuộc sống chiến đấu của quân và dân VB: thiếu thốn, gian khổ mọi đường. Đồng thồi cũng cho thấy tình cảm, sự chăm sóc quan tâm của nhân dân VB với cán bộ, bộ đội. Họ chăm lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho bộ đội. Với cuộc sống thiếu thốn đủ đường nhưng người dân VB đã tìm mọi cách khắc phục để đảm bảo điều kiện, sức khỏe cho bộ đội ta chiến đấu, chiến thắng kẻ thù.

+ Tình cảm của người VB: Nhà thơ miêu tả một sự thật của thiên nhiên là khi cán bộ, bộ đội cùng ở với nhân dân thì người đông như kiến, bao nhiêu trám, măng của núi rừng cũng là chưa đủ nuôi quân bởi trong bài Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Phạm Tiến Duật có viết "hết rau rừng em có lấy măng không". Thì giờ đây khi bộ đội về xuôi, những trái trám bùi không có người ăn, những búp măng non, ngọt không có người lấy nên mới có khung cảnh trám rụng, măng già. Miêu tả cái dư thừa của vật chất trong thiên nhiên mà nói được cái thiếu thốn vô cùng trong tình cảm của người ở lại khi người ra đi đã về xuôi. Cái ngút ngàn của rừng trám, vàn măng vốn vô tình nhưng trong câu thơ của Tố Hữu lại bỗng trở nên có hồn. Một nỗi nhớ vô tận, vô cùng của người dân VB với người ra đi sau cách nói đầy ẩn ý. Người đi dù đã đi thật nhưng nhân dân VB mỗi khi lên rừng nhìn thấy trám rụng, ra nương thấy măng mai già thì nỗi nhớ lại trào dâng. Khi nào trám hết, măng tàn thì người VB mới nguôi nỗi nhớ thương. Một cách diễn đạt sâu nặng nghĩa tình.

Ý 4: Câu 8 thứ tư.

"Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son"

- Cuộc sống vật chất: Thể hiện chân thực qua hình ảnh những ngôi nhà "hắt hiu lau xám". Những ngôi nhà nghèo khó, giản đơn của nhân dân VB dựng vội trong cuộc kháng chiến để lấy chỗ ở, chỗ nuôi giấu cán bộ, bộ đội. Ngôi nhà tranh, vách nứa và lợp bằng cỏ lau đã phản ánh phần nào cuộc sống đầy rẫy những khó khăn, thiếu thốn của quân và dân ta.
- Cuộc sống tinh thần: Điều ghi lại dấu ấn trong cả lòng người ở và người đi chính là tấm "lòng son" thắm thiết. Tấm lòng ấy là tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân như cá với nước, mặn nồng như tình yêu lứa đôi của ta với mình. Nhưng chưa đủ, tình cảm ấy mãi mãi không phai nhòa, thủy chung, trước sau như một của những con người từng vào sinh ra tử cùng nhau, những con người sẵn sàng ngã xuống cho tổ quốc thân yêu, sự gắn bó máu thịt vô điều kiện.

- Nghệ thuật đối lập, tương phản: Hai vế câu thơ đối nhau rất chỉnh tạo ra một thế cân bằng cho người đọc, cũng như chính nhân vật trữ tình trong bài thơ. Cuộc sống vật chất tuy thiếu thốn mọi bề nhưng đổi lại là tình cảm dạt dào. Đó là sợi tơ vô hình gắn kết quân và dân trong cuộc kháng chiến.
- Từ láy "hắt hiu": Sự hiu quạnh, trống vắng của nhân dân VB để nói hết được có lẽ không còn ngôn từ nào đạt hơn khi tác giả chọn từ láy hắt hiu. Nếu ngày trước quân dân cùng nhau gắn bó, sống và chiến đấu thì chiến khu VB đông vui, nhộn nhịp với không khí khẩn trương, thần tốc. Nhưng nay khi bộ đội về xuôi thì còn đâu khung cảnh "xóm dưới làng trên, cơm nắm, cơm đùm ríu rít theo nhau", nên sự trống trải vô cùng mà người ra đi để cho người ở lại là sự hiu hắt đến vắng lặng trong những ngôi nhà tranh mà thủa nào sớm tối có nhau.

