Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

.

1.
Văn Huyền Tuấn - 22 tuổi. Tổ 1, tiểu đội 1, đại đội 1, tiểu đoàn 23. Quê gốc ở Thừa Thiên nhưng theo gia đình vào Nam từ nhỏ. Huyền Tuấn vừa tốt nghiệp trung học, đang là thợ sửa đồng hồ ở Sài Gòn. Được vài năm thì hắn đòi lên đường nhập ngũ nằng nặc. Biết sẽ khổ, sẽ đau hay thậm chí chết, nhưng ba má chẳng sao cản nổi con, mà cũng chẳng nỡ cản con ra đi chiến đấu, đành để hắn đi. Thế là đã ba năm từ ngày ấy, trải qua những trận đánh lớn nhỏ, bao lần lâm vào thập tử nhất sinh, hắn vẫn sống, sống khỏe mạnh. Nhiều lần chứng kiến đồng đội nằm xuống dưới đường đạn nóng bỏng xuyên qua bụng, qua tim ngay trước mắt, ấy vậy mà những viên đạn lại bỏ qua hắn như thể ống ngắm của khẩu súng trường chưa bao giờ bắt được Huyền Tuấn. Khi một tiểu đội đã hi sinh quá nửa, chỉ còn một khẩu tiểu liên và nửa băng đạn, khẩu súng thì xước, thủng đủ chỗ vì đạn và dao găm của địch, đội đang nằm rạp một bên con kênh cạn nước để trốn khỏi sự truy đuổi ráo riết của hơn hai chục thằng lính, họ vẫn về với đại đội an toàn. Ba năm chiến đấu là ba năm Huyền Tuấn chưa từng phải nằm nhà thương, lần bị thương nặng nhất là gãy chân trái sau khi một mình một súng đánh với ba thằng gác cứ địch, được băng bó rồi đưa về, vì hắn cứ nằng nặc đòi. Dù vậy, Huyền Tuấn chưa từng do dự chuyện sống, chết, bởi lẽ đối với hắn - "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", đời lính đơn giản là chiến đấu và hi sinh.

Lý Tương Hách - 25 tuổi. Tổ 1, tiểu đội 1, đại đội 1, tiểu đoàn 23. Quê Hà Nội, sinh ra và lớn lên trong một gia đình trí thức, khá giả. Bố mẹ anh đều là giáo viên. Đang là sinh viên năm tư của Trường Đại học Y Hà Nội. Mỗi ngày, trên từng tờ báo anh đọc, trên đài radio ở kí túc xá hay trên những tờ áp-phích hai bên đường có những hình ảnh vừa bi tráng, khốc liệt, vừa tự hào. Tương Hách cảm thấy trong lòng nhen nhóm lên một mong muốn được bước vào chiến trường, được cống hiến sức mình cho tổ quốc. Anh nhập ngũ cùng đợt với Văn Huyền Tuấn, cả hai cùng một tổ. Dù có vóc dáng đậm sinh viên trí thức, anh được xung vào tiểu đội mũi nhọn chỉ sau hai đợt đánh. Tương Hách không giống như Huyền Tuấn - giỏi trận mạc và chiến trường; anh là bộ não của tổ, là người lựa chọn và quyết định trong thời khắc nguy hiểm nhất, Hách còn giỏi vẽ bản đồ trận địa, theo dõi địch, vạch kế hoạch đánh...Có lẽ anh là một "ông tư lệnh" thu nhỏ của tiểu đội.

Đi cùng từ những ngày đầu, Huyền Tuấn và Tương Hách có nhiều mặt khác nhau, không chỉ khác nhau về lối đánh trên chiến trường, cả vẻ ngoài của hai người cũng khác. Huyền Tuấn có dáng người cao và săn chắc, da sậm màu, chuẩn dáng của người lính đã kinh qua nhiều trận chiến. Còn Tương Hách, tuy đã đánh nhiều trận, đào nhiều hào, bữa ăn giấc ngủ cũng thiếu thốn như bao đồng chí, anh trông vẫn non trẻ như cậu sinh viên vừa ra trường, chỉ khác chỗ gầy hơn rất nhiều và chỉ mặc mỗi bộ quân phục sờn bạc hết màu xanh.

