Truyen2U.Net quay lại rồi đây! Các bạn truy cập Truyen2U.Com. Mong các bạn tiếp tục ủng hộ truy cập tên miền mới này nhé! Mãi yêu... ♥

XVII.

Xin chào, tớ là Lece. Và bài hát dành cho chương ngày hôm nay mang tên:
Thay Doi — Thịnh Suy.

˖ ✧ ⋅˚₊‧ ۶ৎ ‧₊˚ ⋅ ✧ ˖

25/12/1996.

Khi thức dậy vào ngày hôm sau, việc đầu tiên Crowley làm là dằn xuống sự chộn rộn hệt như một đàn ong vo ve tiêm chích khắp nơi trong bụng. Gã thơ thẩn vươn người khỏi chiếc giường lạnh lẽo chỉ để cảm nhận dưới lòng bàn chân một mặt sàn lát đá cẩm thạch lạnh lẽo hơn, hai tay vẫn đặt trên giường, bên đùi mình, và đầu cúi xuống. Hôm qua, gã đã nói. Gã đã nói thứ gì đó có thể là thứ mà gã không được phép gọi tên, hoặc cũng là thứ gì đó từ lâu vẫn luôn kiên trì gặm nhấm đầu lưỡi cho đến khi gã khuất phục và để nó bật ra từ vòm họng gã, mong nó bay nhảy theo cơn gió đông phần phật rồi biến thành những âm thanh chấp chới không thể phân tách khỏi tiếng gió rền.

Dẫu sao thì gã cũng đã nói rồi.

Vậy mà, trong khoảnh khắc này, gã vẫn còn băn khoăn. Gã để tay siết lấy ga trải giường một cách vô thức, để mắt nhìn đăm đăm vào mặt đất trống rỗng, để hơi thở nghèn nghẹn tuôn khỏi phổi như lặng lẽ tháo đi nút buộc duy nhất của cái bong bóng sinh mạng mình. Gã chẳng biết tất thảy là do gã còn đang say ngủ, hay bởi chỉ trong một khoảnh khắc, gã không tin. Không tin bản thân vừa chạm tay đến viên ngọc sáng hạnh phúc, để cảm nhận những khía cạnh sắc nhọn của nó rạch ngang đầu ngón mình mà không rướm máu, hoặc chưa rướm máu, mà chẳng phải trả một cái giá đắt đỏ nào.

Mở mắt ra rồi, tiếng yêu ấy có thật sự theo ngọn gió bay mất hay không?

Gã biết, và gã tự nhủ mình rằng gã biết, chuyện đêm qua là thật. Những cái chạm tay, siết lấy, nắm chặt, ghì vào là thật. Những nụ hôn lướt như cánh hoa lan vô tình rơi lên đầu môi là thật. Những ánh nhìn ấm áp, đường mật, rong ruổi là thật. Giấc mơ ấy tồn tại một cách vô cùng hồn nhiên, đến mức gã mơ hồ muốn nắm lấy tim mình, cảm nhận xem liệu sau cơn dư chấn ấy nó có còn tiếp tục bơm máu.

Crowley rời nhà khi trời vừa hửng nắng, cái loại nắng nhợt nhạt và yếu ớt bị che đậy dưới lớp áo màu trắng xoá của mùa đông. Gã đến một cửa hàng đồ gia dụng, quyết tâm mua thêm thật nhiều ly tách. Cũng ngay khi ánh mắt Crowley tình cờ rơi lên một bộ trà cụ màu ngà trắng, gã quyết định sẽ hủy chuyến đi đến cửa hàng quà tặng và mang thứ ấy về nhà trong một tờ giấy lộn xộn màu mè.

