XXIX.
Xin chào, tớ là Lece. Và bài hát dành cho chương ngày hôm nay mang tên:
time machine — mj apanay, aren park.
˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖
London mệt mỏi về khuya.
Ngày hôm đó, Crowley dùng phân nửa thời gian nghe những tiếng quát tháo tàn nhẫn của Beez trong cuộc họp và phân nửa còn lại để nghĩ xem bản thân nên mở lời với Aziraphale thế nào. Vào khoảnh khắc đồng hồ điểm chín giờ ba mươi phút tối, gã biết mình sắp đạt đến giới hạn. Cảm giác nhức nhối đang hành hạ đầu Crowley bảo rằng có lẽ suốt hôm nay não gã đã bị lôi khỏi hộp sọ rồi nện liên tiếp xuống sàn gạch như một quả bóng rổ. Được tiếp thêm động lực bỏ về bằng một cái quét nhìn vào những tệp hồ sơ vô vị trước mắt, gã đứng phắt dậy, kéo áo khoác trên móc treo xuống và mang theo điện thoại, dứt khoát quyết định rời phòng.
Đứng trong thang máy, Crowley bặm môi lẩm nhẩm lại những điều bản thân đã suy tính trong đầu. Trước tiên, gã sẽ vui vẻ đón Aziraphale về nhà, sau đó cả hai người cùng tắm rửa để rũ bỏ công việc sang một bên. Nếu em chưa ăn tối cùng đội của mình hoặc đơn giản chỉ là muốn ăn thêm gì đó, gã sẽ làm một đĩa salad Caesar ngon tuyệt, rót nửa ly Chateauneuf du Pape em thích nhất. Tới khi đã dụ được Aziraphale bỏ sách xuống để lên giường và đắp chăn đi ngủ, gã mới bắt đầu lân la gợi về chuyện sáng nay Michael đã nói. Có thể chỉ là một câu hỏi nhỏ để tiếp cận vấn đề, nhỏ đến nỗi khó có thể gây ra sai sót...
Cánh cửa thang máy vừa mở, Crowley lại giật bắn cả mình khi chạm mắt với một bóng dáng thân thuộc. Aziraphale mới bước ra khỏi phòng khám nghiệm pháp y, đôi vai trĩu xuống, khuôn mặt rõ mồn một là mệt mỏi. Cảnh tượng đó làm đôi mày gã vô thức chau lại, lòng gợn lên một đợt sóng âu lo. Ấy thế mà vừa nhìn thấy Crowley, Aziraphale giống như đột nhiên đã trút hết toàn bộ sự căng thẳng phía sau lưng mình. Em nở một nụ cười trìu mến trong lúc đi nhanh về phía người yêu, chiếc cặp táp trên tay theo bước chân đong đưa liên tục. Nhìn thấy em cười, đầu óc gã cũng nhẹ nhõm hơn một chút. Hai tay Crowley dang ra đón lấy Aziraphale khi em sà vào người gã, đầu em cúi sâu tựa vào lồng ngực và hai tay em ôm ghì lấy bả vai.
Cái ôm này chặt hơn mức bình thường.
"Aziraphale, em ổn chứ?"
Gã hôn vào tóc em, một tay đỡ gáy, một tay vòng ra sau đón lấy chiếc cặp táp da. Aziraphale cũng ngoan ngoãn để Crowley kéo chiếc cặp táp khỏi tay mình, em vừa gật đầu vừa vùi sâu hơn vào lồng ngực gã.
"Em muốn về nhà."
"Được rồi." Crowley chồm lên trước một chút để nhấn nút thang máy. "Mayfair hay Soho?"
Thang máy đi xuống một tầng. Cái ôm của Aziraphale chặt hơn chút nữa.
"Aziraphale?"
Thang máy đi xuống hai tầng. Em thủ thỉ chỉ vừa đủ để Crowley có thể nghe:
"Nhà của anh."