Khác là vậy, nhưng hai người là cặp bài trùng của tổ, bởi vì Huyền Tuấn bé hơn Tương Hách ba tuổi, bé nhất tổ, nhưng lúc nào cũng hợp ý với anh cả nhất. Hai người ăn ý từ cách làm việc, tư tưởng, đến suy nghĩ và thói quen sống. Hách thích làm việc với hắn, vì hai người chung tư tưởng, anh thích gần hắn, vì hai người nói chuyện gần gũi và hiểu nhau. Trên chiến trường anh không thích Huyền Tuấn cứ lao lên trước, nhanh nhưng nguy hiểm. Trên bàn làm việc, trên giấy tờ, và trên những con đường theo dấu địch, anh lại thích cái quyết đoán và đôi lúc gấp gáp của hắn

Do thân và hiểu nhau nên hai người cứ gần và chăm nhau. Nhất là Tuấn rất hay chăm Tương Hách. Những khi không có nhiệm vụ ở trên giao, hắn hay xung phong làm những việc của tổ thay anh, lúc ấy thì anh ngồi nghiền ngẫm lại cuốn sách, khi thì viết gì đó vào cuốn sổ tay, cũng có nhiều khi anh đòi cùng làm với hắn. Trong tổ có mỗi ba người, mà hắn lại còn là bé nhất nếu tính theo tháng, không cần phải lo toan cho các anh. Nhưng chính hắn cũng chẳng hiểu sao, mỗi lần nhìn Tương Hách gầy như cái que ôm khệ nệ khẩu súng trường, trên vai đeo cả bồng tạc đạn thì lại muốn giành lấy hết, dù biết anh đủ sức cầm những cái ấy.

Hách thấy em chiều mình thế cũng xuôi, lúc nào đang đọc dở giấy tờ mà nhớ chưa giặc bộ quân phục thì chỉ chạy ra bờ sông, chui tót lên cây rồi ném bộ quần áo xuống cho hắn giặt giúp, anh vẫn cứ ngồi nghiền ngẫm tờ chiến lược của cấp trên mặc mình trần như nhộng.

Mấy lúc lên cơn sốt rét, Tuấn nhường cho anh cái chăn từ hồi mới nhập ngũ đã rách ở góc, hôm nào anh run quá hắn cởi cả áo đưa cho anh mặc tạm. Những lớp chăn lớp áo chẳng nguôi cơn rét mấy, nhưng anh vẫn thấy dễ chịu. Nhiều khi trời khuya lạnh quá, anh không chịu lấy áo, hắn phải dỗ "anh đang sốt, em khỏe ri có lạnh lẽo chi mô".

Chẳng máu mủ ruột rà, chẳng biết quê quán, nhà cửa, chẳng biết gì về nhau, nhưng lại sống với nhau rất thân tình, có lẽ đó là những cuộc tình của cách mạng, của thời đại, và của đất nước. Một cái hôn nồng đượm, một cái ôm và nắm tay đầy trân trọng sau những ngày không gặp giữa chiến trận. Sống đời kháng chiến là thế, là tình đồng đội đầy gần gũi, hơn cả những người thân, gia đình, vì tất thảy đều từ trong khúc ruột của bà mẹ hiền "tổ quốc" đẻ ra.
_