Gió rất mạnh phía bên ngoài khung cửa sổ. Crowley biết điều đó khi gã lang thang trên con đường quen thuộc đi tới công viên thánh James, nhìn tuyết rơi phủ đầy vai áo với đôi tay lạnh cóng giấu nhẹm trong túi mình. Nơi này vắng hơn cả khi mùa mưa đến, mà ở London thì lúc nào chẳng là mùa mưa. Crowley đưa chân đi một cách tự do và phóng khoáng đến mức gã bất ngờ nhận thấy mình chưa bao giờ làm thế, bởi gã vẫn luôn chạy, chạy và chạy theo những nẻo đường in hằn trong tấm bản đồ thu gọn nhét đâu đó giữa thùy não trái và phải. Phóng thật nhanh bằng con xe mà gã hết sức yêu chiều, gã lặp đi lặp lại chu trình từ căn nhà buồn tẻ đến văn phòng ảm đạm, bào mòn sức khỏe và tinh thần cho cạn kiệt rồi lại lần nữa quay trở về căn nhà buồn tẻ để giết một ngày, tới khi mở mắt ra lần nữa và tái tạo cái chu trình vĩnh hằng đó.

Cho đến hôm nay.

Crowley đã từ lâu không nhận thấy rằng, dù cho mình có ba hoa khoác lác về sự bất cần đời thế nào thì Anthony Crowley cũng khiến gã phải sống chết đuổi theo cái khái niệm mang tên "phấn đấu". Gã liên tục tuân thủ một lối sống bận bịu vô cùng mê hoặc, thứ có thể kéo gã ra khỏi nỗi cô đơn thường trực khi gã phải nhìn vào chiếc ly uống rượu duy nhất trong nhà mình. Và bởi vì đã bỏ bê bản thân không thương tiếc, gã không thể giấu đi sự bàng hoàng khi phải đi theo một lối sống chậm, dai dẳng và hiền hoà vào mùa đông này do hiện thực phũ phàng mà Beez đã vạch ra trên lịch trực lễ. Mà gã thậm chí bàng hoàng hơn nữa vì gã chẳng còn có thể giấu đi sự tệ hại và ngu ngốc hệt một con lợn đất chỉ biết chúi mũi tìm kiến vàng phía sau tấm màn "bận rộn" trước mặt Ezra.

Có lẽ như thế lại tốt hơn, theo một cách nào đó. Vì đối với gã, đêm qua chính là đêm đẹp nhất cuộc đời.

Crowley rút tay khỏi túi áo, phủi đi lớp tuyết dày trên bề mặt chiếc ghế hướng ra bờ hồ. Gã biết rằng đặt mông lên đó là một ý kiến tồi, nhưng ngồi xuống thì lại là một ý kiến không tồi, đặc biệt là khi gã đã vì lí do quái dị nào đó đi thẩn thơ suốt cả buổi sáng dưới tiết trời lạnh cóng. Lạnh đến mức khi thấy những con thiên nga trắng mải miết rỉa lông trên mặt hồ và lướt đi một cách vô cùng nhàn nhã, Crowley đã nhăn nhó trách chúng ngu xuẩn. Gã chắc chắn sẽ đắc chí khi mỗi con trườn lên bờ hồ với đôi chân mái chèo bị đông đá thành hai tảng băng to.

Nói là thế, nhưng sáng nay tuyết rơi mỏng hơn nhiều. Đủ mỏng để không đông đá chân bọn nó.

Cùng lúc ý nghĩ đó bật lên trong đầu Crowley, một bà lão với cây gậy chống bằng gỗ lim đầu tròn chẳng biết vì lí do gì đã hiên ngang tiến đến quét tuyết khỏi phần ghế bên cạnh gã và ngồi xuống. Gã quay đầu nhìn. Bà có khuôn mặt phúc hậu trắng ởn, đôi mày già nua bạc màu theo mái tóc đỏ xen lẫn những sợi trắng. Crowley tự hỏi, mái tóc kia còn có thể đỏ hơn được nữa khi bà còn trẻ hay không, rồi chun mũi phủ định mình vì chuyện đó thì có liên quan gì đến gã.