Thang máy đi xuống ba tầng. Bờ vai Aziraphale run lên khẽ.
Tối đó, Crowley không làm salad Caesar hay rót nửa ly Chateauneuf du Pape bởi Aziraphale thậm chí mệt đến mức chỉ bám lấy gã và chẳng buồn đọc bất cứ trang sách nào. Tuy nhiên, gã không có vẻ quá ngạc nhiên về chuyện này. Gã đã quan sát người yêu mình suốt quãng đường về và nhận thấy rằng ngay cả khi môi em luôn cong lên thành một nụ cười dịu dàng rất đẹp, đôi mắt xanh ấy vẫn giấu giếm bên trong một nét muộn phiền phất phơ mang mác. Thứ nỗi niềm đó mờ nhạt hệt một chiếc lá phong khô nhẹ bẫng bị làn gió mùa thu cuốn bay rồi cứ vậy đáp xuống bên lề đường, không cố ý để tâm thì cũng chẳng thể nào nhận thấy. Vì thế, khi đã leo lên giường và ôm lấy em dưới chiếc chăn bông dày, Crowley theo thói quen nhìn vào khuôn mặt của người mình yêu nhất, hỏi ra một câu đơn giản gấp mấy lần dự tính ban đầu:
"Cả ngày bận rộn, có chuyện gì em muốn kể anh nghe không?"
Bất ngờ thay, lời gã vừa thốt ra lại có thể khiến Aziraphale đơ người trong giây lát. Sau một lúc chỉ nhìn vào gã, em khép hờ mi tránh né, lại vẽ lên môi mình một nụ cười.
"Em yêu anh. Những chuyện còn lại thì không quan trọng lắm."
"Aziraphale." Crowley thở dài.
"Michael đã nói cho anh nghe rồi phải không?" Em lại ngước đôi mắt tròn xoe, tia nhìn xanh biếc lấp lánh dưới ánh đèn ngủ vàng vọt. Trông em vô thực đến mức lạ kỳ. "Em ổn. Chuyện đó xem như là tai nạn nghề nghiệp thôi."
"Thật sự chỉ có thế à?"
Aziraphale đổi tư thế từ nằm đối diện sang tựa đầu lên vai Crowley. Ở góc độ này, em không phải trực tiếp chạm mắt gã nữa.
"Sẽ chẳng có gì đáng sợ xảy ra đâu anh."
Sau câu nói đó, Aziraphale nhắm mắt, như không chỉ muốn thiếp đi mà còn là muốn tách biệt bản thân với thế giới bên ngoài. Crowley nhìn em, biết rằng em vẫn còn điều giấu gã mà lại không hỏi cho ra lẽ được. Aziraphale luôn rất cứng nhắc. Đây không phải lần đầu tiên em cố tình giấu diếm gã chuyện gì đó, và gã tin rằng đây sẽ chẳng phải là lần cuối cùng. Thế mà điều duy nhất gã có thể làm lúc này lại là chiều theo sự cứng đầu quái gở của em.
Khoảnh khắc ấy, Crowley không nhận ra rằng mình đã sai, đã nhu nhược và đã yếu ớt đến mức độ nào. Từ khi gã nhìn thấy em, yêu lấy em, gã đã luôn tin tưởng em một cách mù quáng. Chỉ cần em nói em ổn, gã sẽ nghe lời em. Chỉ cần em không muốn tiết lộ bất cứ điều gì, gã sẽ chiều theo em. Gã giống như một con rối chẳng có chút suy nghĩ độc lập nào để nhận ra tình yêu này thật sự rất nông cạn, nông cạn đến mức không thể nào cứu vãn nổi.
Đao phủ đã kề dao đến cổ họ rồi, gã vẫn tưởng rằng miễn Aziraphale nói ổn, mọi chuyện sẽ lại ổn thôi.