Tổ 1 chỉ có ba người, lúc nào cũng thế. Chiến sĩ còn lại của tổ 1 là Lý Mân Huỳnh, bằng tuổi Huyền Tuấn. Huỳnh sinh vào đầu năm, Tuấn sinh cuối năm, nhưng Huỳnh nhập ngũ trễ hơn cả Tuấn và Hách nên đôi khi Huyền Tuấn cũng có dịp lên mặt. Mân Huỳnh là sinh viên năm hai Trường Đại học Tổng hợp, nhập ngũ sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân. Cậu ở Hà Nội mỗi ngày nóng lòng mong ngóng tin trận đấu ấy. Do Huỳnh có người anh hàng xóm đi bộ đội, hai anh em chơi với nhau từ bé, anh dạy hắn nhiều thứ lúc còn ở nhà, coi nhau như ruột thịt. Trước khi ra trận anh gửi cho cậu bức thư, anh nói như thể biết trước mình sẽ hi sinh. Tháng sau gia đình nhận được tin anh mất, đi học về, cậu nghe mẹ kể lại mà như nghẹn ở cổ muốn khóc. Một tuần sau, Huỳnh quyết định nhập ngũ, một quyết định thật quá nhanh chóng, mà cũng quá dữ dội. Gia đình cậu không kịp ngăn, chắc cũng không thể ngăn nổi, một tấm lòng đang sôi.

Huỳnh tham gia các mặt trận tương đối lớn của tiểu đoàn. Là người thông minh, nhanh nhẹn, vóc dáng cao lớn, lại có thêm sự dũng cảm, gan dạ mặc dù chỉ là lính mới, qua vài tháng, Huỳnh được điều vào tổ 1 thay cho một đồng chí vừa được hi sinh.

Tiểu đội 1 là tiểu đội trinh sát, thường là tiểu đội đi đầu, phải theo sát trận địa từ ngày khởi động chiến dịch để triển khai hướng tác chiến. Tổ 1 là tổ trinh sát mũi nhọn của cả đại đội, tiểu đoàn, các đồng chí trong tổ đều là người giỏi chiến đấu và nhanh nhẹn. Cả ba người đều thạo các loại vũ khí. Thường tổ sẽ thực hiện các nhiệm vụ quan trọng như "nằm", giết cấp cao bên địch hay luồn sâu vào đồn, cứ địch để nắm rõ địa hình. Đôi khi phải sống trong lòng địch nhiều ngày, nhiều tuần để lấy thông tin.

Sáng hôm qua, tiểu đoàn vừa nhận nhiệm vụ xuống vùng cài răng lược ngay kế Sài Gòn, một vùng đồng bằng xanh mướt, rừng cây trải dài. Riêng tiểu đội 1 phải đi đầu, gặp bộ đội, du kích và cán bộ địa phương để làm quen địa hình và quan sát, theo dõi một khu đóng quân khá lớn của địch. Tiểu đoàn sẽ xuất phát sau và chuẩn bị kĩ càng hơn nơi ở cho chiến sĩ đủ an toàn để ẩn náu dưới máy bay và bom đạn của bọn Mỹ.

Cán bộ vừa bước ra khỏi hầm sau khi trình bày nhiệm vụ của cấp trên cho từng tổ. Vì là tổ mũi nhọn, nên tổ của Tương Hách sẽ đi trước, vào rừng cùng các đồng chí ở địa phương, rồi ở đó chờ lệnh cấp trên, các tổ còn lại được bố trí các khu lân cận.

Ba chiến sĩ của tổ đều cặm cụi sửa soạn đồ để vào bồng. Nào là cái chăn, cái võng, mấy tập giấy tờ, mấy khẩu súng, tạc đạn và thêm một túi gạo được san cho từng chiến sĩ để mang đi hành quân. Ai cũng mang đồ đạc nặng trịch.

Huỳnh để túi đồ lỉnh kỉnh ở góc cái sập tre rồi nằm xuống. Huyền Tuấn cũng chen vào một bên sập nằm cùng bạn.

- Cậu nghỉ để tối nay đi, mình đi cả đêm.

- Mình xuống dưới đó hẳn à? Tách cả tiểu đoàn mà đi, cũng khó đấy.

Hắn gác chân lên chân Huỳnh, hơi cao giọng.

- Tại cậu là lính mới nên chưa biết, chớ mình và Tương Hách đi nhiều rồi.

Mân Huỳnh hất thẳng chân. Cậu định đấm bạn một cái cho hả dạ, nhưng rồi thì thôi, chỉ ghì một bên vai hắn.

- Lính mới cái gì? Tao vào sau mày có một năm chứ mấy năm mà mới cũ?