Ý 5: Câu 8 thứ năm.
- Tác giả đã tái hiện thời gian của cuộc kháng chiến mà quân và dân VB đã trải qua: "Nhớ khi kháng Nhật, thủa còn Việt Minh". Quãng thời gian suốt từ mùa xuân năm 1941 khi Bác Hồ thân yêu về nước, dựng căn cứ địa cách mạng trên chiến khu VB, cho đến tận chiến thắng lịch sử của trận Điện Biên Phủ hào hùng. Trong khoảng thời gian dài suốt 15 năm ấy nhà thơ Tố Hữu không nói toàn bộ lịch sử mà chọn những mốc son quan trọng.

+ Thời kì kháng Nhật là một bước ngoặt đầy khó khăn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta. Khi thực dân Pháp còn chưa ra khỏi bờ cõi nước ta, nhưng trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa phát xít trên thế giới, Pháp đã hèn hạ mở cửa nước ta, quỳ gối rước Nhật vào, trong vòng 5 năm từ 1940-1945 chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật, để nhân dân ta chịu cảnh một cổ ba tròng: Trên một thửa ruộng bọn phong kiến, địa chủ bắt nộp tô, bọn thực dân bắt đóng thuế, phát xít thì bắt nhổ lúa trồng đay. Đẩy nhân dân ta rơi vào nạn đói khiến hơn 2 triệu đồng bào ta chết đói. Đó là thời kì đầy đau thương của dân tộc. Nhưng nhân dân cũng đã vượt qua, đập tan chủ nghĩa phát xít, đuổi cổ bọn thực dân lấy lại nền độc lập của dân tộc.

+ Việt Minh: Việt Nam độc lập đồng minh, còn gọi là Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh, là liên minh chính trị do thành lập vào ngày năm với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập ". Và kết quả là nhân dân và cách mạng đã giành được thắng lợi. Thủa còn Việt Minh là một thủa hào hùng, vàng son của dân tộc một đi không trở lại nhưng cả quân và dân VB mãi khắc ghi trong tim như một khúc tráng ca về độc lập, tự do.
=> Câu thơ tái hiện lại giai đoạn lịch sử khó khăn nhất của dân tộc, nhưng nhân ta đã kiên cường vượt qua bằng chính sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc. Giờ đây nhìn lại không chỉ là kỉ niệm mà còn là niềm tự hào của dân tộc.

Phân tích 10 câu thơ tiếp

Bức tranh tứ bình của VB

* Nhận xét chung:Đoạn thơ này được xem là đặc sắc nhất của Việt Bắc. Mười câu lục bát thu gọn cả sắc màu 4 mùa, cả âm thanh cuộc sống, cả thiên nhiên con người Việt Bắc.

a. Hai câu thơ đầu:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Ý 1: Kết cấu hô ứng của cặp lục bát: Câu sáu dùng để hỏi, nhưng hỏi đấy mà đâu cần câu trả lời, câu tám đã nói lên nỗi lòng như một câu trả lời đầy thỏa mãn. Lối hô ứng vay mượn của ca dao được TH khai thác triệt để. Nói lòng ta cũng là nói hộ lòng mình, bởi từ trên người đọc đã biết: Ta với mình tuy hai mà một, mình với ta tuy một mà hai.

Ý 2: Hình ảnh đối xứng: Tố Hữu lựa chọn thật đắt hình ảnh đối xứng : hoa - người. Hoa là vẻ đẹp tinh tuý nhất của thiên nhiên, kết tinh từ hương đất sắc trời, tương xứng với con người là hoa của đất. Bởi vậy đoạn thơ được cấu tạo: câu lục nói đến thiên nhiên, câu bát nói tới con người. Nói đến hoa hiển hiện hình người, nói đến người lại lấp lóa bóng hoa. Vẻ đẹp của thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau tỏa sáng bức tranh thơ. Nên bốn cặp lục bát tạo thành bộ tứ bình đặc sắc.

b. Trước hết đó là nỗi nhớ mùa đông Việt Bắc:

Ý 1: Hình ảnh thiên nhiên:

- Hình ảnh thơ: Như được chắt lọc qua con mắt tinh tế của thi nhân: rừng xanh và hoa chuối đỏ.
+ Rừng xanh: Hình ảnh thơ truyền thẳng đến người đọc cảm nhận về một màu xanh lặng lẽ, trầm tĩnh của rừng già. Cái màu xanh ngằn ngắt đầy sức sống ngay giữa mùa đông tháng giá. Cái màu xanh chứa chất bao sức mạnh bí ẩn "Nơi thiêng liêng rừng núi hóa anh hùng". Màu xanh núi rừng Việt Bắc:

Rừng giăng thành lũy thép dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

+ Hoa chuối đỏ: Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn. Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời. Cái màu "đỏ tươi" - gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tịn mùi hương
Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng.