Để mình chìm đắm trong những luồng suy nghĩ vô định, Crowley thiếp đi lúc nào chẳng hay. Không biết là bao lâu sau, gã bị đánh thức thức bởi âm thanh thút thít sát bên tai mình. Khi mở mắt lần này, Crowley thấy gã nằm đối diện Aziraphale, trong khi em dường như lại bị giày vò bởi cơn ác mộng. Từ khóe mắt nhắm nghiền của em, những giọt nước ướt nhoè cứ thế tuôn trào không dứt. Nếp nhăn ẩn hiện giữa hai đầu chân mày làm khuôn mặt em trông cực kỳ khắc khổ, những âm thanh thổn thức uất nghẹn liên tục phát ra từ đôi môi mở hờ. Khi Crowley muốn ngồi dậy lay Aziraphale tỉnh, gã còn nhận thấy hai tay em đang víu chặt áo ngủ gã không buông.
Chẳng đành gỡ tay em ra, gã chỉ còn cách chồm lên lơ lửng phía trên em, vừa lay vừa gọi:
"Aziraphale. Aziraphale à?"
Sau vài tiếng gọi khẽ, Aziraphale cuối cùng cũng giật mình mở mắt. Nhìn thấy Crowley, hơi thở em dường như nghẹn ứ trong cổ họng, tiếng nức nở ban nãy cũng tan vào hư không.
"Crowley." Em gọi, giọng khàn đặc.
"Anh đây, anh đây." Crowley cúi xuống ôm em, nói nhỏ.
Bởi vì Aziraphale bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn rất nặng, chuyện em gặp ác mộng đối với Crowley từ lâu đã không còn gì lạ lẫm. Mỗi lần như thế gã sẽ bắt gặp em nức nở khi ngủ, hoặc có những lúc em bật hẳn cả người dậy và run rẩy rất lâu. Cách gã luôn dùng để giải quyết là ôm chặt lấy em, vuốt ve chỗ tóc mai sau gáy và thì thầm mấy lời an ủi thật kiên trì. Bình thường cũng chỉ tốn có vài ba phút để dỗ người yêu bình tĩnh lại, vậy nên lúc đáp lời Aziraphale ban nãy, gã cũng không ngờ rằng phản ứng sau đó của em có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.
Khoảnh khắc Crowley cúi xuống ôm Aziraphale, bỗng dưng em lại rơi vào một cơn nức nở. Cả người em run bần bật, hơi thở nghẹn ngào, hai tay đang níu vào áo Crowley cũng siết chặt đến độ gã sợ rằng chất liệu cotton rẻ tiền của nó sẽ không trụ nổi. Em cứ liên tục gọi tên gã như đang đọc một bài kinh sám hối, nước mắt rơi lã chã, trượt xuống nơi mặt em chạm vào mặt gã làm ướt đẫm cả hình xăm con rắn bên hàm.
Phản ứng quá mạnh này làm Crowley không dám bật dậy. Gã chỉ lo lắng nói với giọng rất dịu dàng:
"Aziraphale, không sao rồi, em an toàn trong vòng tay anh rồi. Vừa nãy chỉ là ác mộng thôi. Anh ở ngay đây này, anh..."
Aziraphale đẩy gã ra. Không phải một cú đẩy thô bạo mà chỉ vừa đủ để nâng Crowley lên nhìn thẳng vào em. Lúc đó, sự hoảng loạn hiện rõ trong đáy mắt Aziraphale làm gã nhớ đến cái đêm Giáng sinh năm ngoái, khi gã phải đối diện với cơn ác mộng của em lần đầu tiên, cũng như lần tệ nhất.
"Em không muốn phải sống thế này nữa, Crowley. Chúng ta bỏ trốn được không anh?" Em vừa nói vừa nghẹn ngào khóc, bàn tay vẫn không buông hai bên vai áo gã.
"Bỏ trốn?" Crowley bối rối lặp lại.