- Một năm là mười hai tháng đó chời, người ta đánh đấm cả chục trận rồi mày mới vô tới.

Nghe Tuấn nói, cậu đấm luôn vào bên vai một cái, hắn co mình xong lại gác chân lên người cậu ngủ ngon ơ.

Ngoài cửa hầm, Tương Hách nằm trên võng. Ngày mai tiểu đoàn sau sẽ được bố trí đến các hầm phía trước, gần hầm của chính ủy và chỉ huy hơn. Hôm nay là ngày cuối ở đây, Hách cứ đung đưa ngay cửa hầm, nhìn xung quanh lác đác hố bom, một nửa bụi tre đã tàn, mấy căn hầm sập. Sau này không biết bao giờ được về đây đóng quân nữa, mà cũng chẳng biết còn về được không. Đời người lính chưa biết sống chết, chưa biết nơi đi chốn về.

2.
Đoàn quân đi trong đêm, đi thành một hàng dài, người trước tới người sau. Tiểu đội 1 lần này không đi đầu mà đi vào giữa, vì các chiến sĩ đều chưa thuộc đường, mà hơn nữa tiểu đội còn là lực lượng quan trọng trong đợt hành quân này nên phải được bảo toàn.

Bên dưới tiếng bước chân vang lên đều đều, như vực dậy cả rừng cây. Bước qua đám lá xào xạc, bước qua nhánh cây khô đánh rắc, mỗi bước như hoà âm cho bản nhạc trong đêm đen. Trên trời, đoạn bọn chúng thả bom gần như trụi lá cây, hố bom lởm chởm cạnh lối đi, đoạn cây còn lá xanh, hố bom cách nhau hơn vài chục thước nhưng tiếng máy bay ì ì ngay trên đầu. Có những đoạn hai, ba chiếc máy bay cứ lẩn quẩn, ta đành phải dừng để chờ cho chúng tản đi vì sợ đoàn quân hơn nghìn người này cứ đi tiếp sẽ bị phát hiện.

Ta cứ đi đêm rồi nghỉ ngày, những đêm trời tối, không trăng ta càng đi nhanh và dễ, đêm nào có trăng thì đi chậm, trăng tròn thì phải nghỉ hẳn. Mỗi khi thấy trời hơi tỏ, chỉ huy cho chiến sĩ tìm chỗ nhiều cây, nhiều tán, dựng tạm lán, mắc võng để nghỉ. Nhiều khi nồi cơm chưa kịp sôi thì chiến sĩ đã ngủ gần hết, đến gần chiều thì dậy ăn vội nắm cơm nguội rồi đi tiếp. Với vài người, đi cả đêm thì giấc ngủ quý hơn nắm cơn nóng, vì ngủ đủ thì đêm hành quân nhanh, chứ cơm thì ăn nguội cũng như nóng.

Riêng Tương Hách, lần nào anh cũng cố thức chờ anh nuôi vo gạo nấu cơm rồi mang mấy nắm cơm gói lá về bắt chiến sĩ trong tổ ăn ngay, mà chỉ ăn nửa, vì ăn hết chiều đói lại chẳng có gì mà ăn.

Lần này cũng vậy, anh cầm trên tay ba nắm cơm bước vào lán, đá đá vào võng hai người đồng đội.

- Thức, ăn đi. Để bụng đói mà ngủ thì đau bụng chết.

Anh bẻ nửa nắm cơm bỏ hết vào miệng, nửa còn lại gói trong miếng lá, bỏ vào bồng sau đó cũng nằm ngủ.

Võng Tương Hách mắc sát Huyền Tuấn, vì anh thích thế. Mình Tuấn lúc nào cũng nóng như máu đang sôi trào dưới da. Từ hồi nhập ngũ, mùa gió bấc, đêm nào anh cũng thấy lạnh vì chỉ có mỗi cái chăn mỏng, nhưng sau chuyển sang tổ một, mỗi đêm rét cứ nhích vào nằm kế hắn cho đỡ.
_

Đoàn quân đi hết chín đêm mới đến vị trí đóng quân của cả tiểu đoàn. Riêng tiểu đội 1 chỉ nghỉ một ngày để chờ chiến sĩ liên lạc lên đón. Chính trị viên đến từng tổ để nhắc nhở nhiệm vụ và động viên, còn với tổ 1 vì phải tách hoàn toàn với đồng đội nên có thêm một chiến sĩ được bố trí vào tổ từ đại đội đang ở ngay địa phương đó.