- Nghệ thuật hội họa trong thơ:

+ Pha màu: Cặp lục bát này chính là một bức tranh tứ bình về mùa đông. Mà không có sức mạnh nào tạo nên sức sống cho bức họa bằng màu sắc. Tố Hữu đã thể hiện tài năng của mình bằng sự tinh tế của một họa sĩ tài ba khi phối màu cho bức tranh của mình. Gam màu xanh mát lạnh chỉ làm tăng thêm cái băng giá của mùa đông, nên để gieo vào một hơi ấm tác giả đã chọn một gam màu nóng sáng, đó là màu đỏ tươi của hoa chuối rừng. Từ xa trông tới, bông hoa như những bó đuốc thắp sáng rực tạo nên một bức tranh với đường nét, màu sắc vừa đối lập, vừa hài hòa,vừa cổ điển vừa hiện đại.
+ Hiệu ứng:
Ø Sự pha màu đó làm cho bức tranh thêm hài hòa về màu sắc.
Ø Không chỉ vậy mà nó còn gián tiếp miêu tả được khí hậu khắc nghiệt của núi rừng nơi đây. Bởi chỉ có ai từng sống ở rừng lâu năm mới hiểu được tường tận nét thiên nhiên độc đáo này: Trời phải lạnh thì hoa chuối rừng mới nở và càng lạnh thì hoa chuối càng có sắc đỏ tươi.
Ø Hai chữ "đỏ tươi" không chỉ là từ ngữ chỉ sắc màu, mà chứa đựng cả một sự bừng thức, một khám phá ngỡ ngàng, một rung động rất thi nhân. Có thể thấy cái màu đỏ trong câu thơ Tố Hữu như điểm sáng hội tụ sức mạnh tiềm tàng chốn rừng xanh đại ngàn, lấp lóa một niềm tin rất thật, rất đẹp.
Ø Trên cái nền xanh ấy nở bừng bông hoa chuối đỏ tươi, thắp sáng cả cánh rừng đại ngàn xua tan cái lạnh giá của mùa đông, làm ấm cả không gian, ấm cả lòng người.Nên mùa đông thuở gặp gỡ ban đầu, đến hôm nay vẫn sáng bừng trong kí ức.

Ý 2: Hình ảnh con người:

"Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng".Trên cái phông nền hùng vĩ và thơ mộng ấy, hình ảnh con người xuất hiện thật vững chãi, tự tin.

- Vị thế, tư thế: Con người đứng trên đỉnh "đèo cao" có tác dụng làm tôn lên tư thế, tầm vóc hào hùng đứng trên thiên nhiên hòa vào vũ trụ mênh mông bao la, làm chủ cuộc sống. Đây là một quan niệm nghệ thuật khá độc đáo thường thấy trong thơ TH là khi viết về con người, dù là quân hay dân đều ở thế chủ động và đi lên phía trước. Nếu là bộ đội thì ở vị trí cao nhất định:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá ngụy trang reo với gió đèo
Nếu là dân công thì: 

Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ

Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
Và người dân lao động ở đây là vị thế trên đỉnh đèo cao. Đó là vẻ đẹp của con người làm chủ núi rừng, đứng trên đỉnh trời cùng tỏa sáng với thiên nhiên. Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi rừng, tự do " Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta". Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang.

- Công việc : Con người xuất hiện trong câu thơ là người lao động bình dị : đi phát nương, làm rẫy, đi lên rừng hái củi, tìm măng...góp công sức nhỏ bé của mình cho cuộc chiến đấu.