Bà lão đặt chiếc gậy của bà tựa vào một bên ghế. Trước khi Crowley kịp thốt lên bất cứ âm thanh nào, bà đã cất lời, đôi mắt nâu hạt dẻ đùng đục chĩa vào bờ hồ phía xa xa.

"Chúc một ngày Giáng sinh an lành, chàng trai trẻ."

Crowley có hai câu hỏi. Một là, tiếng gọi "chàng trai trẻ" này được tạo ra thật sự vì gã trông trẻ hay chính bà là người đã già? Hai là, có phải Giáng sinh là dịp gì đó khiến người ta đột ngột bắt chuyện với kẻ lạ mặt, mà thậm chí còn trong khung cảnh không mấy lí tưởng như ở ngoài trời gió, mùa đông, trên một cái băng ghế gỗ đóng tuyết lạnh đến ê mông như thế?

Và giữa hai câu hỏi đó, Crowley lại chẳng chọn thốt ra câu nào.

"Vâng, thưa quý bà."

"Thật xa cách, anh biết không. Kiểu gọi đó." Bà lão lắc đầu, vẫn chưa nhìn vào Crowley. "Ta biết anh cảm thấy bức bối vì sự hiện diện của ta, nhưng Joseph bé nhỏ đang xây một căn lều tuyết cho người bạn dễ tan chảy của cậu ấy và thân già này không tìm ra cách khác để chống chọi với sức đẩy của gió đông."

Crowley cảm nhận được những làn sóng run rẩy bởi cái lạnh trong lời nói của bà lão. Lòng tốt không phải là một từ gã dùng để miêu tả những phẩm chất của mình, nhưng bất chợt một sự mong muốn mơ hồ nào đó thúc đẩy gã rằng gã nên mau mau cởi áo khoác đưa cho bà. Gã không làm thế, đương nhiên, vì phép lịch sự. Thay vào đó, gã nhìn về phía sau lưng để thấy một cậu bé với mái tóc đỏ au hệt bà lão đang hí hửng nghịch tuyết, bên cạnh là một người tuyết đần độn với mắt miệng làm từ sỏi và tay làm từ nhánh cây khô.

"Vậy thì, thưa bà, bà cho rằng tôi nên gọi bà như thế nào để có thể trông thật sự tử tế?" Crowley nói khi đã quay đầu lại.

Bà lão cười. Tiếng cười giòn như bánh quy yến mạch chấm sữa nóng.

"Người ta thường gọi ta là Mary. Mary già nua với cây gậy chống."

Crowley thở ra.

"Vậy thì, bà Mary già nua với cây gậy chống, tôi rất bất ngờ khi phải nói rằng tôi cảm thấy không quá bức bối với sự xuất hiện của bà."

Thế là, bà giương đôi mắt mờ phía sau gọng kính hình bán nguyệt sang gã. Cũng dưới lớp kính râm đen tối của mình, gã trong vô thức nâng đuôi mắt. Có lẽ gã đang cười hoặc đang bày ra một bộ mặt gượng ép đến khó tin. Chỉ có bà lão biết được, dù rốt cuộc bà lại không tỏ ý kiến gì về chuyện đó.

"Ta có thể thấy thế." Thay vào đó, bà nói. "Và anh có đang băn khoăn điều gì chăng? Ôi, đừng nhìn ta như thể chuẩn bị hét 'phù thủy' và mang ta lên giàn thiêu. Ta có tuổi đời và ta đang đọc được những chữ đó trên khuôn mặt anh, chàng trai trẻ."

Lại là 'chàng trai trẻ', dù Crowley không bận tâm lắm vì lời bà thốt ra khiến gã dần quên mất hai câu hỏi ban đầu.

"Có gì đó khác đi, phải không?" Bà nói, trong khi gã còn chưa sắp xếp xong câu trả lời. "Anh trông thật giống như một người vừa phải đối mặt với hiện thực nghiệt ngã nào đó."

À, phải rồi. Hiện thực thì đúng. Mà có nghiệt ngã không? Gã chẳng biết nữa. Có chăng đó là lí do gã vẫn còn quẩn quanh trong trời tuyết giờ này?