Cậu nhóc nhỏ tuổi, nước da còn hơi trắng hệt như vừa bước từ trường học vào chiến trường lại chính là chiến sĩ liên lạc ở cái vùng địch - ta lẫn lộn này. Em không đội mũ cối, mà đội chiếc mũ tai bèo rộng vành, hai vai không súng, bồng nhẹ hều nảy theo bước chân. Khi các chiến sĩ của tiểu đội đã chuẩn bị xong xuôi, em tạt qua bên chào anh cán bộ rồi mới đi. Chắc người quen.

Cái nét mới mẻ này, cả ba đều chưa từng thấy. Lần đầu vào Nam mà không đánh, không trận địa thế này. Lần đầu hành quân vắng người, vắng những tiếng chửi của anh em. Và lần đầu, giữa những khuôn mặt đen nhẻm, những thân hình gầy gò, những mũ cối súng trường lại có chiếc mũ tai bèo cùng gương mặt hơi tròn và dáng đi như mấy đứa con nít.

Huyền Tuấn bước lên trước để nói chuyện với em.

- Em làm liên lạc từ hồi nào?

Một giọng đậm Sài Gòn mà ít khi hắn nói.

- Em đi từ năm ngoái, tại các anh chị hi sinh nhiều quá.

- Chứ trước em làm gì, hay còn đi học?

- Em đi học.

Hắn bẹo má đứa nhỏ, nhìn cái má cưng hết biết, rồi quay ra sau nói với đồng đội.

- Thương quá, nhìn vầy ai nỡ bắn hở các anh?

Huỳnh cũng bước lên trên, đi ngang với đứa nhỏ.

- Em tên gì đó?

- Dạ Hữu Tề, mà anh chị toàn gọi là Út.

- Em nhỏ nhất hả?

- Dạ, em mười bảy, nhỏ nhất trong xã này rồi.

Thằng nhỏ vừa trả lời các anh mà cái miệng vừa cười, chắc em thích các anh. Chân bước được vài bước lại nhảy, cái bồng sau lưng nảy lên xuống liên tục.

- Em để gì trong bồng mà nhẹ thế?

- Em đựng giấy tờ với nắm cơm.

- Sao em không để tạc đạn, mà cũng không mang súng.

- Mấy anh là bộ đội thì có súng rồi, em đem chi cho nặng.

Một anh bước lên câu cổ em.

- Em không mang súng phòng khi gặp địch còn có cái để đánh.

- Thôi, gặp nó thì cố lẩn đi, để nó thấy làm gì.

Nghe em nói, ai cũng cười với cái nét ngây ngô. Tuấn quay sang vỗ vỗ đầu.

- Ai nuôi mà tốt dữ, ông nhỏ này đi lính mà trông cưng quá.

- Dạ, anh em nuôi.

- Vậy vô trong này ở với anh hả? Ba má em có trông không, thương quá, chắc ở nhà má cưng lắm.

- Ba má em ở trong ấp chiến lược*, em không vô trong đó được, mà có mấy anh vô, gặp má giùm em.

- Nhớ má không em?

- Có, nhưng em ở chung với mấy anh, anh thương em lắm.
_

Đi thêm một đoạn, đến một con rạch rộng ba, bốn thước, họ lấy trong bồng ra một tấm bạt rồi bỏ bồng, áo, quần, mũ vào trong, sau đó đội cái gói bạt lên đầu mà bơi qua. Trời đêm không có trăng, chỉ có mấy ngôi sao lúc ẩn hiện sau đôi cánh máy bay.