- Khoảnh khắc xuất hiện : Nhà thơ TH đã rất tinh tế khi nắm bắt được khoảnh khắc giao thoa kì diệu giữa thiên nhiên và con người. Những thép dao để trần được mài sáng loáng gài nơi thắt lưng được ánh nắng hiếm hoi của mùa đông chiếu vào tạo nên sự phản quang kì lạ, tỏa ra thứ ánh nắng lung linh, lấp lánh, chói lóa không gian thể hiện qua từ có thần « ánh ». Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.
=> Câu thơ thể hiện thái độ bao yêu thương, trân trọng, ca ngợi nhân dân lao động của nhà thơ TH. Cứ nơi nào có con người lao động thì nơi đó tỏa ánh hào quang lấp lánh. Cái lạnh giá của mùa đông cũng phút chốc được xua tan chỉ còn lại cảm giác ấm áp, vui tươi của lao động.

c. Nỗi nhớ mùa xuân Việt Bắc:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ý 1: Hình ảnh thiên nhiên:

- Cụm từ chỉ thời gian « ngày xuân » : Nhà thơ không viết là mùa xuân mà là ngày xuân đầy tinh tế. Đó là thái độ ngỡ ngàng, trầm trồ trước vẻ đẹp lộng lẫy của đất trời vạn vật khi vào xuân cứ diễn ra, thay đổi qua từng giây, từng phút, từng ngày để tác giả phải chớp lấy, chọn lấy một hình ảnh có thần nhất vẽ nên bức tranh mùa xuân nơi núi rừng VB.

- Hình ảnh đặc trưng của mùa xuân « mơ nở trắng rừng » :
+ Sự chuyển gam màu, kéo theo chuyển dịch thời gian : Cùng với sự chuyển mùa, mùa đông sang mùa xuân, là sự chuyển màu trong bức tranh thơ: Màu xanh trầm tĩnh của rừng già chuyển sang màu trắng tinh khôi của hoa mơ khi mùa xuân đến. Cả không gian sáng bừng lên sắc trắng của rừng mơ lúc sang xuân. Ngày xuân mơ nở trắng rừng trắng cả không gian "trắng rừng", trắng cả thời gian "ngày xuân". Không phải là một bông hoa mơ, một cây mơ mà nhất loạt cả rừng mơ bung nở hoa trắng để mênh mông khắp núi rừng VB ngập tràn một sắc trắng tinh khôi, tinh khiết như cái man mác, dịu nhẹ, ngọt ngào của mùa xuân đầu tiên trên núi rừng VB, đồng thời là hình ảnh đáng nhớ, đầy vấn vương lưu luyến khi phải chia xa đất và người nơi đây.

+ Ý nghĩa sắc màu: Màu trắng của hoa mơ khởi đầu cho một năm mới cũng như ao ước và khát vọng đổi thay của nhân dân nơi đây. Cuộc sống nô lệ sẽ thay bằng cuộc sống tràn ngập của hòa bình, tự do. Ước muốn giản dị nhưng mãnh liệt như sắc trắng của hoa mơ, nhẹ nhàng nhưng không thể nhạt phai.

|+ Liên hệ: Hình ảnh này khá quen thuộc trong thơ Tố Hữu, hình ảnh rừng mơ sắc trắng cũng đi vào trường ca Theo chân Bác gợi tả mùa xuân rất đặc trưng của Việt Bắc:

Ôi sáng xuân nay xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về im lặng con chim hót

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ
Cái sắc trắng tinh khôi bừng nở mỗi độ xuân về làm ngơ ngẩn người ở, thẫn thờ kẻ đi.

+ Động từ "nở": Là một động từ mạnh, diễn tả sức sống đang xôn xao, rạo rực, mãnh liệt của những cây mơ rừng VB hay cũng chính là sức sống bất diệt của nhân dân nơi đây mỗi độ xuân về.

Ý 2: Hình ảnh con người: Người đi không thể không nhớ sắc trắng hoa mơ nơi xuân rừng Việt Bắc, và lại càng không thể không nhớ đến con người Việt Bắc, cần cù uyển chuyển trong vũ điệu nhịp nhàng của công việc lao động thầm lặng mà cần mẫn tài hoa: Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

- Mùa xuân đáng nhớ:

+ Bình thường: Trong dân gian từ ngàn xưa cho đến nay luôn cho rằng mùa xuân là mùa của các lễ hội thế nên mới có câu ca "tháng giêng là tháng ăn chơi". Điều này lại càng đúng hơn trên những vùng núi rừng chiến khu, nơi của các lễ hội như: Ném còn, hát lượn, hát si, lễ hội lồng tồng (xuống đồng).