"Đi thật xa, tới nơi không ai biết chúng ta là ai. Em không muốn chết đâu."
Em mong manh và tan vỡ hệt cái đêm đó.
"Chúng ta sẽ xây nhà... sẽ hạnh phúc."
Vô vọng hệt cái đêm đó.
"Em muốn hạnh phúc. Em muốn... thấy anh già đi..."
Giọng em run rẩy. Nỗi sợ trong em quá to lớn, quá tràn đầy, đè nén cả những suy nghĩ lí trí và kiên định mà em luôn mang trên mình như một chiếc mặt nạ giả dối. Cách mắt em không thể kiềm chế lũ lượt mù sương, cách tay em quờ quạng níu lấy gã như thể gã là tất cả những gì em có, cách em van nài bằng những lời nói kì lạ không đầu không đuôi... Tất cả, tất cả trở thành ngọn hoả ngục cao ngút tận trời, thiêu rụi đi một Aziraphale đang cố giấu mình dưới vỏ bọc một người sắp chết đã chịu thua số phận.
Em không muốn chết. Nếu được chọn lựa, đây là lúc em quay đầu tìm sự cứu rỗi.
Vậy mà khoảnh khắc ấy, chẳng biết điều gì đã ngăn cản Crowley đáp lại lời kêu cứu của Aziraphale. Gã chỉ biết tầm nhìn của mình thật nhoè nhoẹt, giống như có một màn sương mù rất dày, rất đặc che phủ trước mắt. Gã không thể cử động bất kì một cơ, một khớp, một tế bào nhỏ nhoi nào trên người mình. Như thể hồn gã đã lìa khỏi xác, như thể gã không còn tồn tại giữa thế gian.
Và chỉ sau một khoảng lặng ấy thôi, màu mắt Aziraphale xám xịt.
Có lẽ, em vừa nhận ra bản thân mãi mãi không thể gỡ bỏ chiếc mặt nạ thịt da đã găm sâu vào hồn. Có lẽ, em vừa nhận ra lời mình nói hoang đường và ngu ngốc đến mức ngay cả Chúa cũng sẽ cười vào mặt em thật giòn giã.
"Em... sai rồi... Em không thể thấy anh già đi..."
Đôi bàn tay đang víu lấy vai áo gã buông ra. Em nhìn xuống né tránh ánh mắt gã, vừa đau khổ, vừa thờ ơ.
Em đã sai. Sai ngay từ đầu.
Lúc nhận thức của Crowley quay trở lại, điều đầu tiên gã làm là ôm lấy hai bên má để bắt em nhìn thẳng vào mình.
"Aziraphale, anh sẽ bỏ trốn với em. Em muốn đi đâu cũng được. Em nói đi, dù cho là chỗ nào anh cũng sẽ bỏ trốn với em."
"Không được đâu, Crowley." Aziraphale bật cười, lắc đầu. "Không còn chỗ nào để trốn nữa rồi."
Chỉ còn cách chết thôi.
˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖
Đêm đó, dù Crowley có gặng hỏi đến mấy, Aziraphale cũng không trả lời nữa. Dẫu cho qua ngày hôm sau hay thậm chí bất cứ một ngày nào khác, miễn là gã muốn nói về giấc mơ kia, em sẽ lại quay đầu né tránh. Mối quan hệ của họ cũng dần trở nên vô cùng căng thẳng, thậm chí gây ra cho Crowley những cơn đau đầu liên miên. Mọi khoảnh khắc họ nói chuyện với nhau đều tràn đầy sự ái ngại đầy dè dặt, khi gã cố gắng không đả động đến bất cứ điều gì có thể gây sai lầm và em thì cố gắng mở lòng như thể đó là một kiểu tra tấn cực hình.
Mà đó còn chẳng phải là thứ duy nhất đè nén tinh thần gã.