Qua con rạch, một loạt bom nổ ngay sau lưng, mặt nước chao đảo như đang oằn mình chịu từng tiếng nổ. Mặc kệ bom đạn trên đầu dội như mưa, họ vẫn cứ đi, đi mãi lẩn sâu vào rừng. Tề dắt từng tổ vào cứ, hướng dẫn một số hướng đi nối với nhau, rồi dắt tổ 1 càng đi sâu hơn. Đi mãi, làm Huyền Tuấn nghĩ, có khi đi đến bờ rừng bên kia. Hắn chợt hỏi.

- Một lát về đến cứ, em có ở lại với các anh không?

- Để coi anh Tư có chịu không, ảnh không chịu thì em phải lội xuống dưới huyện ủy.

- Sao đi xa dữ, em ghé lán tổ khác cũng được mà.

- Ảnh sợ nó rải bom, lần nào tới đợt nó đi quầng ảnh cùng bắt em xuống tuốt dưới kia.

Em đang định nói điều gì nữa, nhưng chợt đứng lại, nhìn quanh rồi rẽ. Đi thêm một đoạn hắn mới nhận ra có ánh sáng ở phía đó, dù chỉ mờ thôi.

Út chỉ tay về phía có ánh lửa nhàn nhạt.

- Kìa, lán mình đó, anh Tư nấu cơm cho các anh. Chắc anh Năm cũng tới rồi.

Cái tiếng gọi toàn số ấy, đã bẫng đi ba năm Tuấn mới được nghe lại, lòng nhớ về đất Sài Gòn, nhớ về ba má.

Từ xa, một dáng người cao cao ra đón họ, hoà vào bóng tối và những hàng cây san sát. Cậu cao và gầy, bộ quân phục rộng, loạt xoạt mỗi bước đi.

- Các anh vô trong đi. Đi nhanh để mình còn nói chuyện.

Lối dẫn vào lán toàn cây cao, xung quanh cái cứ mới này cũng toàn những cây cao và rậm, dưới mấy cái tán cây có mắc một tấm bạt lớn màu xanh hơi ngả nâu, nhìn từ trên như màu đất và lá lẫn nhau, hai bên có dựng một cái vách. Dưới tấm bạt có một cái bàn thấp, bốn cái ghế và một ấm nước. Ở góc giăng hai cái võng, sau là cái bếp Hoàng Cầm đang còn hơi ánh đỏ, cách bếp vài thước bên trái là cái hầm đào kĩ, khá rộng.

Một người khác đang ngồi ngay bếp, nhấc cái nồi đặt xuống rồi lại nhấc lên mang ra bàn. Người này có dáng thấp, gương mặt đẹp, ai cũng áng chừng chỉ lớn hơn thằng Út một hai tuổi. Nhất là Mân Huỳnh, cậu tự nhiên thấy tò mò, thích thích cái dáng nhỏ nhắn này. Chắc đi liên lạc nhanh lắm! Mà mặt mày coi bộ khó dữ lắm đây.

Một chén cháo lõng bõng nước, phần dưới đã hơi cháy do nấu quá lửa, nhưng đi từ xế đến đêm thì có là chén cháo nửa chín nửa sống ăn cũng ngon. Thoáng cái nồi cháo đã cạn. Tuấn đem nồi, bát ra mé sông rửa rồi định vô kiếm chỗ giăng cái võng. Tương Hách ngáp dài, trưa nay anh làm việc với đại đội trưởng nên không ngủ được. Quay qua vỗ Huyền Tuấn, nằm gần hắn có lẽ sẽ dễ ngủ hơn.

Chợt, cái người cao gầy vừa nãy lên tiếng.

- Các anh đã ăn xong, mình làm việc rồi hẵng nghỉ. Tôi tên Hiền Tuấn, năm nay hăm bốn, vì trong tổ cũng có đồng chí tên Tuấn, nên các anh cứ gọi tôi là Năm.

- Tôi tên Văn Huyền Tuấn, hăm hai tuổi.

- Lý Tương Hách, hai lăm, tổ trưởng.

- Tôi tên Lý Mân Huỳnh, hăm hai.

Mân Huỳnh thì đến chỗ cậu trai thấp người đang ngồi cùng thằng Út.