+ Sự bất thường: Trong những năm tháng mùa xuân khi đất nước có chiến tranh, quê hương còn bóng giặc thì dù mùa xuân nhưng nhân dân VB đã quên đi niềm vui riêng để miệt mài với, say mê với công việc, với cuộc kháng chiến: đan nón. Chính sự bất thường này đã làm nên mùa xuân đáng nhớ nơi chiến khu.

- Phẩm chất con người lao động: Hai chữ "chuốt từng" gợi lên dáng vẻ cẩn trọng tài hoa, dường như bao yêu thương đợi chờ mong ngóng đã gửi vào từng sợi nhớ, sợi thương kết nên vành nón. Câu thơ như ca ngợi sự khéo léo và tài hoa của con người nơi đây, cũng như con người Việt Nam:

Tay người như có phép tiên

Tranh tre nứa lá cũng dệt nghìn bài thơ
Cảnh thì mơ mộng, tình thì đượm nồng.

- Tình cảm của con người: Hành động lao động vô cùng giản dị, bình thường ấy nhưng ẩn sâu bên trong là những tình cảm thiêng liêng của người dân VB giành cho cán bộ và bộ đội. Một chiếc mũ nan, một vành nón lá nhưng chứa đựng trong đó bao ân tình thắm thiết, mặn nồng. Và bao chiến sĩ đã đội những chiếc mũ ấy để vượt qua mưa bom, bão đạn của cuộc chiến đấu, hơn thế nữa chiếc mũ ấy đã trở thành người bạn trên đoạn đường hành quân trùng điệp:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
=> Hai câu thơ lưu giữ lại cả khí xuân, sắc xuân, tình xuân vậy. Tài tình như thế thật hiếm thấy.

d. Nỗi nhớ mùa hè Việt Bắc:
Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Ý 1: Hình ảnh thiên nhiên:

- Nét đặc sắc trong bức tranh mùa hè : Nếu như trong bức tranh của hai mùa đông và xuân người đọc chỉ được mãn nhãn với những đường nét và màu sắc thì đến bức tranh mùa hè tác giả đã đánh thức giác quan mới trong cảm nhận của người đọc. Thính giác choàng tỉnh bởi âm thanh rộn rã, tưng bừng của tiếng ve.

- Âm thanh : Tiếng ve là âm thanh đặc trưng của mùa hè nơi núi rừng đại ngàn. Tiếng ve cũng là dấu hiệu báo mùa hè đến. Nếu ai đã từng sống trên miền núi rừng sơn cước thì chắc hẳn không quên âm thanh rộn rã này. Chỉ cần một chú ve đầu đàn tấu lên khúc nhạc là có một dàn hòa tấu độc hành của mùa hạ, không ngừng, không ngớt.
- Màu sắc : Động từ "đổ" là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè. Chữ đổ được dùng thật chính xác, tinh tế. Nó vừa gợi sự biến chuyển mau lẹ của sắc màu, vừa diễn tả tài tình từng đợt mưa hoa rừng phách khi có ngọn gió thoảng qua, vừa thể hiện chính xác khoảng khắc hè sang. Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng ả thêm. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh. Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật. Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây phách ngả sang màu vàng rực rỡ.

- Nghệ thuật ẩn dụ chuyến đổi cảm giác : Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác rất thú vị: Tiếng ve kêu - ấn tượng của thính giác đã đem lại ấn tượng thị giác thật mạnh. Sự chuyển mùa được biểu hiện qua sự chuyển màu trên thảo mộc cỏ cây: Những ngày cuối xuân, cả rừng phách còn là màu xanh, những nụ hoa còn náu kín trong kẽ lá, khi tiếng ve đầu tiên của mùa hè cất lên, những nụ hoa nhất tề đồng loạt trổ bông, đồng loạt tung phấn, cả rừng phách lai láng sắc vàng. Tác giả sử dụng nghệ thuật âm thanh để gọi dậy màu sắc, dùng không gian để miêu tả thời gian. Bởi vậy cảnh thực mà vô cùng huyền ảo.