"Tôi vừa... đưa ra quyết định gì đó làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời mình. Tôi cũng không biết bản thân nên cảm thấy thế nào." Crowley thừa nhận.

Bà lão nhìn gã với một thái độ mơ hồ vô cùng, thậm chí gã còn phải tự hỏi bà có đang nghe gã nói hay không. Đột nhiên, bà quay đầu đi, nhìn vào cậu bé đang loay hoay xây được nửa căn lều tuyết phía bên kia công viên.

"Joseph mất cha trong một vụ tai nạn lao động từ khi nó mới được hai tuổi. Mẹ thằng bé đã lấy chồng khác, có một gia đình êm ấm, để thằng bé sống trong sự thù ghét của cha dượng suốt tám năm mà không có lấy một chút can dự nào." Bà lại nhìn gã. "Ngày này năm trước, mẹ thằng bé đến thăm ta, mang theo Joseph và nói rằng muốn cho nó gặp ta lần cuối trước khi cả gia đình họ rời khỏi đất nước này."

Crowley vẫn ngồi im lặng, lắng nghe câu chuyện ngẫu hứng về cuộc đời một người lạ mặt mà gã, có lẽ, sẽ mãi mãi chẳng bao giờ thèm quan tâm.

"Nó nhất quyết ở lại với ta, dẫu mẹ nó có cảnh cáo rằng ta đã già và sẽ không thể mãi bên nó. Nếu..." Bà thở dài. "Khi ngày đó đến, nó sẽ không thể cầu cứu gia đình họ. Vì họ sẽ không quay lại."

"Khi ngày đó đến..." Crowley cảm thấy bản thân không thể tự mình điền vào phần còn thiếu của câu.

"Joseph sẽ nằm trong diện chăm sóc thay thế, với số tiền nuôi dưỡng được mẹ nó chu cấp cho đến khi nó tròn mười tám tuổi và thừa hưởng chỗ tài sản con trai ta để lại."

Crowley nhìn chằm chằm vào bà lão sau cặp kính râm. Gã mơ hồ tưởng tượng được, nếu như gã là một kẻ có lòng trắc ẩn thâm sâu như Ezra, đây là lúc gã nên thể hiện sự cảm thương chân thành đối với câu chuyện xúc động vừa rồi. Phải, gã nên làm thế, thay vì đặt một dấu chấm hỏi to đùng lên những gì bản thân vừa nghe và khẽ nâng đuôi mày như một kẻ láo xược.

"Vậy... Joseph còn bao nhiêu thời gian nữa?" Gã chớp đôi mắt khô mỏi. "Hay đúng hơn, bà còn bao nhiêu thời gian nữa, bà Mary?"

Bà lão cười, hiền từ như bước ra từ trong một quyển truyện cổ tích.

"Chuyện đó thì có quan trọng gì?" Bà nhìn sang chiếc lều tuyết yếu ớt sắp ngả đổ của Joseph phía xa xa. "Quan trọng là thằng bé đã kiên quyết chọn bà của nó, như một người trưởng thành có chính kiến thực thụ. Và nó sẵn sàng đối mặt với mọi thứ rủi ro chỉ để tận hưởng những niềm vui mà nó khao khát. Anh không cảm thấy sống như vậy rất dũng cảm sao?"

Crowley nhìn bà lão, bần thần. Gã muốn nói gì đó, nhưng quanh đi quẩn lại trong đầu chỉ có những bông hoa tuyết, rốt cuộc gã vẫn chọn im lặng lắng nghe.

"Cuộc đời là một mê cung với rất nhiều ngã rẽ. Ta chẳng thể biết trước kết quả, phải không? Thay vì nơm nớp lo sợ một nỗi đau chưa đến, chi bằng cứ chấp nhận đối diện với nó đi?"

Giọng bà lão nghe thật êm tai. Crowley cảm thấy lời nói của bà rót vào đầu gã tí tách như nước rơi từ mái hiên xuống cái chum sành, đến khi tràn đầy, đến khi vỡ oà, và đến khi nổ bung bét.