- Tôi tên Mân Huỳnh, chào đồng chí.

Người đang ngồi hơi giật mình, rồi cười nhát gừng.

- Tui tên Mân Tích, hay gọi Tư cũng được, du kích kiêm luôn cán bộ xã, chào anh.

- Thế cậu bao nhiêu tuổi rồi?

- Tui hăm hai.

- Thế lại bằng nhau cả đấy. Trong cứ này nhiều cái trùng hợp quá.

Tích cười, em đứng dậy lại gần Huỳnh, bắt tay cậu rồi đi ra sau chào hỏi với các đồng đội khác. Cả năm người đã biết tên, biết tuổi, bắt tay, chào hỏi với nhau mới bắt đầu tìm chỗ ngủ.

Mân Tích và Hiền Tuấn đã có chỗ ngủ. Tích nằm lên cái võng giăng sẵn. Trước khi ngủ còn dặn lại: "Thằng Út đi xuống dưới hầm mà nằm, không có ra ngoài này nghe chưa". Thằng nhỏ nghe anh nói thì hơi xụ mặt, người ta vừa làm quen bạn mới đã bắt tách nhau, nhưng mà vẫn nghe lời anh đi xuống hầm.

Phía bên kia lán, Huyền Tuấn chẳng biết mắc dây vào đâu cho gần anh nhất, Hách cứ gù gật, ôm cái chăn rách góc của hắn mà chờ. Ba người mới đến phải nằm phải ngoài tấm bạt vì chưa có chỗ, lỡ trời mưa xuống chắc ướt hết như chuột lột, còn hai "ma cũ" đã ngon giấc trên cái võng ngay gần bếp.

3.
Trời mưa thật, mới hơn ba giờ sáng, mưa mờ một khoảng trời, nước bên bờ sông dâng lên chỉ còn cách lán hơn vài thước. Máy bay chúng ngưng, bom ngừng nổ vì trận mưa dạo đầu mùa. Ở đây chỉ có mùa nắng và mưa. Mưa tầm tã, mưa mờ mịt, mưa ẩm đất, ẩm cây. Gió cuốn từng đợt lá bay vào người, vào mái lán chỉ độc miếng bạt. Cái mái cũng giãy giụa, cũng gào thét muốn rời mình khỏi cái cây, khỏi cái nhánh đang cột chặt với nó.

Hách và Tuấn nằm ngoài cùng, vừa ngủ vừa gác cứ. Trời mưa chỉ kịp chạy vào mái lán chứ không kịp tháo cái võng. Một lát đội mưa chạy ra lấy. Nó cũng đã trũng đáy toàn nước mưa và lá, lật lại mặt sau thì không đọng, nhưng trời mưa thế này, biết bao giờ khô nổi. Thì ngồi. Đành ngồi chứ sao. Ngồi vào góc trong nhất cho vắng tiếng gió mà ngủ. Mà ngồi thì chúng muỗi lại vui, chúng xúm xít lại hỏi thăm hai người mới. Hở cái là nghe tiếng chan chát từ tay Huyền Tuấn. Hắn chỉ ngồi được thêm lát thì đứng dậy đi vòng quanh lán. Còn Hách vẫn im ru, không ngủ nhưng anh cứ ngẩn ra, như đang nghĩ lắm chuyện trên trời dưới đất.

- Muỗi nó chẳng nựng anh à?

- Có, nhưng cái chăn cũng tạm.

- Đương lo cái chi mà khó thế?

- Đang tính coi chuẩn bị ra sao, tiểu đoàn đang tìm chỗ xuống, mình phải nhanh thôi. Đêm mai mình ra đồn luôn nhé.

Hắn gật gù ngồi xuống cạnh anh, lấy cái chăn quấn quanh người, ngáp ngắn ngáp dài. Hành quân thức đêm ngủ ngày, đôi khi thèm một giấc ngủ trong đêm tối trọn vẹn, đi đêm mắt cứ nhíu lại vì mệt.