Ý 2: Hình ảnh con người:
- Nhân vật trung tâm của bức tranh: Trên nền cảnh ấy, hình ảnh cô em gái hiện lên xiết bao thơ mộng, lãng mạn: "Cô em gái hái măng một mình" nghe ngọt ngào thân thương trìu mến. Nhớ về em, là nhớ cả một không gian đầy hương sắc. Người em gái trong công việc lao động hàng ngày giản dị: hái măng. Vẻ đẹp lãng mạn thơ mộng ấy còn được tô đậm ở hai chữ "một mình" nghe cứ xao xuyến lạ, như bộc lộ thầm kín niềm mến thương của tác giả. Nhớ về em, nhớ về một mùa hoa đầy ngọt ngào và vương vấn.

- Công việc "hái măng": Một việc tưởng như giản đơn nhưng lại tình nghĩa vô cùng bởi cô đang góp công sức nhỏ bé của mình cho cuộc cách mạng. Bàn tay thoăn thoắt hái măng kia chính là tình yêu giành cho bộ đội. Lấy măng để nuôi quân vì đây là nguồn thực phẩm chính của quân dân ta.

- Nghệ thuật sử dụng thanh điệu và điệp phụ âm đầu: Hai thanh trắc liên tiếp "gái-hái" và ba phụ âm "m": măng, một, mình liên tiếp xuất hiện khiến người đọc rơi vào một trạng thái đồng cảm cao độ cùng với tác giả và nhân vật trữ tình ở đây. Người đọc như tận mắt nhìn thấy cô em gái bé nhỏ đang đưa bàn tay nhanh thoăn thoắt hái những búp măng non, và bàn chân bước nhanh nhẹn hết vàn rừng này đến vàn rừng khác. Không chỉ có vậy mà khi bàn chân đưa, bàn tay hái thì cô còn cất lên tiếng hát rộn ràng theo nhịp lao động. Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả

.e. Nỗi nhớ mùa thu Việt Bắc:

"Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung"
Khép lại bộ tứ bình là cảnh mùa thu. Đây là cảnh đêm thật phù hợp với khúc hát giao duyên trong thời điểm chia tay giã bạn. Hình ảnh ánh trăng dọi qua kẽ lá dệt lên mặt đất một thảm hoa trăng lung linh huyền ảo.

Ý 1: Hình ảnh thiên nhiên:

- Trăng thu:

+ Để miêu tả về mùa thu có lẽ mấy ai không chọn ánh trăng thu. Bởi lẽ trong bốn mùa thì trăng mùa thu trong nhất, sáng và êm dịu nhất. Chính hình ảnh thơ này đã tạo cho bức trang thu một màu sắc cổ điển.
+ Ánh trăng còn là một biểu tượng của hòa bình chiếu rọi khắp núi rừng bao la, khiến ta cảm nhận như ánh sáng của hòa bình mát dịu đang tràn ngập khắp chiến khu. Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:

Trăng vào cửa sổ đòi thơ

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau

Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu

Ấy tin thắng trận liên khu báo về
Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát.

- Rừng thu: Tố Hữu cũng không chọn cách diễn đạt mùa thu mà là rừng thu, với dụng ý nghệ thuật đã lộ rõ khi miêu tả ánh trăng thu trong khu rừng đại ngàn, rừng già VB để tạo nên bức tranh mùa thu hoàn mĩ.

- Động từ "rọi": Là một động từ mạnh, có thần thể hiện rất rõ ánh trăng thu trong vắt, sáng như gương, chiếu xuống núi rừng, gặp những tán lá cây cổ thụ và giao hòa:

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Ánh trăng xuyên qua những tán lá tạo nên bóng rợp và những đốm sáng cứ lung linh như gấm the, tạo nên tấm phông nền lộng lẫy như gấm thêu, như bức tranh sơn mài huyền ảo.

Ý 2: Hình ảnh con người:

- Đại từ phiếm chỉ "ai": đã gộp chung người hát đối đáp với mình làm một, tạo một hòa âm tâm hồn đầy bâng khuâng lưu luyến giữa kẻ ở, người đi, giữa con người và thiên nhiên.