Gã biết đêm ấy tại sao mình lại không trả lời em. Mất rất lâu để gã nhận ra rằng lý do gã đơ cứng người vì sốc là do lúc đó gã đã tàn nhẫn đập vào não mình một nỗi nghi hoặc đáng sợ đến cùng cực: cái chết chưa đến của Aziraphale dường như liên quan tới vụ án mạng liên hoàng.
Suốt bao lâu qua, Crowley luôn cảm giác thấy một nỗi lo âu tiềm ẩn vẫn luôn lẩn lút sâu trong lòng mình. Gã đã luôn suy đoán về sự tồn tại của nó, tại sao nó lại ở đó và nguyên nhân hình thành của nó là gì. Gã chỉ lờ mờ nhận thấy nó đang lớn dần qua những lần Aziraphale cố giấu gã chuyện gì đó, qua những cơn ác mộng liên miên, qua những khoảnh khắc nỗi đau thoáng lướt ngang trong đôi mắt mơ màng xanh biếc. Đến cuối cùng, vào lúc Aziraphale để bản thân mất bình tĩnh và trở nên ích kỉ – điều mà chính em vẫn luôn từ chối, Crowley bỗng vơ trúng sợi dây liên kết mong manh dẫn tới cái kết luận điên rồ hết sức này.
Gã đã tự cười vào mặt mình ngay sáng hôm sau. Aziraphale là một bác sĩ pháp y bình thường, không phải là doanh nhân giàu sụ hay chính trị gia đang trên đà vinh quang. Giữa họ và em chẳng hề tồn tại bất kì mối liên quan nào, dù cho có là nhỏ nhoi nhất đi chăng nữa. Em thậm chí còn không có ô tô.
Aziraphale sẽ chẳng thể nào bị móc mắt trong một chiếc Uber ngẫu nhiên trên đường, phải không?
Tuy nhiên, một khi nỗi quan ngại đã gieo mầm mống vào cái vùng đất tâm hồn ủy mị của Crowley, gã đương nhiên không thể cư xử như mình chẳng biết gì cả. Gã bắt đầu nhìn Aziraphale bằng một con mắt lo lắng, bắt đầu kiểm soát lịch trình trong ngày của em, bắt đầu dễ nảy sinh hoảng loạn khi em không lập tức trả lời cuộc gọi của gã. Vậy nên song song với việc điều tra vụ án mạng liên hoàng, gã cũng tìm hiểu về vụ tai nạn đã xảy ra hai mươi lăm năm trước như một cách để tháo gỡ nút thắt tâm lý trong đầu mình.
Nói về vụ án mạng liên hoàng rúng động Anh Quốc ấy, thông tin mà sở cảnh sát xoay sở để có được cũng không nhiều lắm. Bởi vì căn biệt thự này và khu đất xung quanh đều thuộc về Milverton, những người dân sinh sống trong khu vực dĩ nhiên không ở đủ gần để chứng kiến bất cứ hành vi bí ẩn hay người lạ mặt nào cả. Vào thời điểm đó, người làm cũng đã về hết. Theo xác minh của đội khám nghiệm hiện trường, ở sân biệt thự không có vết bánh xe khác ngoài chiếc Rover của chính Milverton. Từ đó mở ra hai hướng điều tra: hoặc hung thủ có thể không sử dụng phương tiện di chuyển, hoặc hung thủ có sử dụng nhưng vị trí đỗ phương tiện nằm ở nơi khác nhằm mục đích che giấu vết bánh xe. Khai thác hướng đầu tiên, cảnh sát cho rằng hung thủ sẽ không thể tẩu thoát đường dài, từ đó tập trung tìm kiếm nhân chứng ở khu vực nhà dân xung quanh và các trạm tàu điện ngầm gần đó. Tuy nhiên, kết quả vẫn không khả quan. Những trạm tàu điện ngầm không có cách nào định danh từng người đã lên tàu, mà trong khu vực ngoại ô cũng không có máy quay giám sát. Mặt khác, việc tìm nhân chứng để kiểm tra xem có phương tiện khả nghi nào xuất hiện gần hiện trường không càng vô vọng, bởi vì hầu hết dân cư ở đây đều đưa ra lời khai rằng Milverton rất hay thay đổi loại xe mà mình chạy, nếu có một chiếc xe lạ thì họ cũng chỉ nghĩ đó chính là xe của ông ta.