Mấy người còn lại vừa tỉnh ngủ, mưa này không sao ngủ nổi, thằng Tư như đã quen, bước lại sắp củi đốt bếp lửa, hồi trước ở nhà cứ mỗi khi mưa má nó lại nấu bếp, giờ vắng má, nó vẫn cứ vậy.

- Anh Năm người chỗ ni, chắc đi sớm cũng được. Mà vô ấp kiếm gạo đã. Ăn một bát gạo bốn năm bát nước như ri chịu sao thấu.

- Cho thằng Huỳnh với thằng Tư đi. Mang về cho từng cứ.

Mân Tích đang cặm cụi với cái bếp nghe nhắc mình thì ngẩng lên. Nó nhìn qua Huỳnh quay lại nói với anh.

- Em đi thì được, chứ Mân Huỳnh đi thì khó. Ấp nhiều thằng gác, chó dữ lắm. Nó sủa thì chạy đằng trời.

- Tớ là trinh sát chứ phải tay mơ mà cậu coi thường?

- Trinh sát hay tay mơ chó nó có ngửi được đâu, lần đầu tui đi chút nữa thì ở trong đó luôn rồi. Chưa kể gác nó canh đủ hướng, mà nhà người ta cũng ngại mở của cho mình.

- Chuyện vào ấp có bao giờ dễ mô, nhưng mà mày đi một mình rinh chi nổi gạo, chưa kể lội sông xa chứ chẳng chơi. Bình thường, hai, ba người thì một hai kí, chừ hơn chục người, thì phải cả chục kí, thêm súng thêm đạn, thêm cả đồ bà con cho nữa nờ, thôi để thằng Huỳnh đi chung.

- Anh thấy đi hai người mới chắc chắn, có chuyên gì hai đứa bảo nhau cũng dễ, em cứ để Huỳnh theo để xoay sở. Còn lại tối nay đi thăm đồn, mình xuống mà chưa nắm được tình hình gì hết, Huyền Tuấn và thằng Năm đi cùng anh.

- Còn em?

Thằng Út ngơ ngác nghe các anh phân công việc, chờ mãi phần mình mà không có.

- Em ở giữ cứ. Chúng dội bom thì xuống ngay hầm, để thiệt hại vì chủ quan là ngu, rõ chưa. Các anh sẽ thảo lại bản đồ ngay khi về cho em đi.

- Vẫn giữ cứ?

- Ừ. Thôi em xuống ngủ tiếp đi, để tối còn canh cứ, rồi còn đi ngược lên trên tiểu đoàn.

Tương Hách thấy thằng nhỏ hơi buồn thì dỗ ngay. Anh biết cái căm thù trong em to lớn, nhưng em vẫn còn nhỏ xíu giữa những bom đạn của miền đất đỏ lửa.
_

Mưa từ đêm đến khi trời sáng, có lẽ cơn mưa đầu mùa đang chào đón những người bạn thân thương ở xa mới đến. Vài chị, vài má liên lạc đã biết quân giải phóng về tới đất này. Họ cũng muốn tìm ra để gặp. Nhưng cứ mưa thế này thì khó.

Nay thằng Tư đội mưa ra chợ, nó ở đây quen mặt, các má hỏi thăm, gửi đồ vào cho đội. Lại có má kêu ra nhà, má giấu, má nuôi, vì con má cũng đi lính, đã hi sinh rồi.

Nghe kể lại chuyện, mấy đứa nao nao trong lòng. Giữa đất miền Nam đầy xương máu, có lẽ con của má đã thành nắm đất nóng nâng bước những đoàn binh cháy bỏng, và những đoàn binh ấy cũng hoá đứa con của bà mẹ Việt Nam anh hùng.
_

* : tui viết bối cảnh mùa mưa năm 1969, lúc này là giai đoạn đầu của chiến dịch "Việt Nam hóa chiến tranh", tên gọi ấp chiến lược thì rơi vào giai đoạn "chiến tranh đặc biệt", nhưng tui thấy tên gọi này hợp hơn là các tên khác nên vẫn viết.

kháng chiến khá khó với tui nma ôm mộng lâu nay không nỡ bỏ. còn nhiều sai sót lắm :<

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com