- Tiếng hát: Dưới ánh trăng thu hòa bình, quân và dân cùng nắm tay ca hát mừng chiến thắng, mừng hòa bình về trên chiến khu. Đồng thời tiếng hát còn là khúc ca đầy ân tình, ân nghĩa, thủy chung cách mạng. Tiếng hát ân tình càng làm cho cảnh thêm ấm áp tình người. Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình. Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng.

=> Mỗi câu lục bát làm thành một bức tranh trong bộ tứ bình. Mỗi bức tranh có vẻ đẹp riêng hòa kết bên nhau tạo vẻ đẹp chung. Đó là sự hài hòa giữa âm thanh, màu sắc... Tiếng ve của mùa hè, tiếng hát của đêm thu, màu xanh của rừng già, sắc đỏ của hoa chuối, trắng tinh khôi của rừng mơ, vàng ửng của hoa phách... Trên cái nền thiên nhiên ấy, hình ảnh con người hiện lên thật bình dị, thơ mộng trong công việc lao động hàng ngày.

Phân tích đoạn thơ cuối

VB trong kháng chiến

* Nhận xét chung:Thiên nhiên VB không chỉ được cảm nhận bởi vẻ đẹp của 4 mùa mà thiên nhiên còn là một nhân tố đắc lực góp phần làm nên cuộc kháng chiến toàn thắng với những yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Và VB hiện lên là một khu căn cứ địa cách mạng hội tụ đầy đủ yếu tố trên để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang:

a. Yếu tố địa lợi:
- Câu thơ mở đầu gợi lên một bối cảnh chiến tranh tao loạn " Nhớ khi giặc đến giặc lùng". "Giặc đến" là thời điểm nguy kịch, "giặc lùng" là cảnh nguy biến, hoảng loạn, tan tác, loạn lạc. Câu thơ làm ta liên tưởng tới cảnh chạy loạn trong thơ Nguyễn Đình Chiểu:

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất tổ đàn chim dáo dác bay
Hay cảnh tang thương trong thơ Hoàng Cầm:

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Ruộng ta khô Nhà ta cháy

Chó ngộ một đàn

Lưỡi dài lê sắc máu

Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang

Ý 1. Thiên nhiên VB hiện lên chân thực: Đó là núi rừng bao la, ngút ngàn với những vách núi đá hùng dũng chìm khuất trong làn sương mù hư ảo chốn núi rừng. Đó là những nét đặc trưng rất riêng biệt của thiên nhiên VB.

Ý 2. Nghệ thuật nhân hóa: Trước cảnh đau thương ấy rừng núi đã vào cuộc chiến đấu. Với thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, TH đã dựng nên một rừng núi kiêu hùng cùng ta đánh giặc. Từ giọng điệu anh hùng ca. Cuộc kháng chiến anh hùng của ta và mình được tái hiện trong hòai niệm của người về:

"Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù"

- Thiên nhiên Việt Bắc như có linh hồn là nhờ tác giả sử dụng phép nhân hóa. Núi rừng Việt Bắc tươi đẹp, hiền hòa trong bức tranh tứ bình nay bỗng trở thành những chiến sĩ quân thực thụ trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Rừng cây, núi đá cũng cùng quân, dân VB chiến đấu, cùng đánh Tây. Và rừng cũng như núi đều được giao cho một nhiệm vụ phù hợp với khả năng của mình.

+ Núi đá: Những dãy núi trập trùng không đứng yên, vô tri, vô giác mà chúng biết liên kết với nhau, giang chặt cánh tay nối thành những lũy sắt dày để bao vây quân thù. Hình ảnh hiện hữu, những lũy sắt dày đầy thách thức hiên ngang với kẻ thù giăng giăng trước mặt mà có lẽ không có kẻ thù nào lọt qua. Hình ảnh này làm cho người đọc nhớ ngay đến lòng chảo Điện Biên, nơi quân giặc chỉ có thể tiến vào theo đường lính nhảy dù, chỉ có đường vào mà không có lối ra, chỉ tiến chứ không lùi nên khi bị đột kích chỉ còn một con đường chết. Đó chính là yếu tố địa lợi không hề nhỏ giúp quân ta chiến thắng kẻ thù.