Việc khai thác vật chứng hiện trường như thế là xem như đi vào ngõ cụt. Bên điều tra đời sống và đối chiếu với vụ án của Smith lại phải làm việc cật lực hơn.
Suốt ba tuần liền, người của CID chạy vạy khắp nơi chỉ để điều tra. Còn phải nói, Crowley ra vào vô số nơi với vô số nhân dạng, thế mà mà mãi không mang về kết quả đáng nói nào cả. Giữa Smith và Milverton chỉ tồn tại quan hệ xã giao gượng gạo, không đủ điểm chung cho một mối liên kết phức tạp. Những buổi tiệc thương nghiệp buồn chán chính là cầu nối giữa họ, và ai mà đếm được mấy kẻ lặn ngụp giữa giới thượng lưu đã tham gia bao nhiêu cuộc gặp gỡ vì lợi ích như thế trong đời?
Có lẽ, điểm chung lớn nhất của cả hai nạn nhân là giàu và, về cơ bản, không phải là một công dân tốt.
James Smith là một tay cờ bạc nức tiếng. Ngoài ra, lão còn có lịch sử thô lỗ với người yếu thế hơn và quấy rối tình dục nhân viên nữ. Mối quan hệ của lão với gia đình không tốt lắm, hoặc phải nói là lão chỉ như một cái máy làm tiền tiêu chuẩn mà gia đình lão phải dựa vào. Mặt khác, Alastor F. Milverton lại là một kẻ đạo đức giả. Ông ta ngụy tạo cho mình bộ mặt sặc mùi chuẩn chỉnh với những phát ngôn được tuyên truyền rầm rộ về "chiều kích đạo đức" hay "công bằng xã hội". Phía sau bộ mặt đó là một kẻ ngoại tình công khai và phân biệt giai cấp, tự cho mình quyền giẫm đạp lên nhân phẩm người khác bằng những lời lẽ hống hách trịch thượng. Cuộc đời của ông ta kết thúc có lẽ cũng chỉ như một vở kịch được hạ màn mà thôi.
Đối với vụ án này, truyền thông đang có khuynh hướng cho rằng hung thủ là một kẻ tự xem mình như Chúa. Hoặc, chẳng khác gì một trò cười bậc nhất, hắn chính là Chúa, vì cảnh sát đã tốn bao nhiêu công sức vẫn không thể tìm được chút tung tích gì.
Song song với việc điều tra theo lệnh Beez, Crowley cũng tự mình lục lọi những bài báo cũ về vụ tai nạn của gia đình Aziraphale vào hai mươi lăm năm trước. Vậy mà những gì gã tìm thấy chỉ là mấy mẩu tin vắn của vài tờ báo địa phương, rằng ngày hôm đó ở Southdown trời mưa rất to, chiếc xe chạy với tốc độ cao trên đoạn đường đèo trơn trượt nên không may mất lái. Ngoài ra thì cũng chẳng còn thêm thông tin gì được đề cập tới. Một vụ tai nạn hai người chết sao lại có thể bị phớt lờ dễ dàng đến thế? Chắc chắn là đã có uẩn khúc, và Crowley lại càng nghi hoặc nhiều hơn.
Tuy vậy, đầu óc gã không được ban cho khoảng nghỉ để suy ngẫm về điểm đó. Hơn một tháng sau khi vụ án của Milverton diễn ra, căn hộ của Aziraphale ở Soho xảy ra hoả hoạn.
Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com