"Chúng ta là con người, có ý chí và khả năng để đưa ra quyết định. Việc của chúng ta chính là không được hối hận về quyết định này. Ta không nên dành thời gian quý báu chỉ để giằng xé bản thân, giống như dẫu cho điểm đến của con người là cái chết thì họ cũng không thể vì thế mà sống trong đau khổ."

Bà đặt tay lên tóc Crowley, xoa xoa như thể đang cưng nựng một đứa trẻ.

"Joseph chọn tin vào hiện thực, miễn là nó đang có được hạnh phúc. Anh cũng làm được mà phải không, chàng trai trẻ?"

Crowley không cảm thấy gì, thậm chí khó chịu vì bàn tay kia đang làm rối tung rối bù mái đầu gã cũng không. Gã chỉ là một cái chum sành vừa được đổ tràn đến vỡ tan, cho tới khoảnh khắc nhận thức ập về và gã đột ngột phát hiện cơ thể của mình biết cách gật đầu.

Bà lão vui vẻ cười với gã, tay bà hạ xuống đặt lên chiếc gậy chống.

"Nếu không về ngay, anh sẽ để lỡ mất bữa trưa Giáng sinh đấy, anh Crowley."

Gã đang định giúp đỡ bà đứng dậy, vì một lời nói này mà cả người căng cứng.

"Ra đó là lí do vì sao bà không hỏi tên tôi."

"Tên anh rải đầy khắp trên mặt báo. Còn mặt anh thì chỉ xuất hiện vài lần, nhưng những kẻ già nua như ta thì còn việc gì khác để làm ngoài nheo mắt mân mê mấy tờ giấy đó nữa?"

Crowley cười, một nụ cười thật lòng đến khó tin.

"Vâng, cảm ơn bà, Mary già nua với cây gậy chống. Chỉ là chúng tôi hẹn nhau vào bữa tối và vô tình để lỡ bữa trưa mất rồi."

"Vậy thì chúc anh có một buổi tối hạnh phúc." Bà lão đứng dậy, cây gậy trở nên vững chãi đáng ngờ.

Crowley không đỡ tay bà, vì gã biết bà không cần chúng. Gã gật đầu lễ phép thay lời tạm biệt rồi nhìn bà đi khỏi, sau đó ra nhớ ra một điều, đành gọi với theo khi bà đã dắt tay Joseph và bỏ lại cái lều tuyết tạm thành hình mà lụp xụp của cậu bé.

"Bà Mary!"

Tay gã giơ cao, vẫy vẫy. Hai người phía xa sững bước, quay đầu.

"Giáng sinh vui vẻ!" Gã hét. Thật sự là hét, vì khoảng cách giữa họ rất lớn và gã thật sự muốn hai người kia nghe thấy được.

Mà dù cho là phía sau chiếc kính râm đen xịt, Crowley vẫn thấy bà lão cười mỉm. Bà gật đầu với gã, cúi xuống nói điều gì với Joseph và thằng nhóc ngẩng lên, nở một nụ cười hăm hở về phía Crowley.

Trái tim gã vẫn còn đang đập thình thịch trong lồng ngực khi cả hai người, một lớn một bé, nắm tay nhau rời khỏi công viên. Gã có cảm giác giống như một trang giấy bâng quơ sắp bị gió thổi bay xuống hồ thì vô tình được một nhành cổ thụ cao giữ lại, để mặc gã có thể tự sức bám vào, níu kéo.

Trên đường rời khỏi chiếc ghế quen thuộc Crowley đã sắp xếp lại những câu từ xuất hiện trong não mình. Gã dường như vừa hiểu ra điều gì đó rất chân thật, một bước tiến mới để bản thân sẵn sàng đối diện nếu ngày đó đến.

À không. Khi ngày đó đến.

Bạn đang đọc truyện trên: Truyen2U.Com