+ Rừng cây: Rừng cây đại ngàn VB không còn là những rừng phách đổ vàng trong tiếng ve rộn rã, cũng không chỉ là những vàn mơ nở trắng, càng không phải là khu rừng thu yên bình trong tiếng hát mà giờ đây khi có kẻ thù đến xâm lược thì rừng cây ấy bỗng trỗi dậy xôn xao, biết cùng nhân dân đánh giặc với hai nhiệm vụ đầy kiên cường. Với bộ đội ta rừng như một ngôi nhà che chở, bảo vệ. Hình ảnh thơ này khiến ta liên tưởng tời những cánh rừng xà nu bạt ngàn, bất tận của mảnh đất Tây Nguyên anh hùng, ưỡn tấm ngực lớn ra che chở, bảo vệ cho dân làng Xô Man trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, hay dải rừng già trên dãy Trường Sơn đã là tấm lá chắn che giấu bộ đội trong chiến đấu, và che mắt quân thù để miền Bắc có thể chi viện cho miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Thiên nhiên Việt Nam thật diệu kì thay. Không chỉ có những ngọn núi, cánh rừng mà ngay cả những dòng sông hiền hòa khi có giặc xâm lăng cũng biết cựa mình kháng chiến:Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánhNằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

+ Sương mù: Miền núi so với miền xuôi thường thì sương mù nơi đây sẽ dày hơn rất nhiều. Nếu chỉ căn cứ vào yếu tố thiên nhiên này thì không thể coi đây là "địa lợi" được. Bởi cuộc chiến đấu mà bị sương mù bao phủ là điều bất lợi. Nhưng nếu nhìn nhận kĩ thì ta dễ dàng nhận ra hai mặt của vấn đề. Với quân ta, sống trên khu vực này rất lâu, đã thông thạo địa hình địa vật, có thể băng rừng lội suối và chiến đấu trong đêm rất dễ dàng. Nhưng với quân địch, đại đa số là lính nhảy dù, không biết gì về địa hình, địa vật nên khi có sương mù chắn tầm nhìn thì quả thực đó là trở ngại quá lớn. Nên sương mù che quân ta mà chắn quân địch. Đó là yếu tố thuận lợi mà thiên nhiên ban tặng cho nhân dân VB.
=> Yếu tố địa lợi là một trong ba yếu tố cần thiết giúp quân ta đánh thắng kẻ thù trong cuộc chiến không cân sức. Điều quan trọng hơn là quân dân VB đã biết cách tận dụng khai thác và phát huy triệt để sự thuận lợi trong yếu tố tự nhiên này làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng.

b. Yếu tố nhân hòa:Yếu tố nhân hòa là điều không thể thiếu nếu cuộc kháng chiến muốn đi đến thắng lợi. Với một dân tộc nhỏ bé như nước ta, quân tư trang lại không tối tân, hiện đại thì sự đoàn kết, chung lòng, chung sức và ý chí quyết tâm đánh giặc cao độ là vấn đề then chốt để chiến thắng. Và tinh thần đoàn kết, niềm tin vào cách mạng chính là điều tác giả để cập đến ở đây. Khi "đất trời ta cả chiến khu một lòng".

Kết bài:"Việt Bắc" là một kiệt tác của Tố Hữu mà cũng là kiệt tác của thơ ca cách mạng, thơ ca kháng chiến. Bài thơ thể hiện tài hoa nhiều mặt của nhà thơ Tố Hữu. Thể thơ lục bát được tác giả phô diễn những tình cảm, tư tưởng mới mà vẫn đậm đà bản sắc dân tộc. Lối hát đối đáp tạo ra giai điệu phong phú cho bài thơ. Nhiều biện pháp tu từ được tác giả vận dụng khéo léo. Ngôn ngữ trong sáng, nhuần nhị, và có nhiều nét cách tân. Tiếng nói yêu thương – nét nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu – không có bài nào thấm thía hơn "Việt Bắc". Bài thơ còn thể hiện tư tưởng mới mẻ với những dự báo sáng suốt được biểu hiện bằng hình ảnh phong phú và tấu lên băng âm nhạc làm say mê lòng người. Cảm ơn người con của xứ Huế đã để lại cho hậu thể một bản hùng ca về ân tình cách mạng trong lịch sử thơ ca dân tộc.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com